vanban.org

Bản án 15/2019/HS-ST — Hình sự

TAND huyện Giồng Trôm, tỉnh Bến Tre Tuyên án 17/05/2019 Hình sự Sơ thẩm
Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Tuyên bố bị cáo Phan Thị Kim L phạm tội “Chống người thi hành công vụ”.

[1] Căn cứ khoản 1 Điều 330; các điểm i, p, s khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 36 Bộ luật Hình sự năm 2015 đã được sửa đổi, bổ sung năm 2017. Phạt: Phan Thị Kim L 06 (sáu) tháng cải tạo không giam giữ. Thời hạn chấp hành hình phạt cải tạo không giam giữ tính từ ngày cơ quan, tổ chức được giao giám sát… Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? án hình sự — "Phan Thị Kim L - phạm tội chống người thi hành công vụ (điều 330 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS năm 2015)"
  • Tòa quyết gì? Tuyên bố bị cáo Phan Thị Kim L phạm tội “Chống người thi hành công vụ”.
  • Căn cứ chính? Điều 51 Bộ luật Hình sự; Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự
TÒA ÁN NHÂN DÂN
HUYỆN GIỒNG TRÔM
TỈNH BẾN TRE

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 15/2019/HS-ST
Ngày: 17-5-2019

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN GIỒNG TRÔM, TỈNH BẾN TRE

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Ngoan

Các Hội thẩm nhân dân: Ông Nguyễn Văn Bé

Ông Nguyễn Đăng Quang

- Thư ký phiên tòa: Bà Phạm Minh Thơ - Thư ký Tòa án nhân dân huyện Giồng Trôm, tỉnh Bến Tre.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Giồng Trôm, tỉnh Bến Tre tham gia phiên tòa: Ông Phạm Trọng Vịnh - Kiểm sát viên.

Ngày 17 tháng 5 năm 2019, tại Trụ sở Tòa án nhân dân huyện Giồng Trôm, tỉnh Bến Tre tiến hành xét xử công khai vụ án hình sự thụ lý số: 12/2019/TLST-HS ngày 14 tháng 3 năm 2019 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 13/2019/QĐXXST-HS ngày 10 tháng 4 năm 2019 và Quyết định hoãn phiên tòa số 04/2019/QĐST-HS ngày 25 tháng 4 năm 2019 đối với bị cáo:

Phan Thị Kim L, sinh năm 1963 tại Bến Tre.

Tên gọi khác: không.

Nơi cư trú: ấp C, xã M, huyện G, tỉnh Bến Tre; nghề nghiệp: mua bán; trình độ văn hóa (học vấn): không biết chữ; dân tộc: Kinh; giới tính: Nữ; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Phan Văn B (đã chết) và bà Trương Thị T; Chồng Nguyễn Hữu P, sinh năm 1953; Con: 01 người sinh năm 1990; tiền án: Không; tiền sự: Không; nhân thân: Tốt; Bị cáo bị cấm đi khỏi nơi cư trú từ ngày 21/01/2019 cho đến nay, tại ngoại (Có mặt).

- Người bào chữa cho bị cáo: Bà Đoàn Hồng H - Trợ giúp viên pháp lý Tộc trung tâm trợ giúp pháp lý Nhà nước tỉnh Bến Tre. (có mặt)

- Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan:

+ Trần Xuân B, sinh năm: 1982. Nơi cư trú: ấp K, xã P, huyện G, tỉnh Bến Tre. (có mặt).

+ Đoàn Minh Th, sinh năm: 1988. Nơi cư trú: ấp G, xã P, huyện G, tỉnh Bến Tre. (có mặt).

+ Đặng Tâm T, sinh năm 1987. Nơi cư trú: ấp G, xã P, huyện G, tỉnh Bến Tre. (có mặt).

- Người làm chứng:

+ Nguyễn Thị O, sinh năm 1990. Nơi cư trú: ấp C, xã M, huyện G, tỉnh Bến Tre. (có mặt).

+ Nguyễn Thị T, sinh năm 1947. Nơi cư trú: ấp C, xã P, huyện G, tỉnh Bến Tre. (vắng mặt).

+ Mai Thị Thủy, sinh năm 1965. Nơi cư trú: ấp N, xã M, huyện G, tỉnh Bến Tre. (có mặt).

+ Lê Thành T, sinh năm 1976. Nơi cư trú: ấp C, xã P, huyện G, tỉnh Bến Tre. (có mặt).

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Thực hiện Kế hoạch số 117/KH- CAX ngày 12/12/2018 của Công an xã P, huyện Giồng Trôm về việc tăng cường công tác tuần tra kiểm soát, giải tỏa giao T đảm bảo an ninh trật tự, an toàn giao T tết Nguyên đán Kỷ Hợi 2019. Vào khoảng 07 giờ ngày 07/01/2019, tổ tuần tra gồm: Trần Xuân B – Phó trưởng công an xã, tổ trưởng; Đoàn Minh T – Công an viên thường trực, tổ viên; Đặng Tâm T – Công an viên phụ trách ấp, tổ viên tiến hành thực hiện nhiệm vụ theo kế hoạch (tổ tuần tra làm nhiệm vụ mặc trang phục Công an nhân dân đúng quy định). Khi đến khu vực chợ tự phát Tộc ấp Cầu Hòa, xã P, huyện Giồng Trôm, tỉnh Bến Tre tổ tuần tra phát hiện Nguyễn Thị O bày bán rau, củ, quả lấn chiếm hành Lg an toàn giao T. Tổ tuần tra tiến hành lập biên bản vi phạm hành chính. O không chấp hành dùng nhiều lời lẽ thô tục xúc phạm, khiêu khích tổ tuần tra. O điện thoại cho mẹ ruột là Phan Thị Kim L nói “nó bắt đồ con rồi” và tiếp tục bày hàng hóa phía ngoài cột mốc lộ giới để buôn bán. Tổ tuần tra tiến hành T giữ những dụng cụ mà O đang bày bán lấn chiếm thì O dùng tay kéo lại. Sau khi nghe điện thoại của O, bị cáo L biết rõ lực lượng chức năng đang tiến hành xử lý hành vi lấn chiếm hành Lg an toàn giao T của O, bị cáo chủ động đến hiện trường, liên tục dùng lời lẽ thô tục xúc phạm đến lực lượng đang làm nhiệm vụ. Bị cáo L cầm một cái mũ bảo hiểm tiến lại vị trí ông B đang đứng, dùng tay trái nắm cổ áo ông B, lúc này ông B nói “bây giờ chống người thi hành công vụ ha gì”, bà L trả lời “Ừ”, liền sau đó bị cáo L dùng tay phải đang cầm mũ bảo hiểm đánh liên tục nhiều cái vào vùng đầu, cổ ông B. Tổ tuần tra khống chế bị cáo L. Trong lúc bị khống chế, bị cáo L vẫn kháng cự, dùng tay nắm cổ áo làm đứt khuy áo, xé rách túi quần bên trái của ông B đang mặc, dùng miệng cắn vào cánh tay trái của ông B gây thương tích. Sau đó, tổ tuần tra báo cáo về Công an xã P đến hiện trường tiến hành lập biên bản bắt người phạm tội quả tang đối với Phan Thị Kim L.

Vật chứng T giữ gồm có:

+ 01 USB, dung lượng 08GB, bên trong ghi lại hình ảnh Phan Thị Kim L chống người thi hành công vụ, kèm theo hồ sơ vụ án.

+ 01 áo trang phục công an xã nam bị đứt khuy áo thứ hai từ trên xuống, trên tay áo bên trái có lôgô công an xã màu vàng xanh;

+ 01 quần trang phục công an xã bị rách túi quần bên trái kích thước (25 x 13)cm;

+ 01 mũ bảo hiểm màu hồng loại mũ nửa đầu, trên hai bên mũ có chữ “MAI THẢO” màu đỏ.

Theo Bản kết luận giám định pháp y về thương tích số 35 - 0119/TgT ngày 18/01/2019 của Trung tâm giám định pháp y tỉnh Bến Tre kết luận về thương tích của Trần Xuân B như sau:

1. Dấu hiệu chính qua giám định: vết bầm, sưng mặt trong cánh tay trái kích thước (03 x 01)cm, hiện còn vết bầm máu kích thước (03 x 03)cm.

2. Tỷ lệ phần trăm tổn thương cơ thể do thương tích là: 01%.

Bản cáo trạng số: 12/CT-VKS-HS ngày 14/3/2019 của Viện kiểm sát nhân dân huyện Giồng Trôm truy tố Phan Thị Kim L về tội “Chống người thi hành công vụ” theo quy định tại khoản 1 Điều 330 Bộ luật hình sự.

Tại phiên tòa, Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Giồng Trôm giữ nguyên quan điểm truy tố và đề nghị Hội đồng xét xử:

Tuyên bố bị cáo Phan Thị Kim L phạm tội “Chống người thi hành công vụ”.

Áp dụng khoản 1 Điều 330; điểm i, p, s khoản 1 Điều 51; Điều 36 Bộ luật Hình sự 2015 đã được sửa đổi, bổ sung năm 2017. Xử phạt bị cáo Phan Thị Kim L từ 06 tháng đến 09 tháng cải tạo không giam giữ, miễn khấu trừ T nhập cho bị cáo, do bị cáo là người khuyết tật nặng.

Về trách nhiệm dân sự: Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đến vụ án không yêu cầu bị cáo bồi thường nên không đề cập.

Về xử lý vật chứng: Áp dụng Điều 47 Bộ luật hình sự năm 2015 đã được sửa đổi, bổ sung năm 2017, Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự, tuyên trả lại cho ông Trần Xuân B 01 áo trang phục Công an xã nam bị đứt khuy áo thứ hai từ trên xuống, bên tay áo bên trái logo Công an xã màu vàng xanh; 01 quần trang phục Công an xã bị rách túi quần bên trái kích thước 25cm x 13cm. Tịch T tiêu hủy 01 mũ bảo hiểm màu hồng loại mũ nữa đầu, hai bên mũ có chữ “Mai Thảo” màu đỏ (Vật chứng đang được tạm giữ tại Chi cục thi hành án dân sự huyện Giồng Trôm theo biên bản giao nhận ngày 19/3/2019).

Tại phiên tòa:

Người bào chữa cho bị cáo tranh luận: Thống nhất với bản cáo trạng và bản luận tội của đại diện viện kiểm sát. Bản cáo trạng của Viện kiểm sát truy tố bị cáo là đúng người, đúng tội. Người bào chữa cho bị cáo không tranh luận về tội danh và hình phạt, chỉ xin Hội đồng xét xử xem xét bị cáo là người có nhân thân tốt, chưa có tiền án, tiền sự, bị cáo không biết chữ, thiếu hiểu biết về pháp luật nên cho bị cáo được hưởng thêm tình tiết giảm nhẹ quy định tại khoản 2 Điều 51 Bộ luật hình sự. Đề nghị Hội đồng xét xử tuyên phạt bị cáo mức án thấp nhất theo đề nghị của đại diện Viện kiểm sát.

Bị cáo thừa nhận toàn bộ hành vi của mình theo như cáo trạng Viện kiểm sát nhân dân huyện Giồng Trôm truy tố.

Những người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đồng ý với việc truy tố và luận tội của đại diện Viện kiểm sát đối với bị cáo, không tranh luận.

Lời nói sau cùng của bị cáo: Bị cáo rất hối hận, bị cáo đã biết hành vi của mình là sai trái, xin Hội đồng xét xử giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo, bị cáo hứa sẽ không tái phạm.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra công an huyện Giồng Trôm, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân huyện Giồng Trôm, kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa bị cáo, những người tham gia tố tụng không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của cơ quan tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của các cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.

Về nội dung vụ án: Tại phiên tòa, bị cáo L thừa nhận toàn bộ hành vi phạm tội của mình. Lời nhận tội của bị cáo phù hợp với lời khai của bị cáo tại Cơ quan điều tra, bản Cáo trạng, lời khai của những có quyền lợi nghĩa vụ liên quan, những người làm chứng, vật chứng được xem xét tại phiên tòa và các tài liệu chứng cứ khác có trong hồ sơ vụ án, nên có đủ cơ sở để khẳng định: Vào khoảng 07 giờ ngày 07/01/2019, khi tổ tuần tra đang đang thực hiện nhiệm vụ, phát hiện và xử lý vi phạm hành chính về hành vi lấn chiếm hành Lg an toàn giao T đối với Nguyễn Thị O, bị cáo Phan Thị Kim L là mẹ của Nguyễn Thị O không đồng ý, liên tục dùng lời nói thô tục xúc phạm đến những người đang thi hành công vụ gồm Trần Xuân B, Đoàn Minh T và Đặng Tâm T để cản trở tổ tuần tra xử lý O. Bị cáo L dùng tay trái nắm cổ áo và tay phải cầm nón bảo hiểm đánh nhiều cái vào vùng cổ và đầu của ông Trần Xuân B. Trong lúc bị tổ tuần tra khống chế, bị cáo L dùng tay kéo làm đứt khuy áo, kéo rách túi quần bên trái và dùng miệng cắn vào cánh tay trái của ông B, gây thương tích 01% cho ông B. Đồng thời, chính bị cáo cũng xác nhận việc làm của những người đang thi hành công vụ là đúng đắn, là cần thiết, không có bất cứ lời nói hay hành động gì xâm hại đến lợi ích của bị cáo. Hành vi trên của bị cáo Phan Thị Kim L đã phạm vào tội “Chống người thi hành công vụ”. Tội phạm và hình phạt quy định tại khoản 1 Điều 330 Bộ luật hình sự năm 2015, sửa đổi bổ sung năm 2017.

Cáo trạng của Viện kiểm sát nhân dân huyện Giồng Trôm truy tố bị cáo với tội danh, điều khoản nêu trên là đúng người, đúng tội, đúng quy định pháp luật, không oan cho bị cáo. Lời luận tội của đại diện Viện kiểm sát là có cơ sở nên được chấp nhận.

Tổ tuần tra thực hiện nhiệm vụ theo kế hoạch số 117/KH- CAX ngày 12/12/2018 của Công an xã P, huyện Giồng Trôm về việc tăng cường công tác tuần tra kiểm soát, giải tỏa giao T đảm bảo an ninh trật tự, an toàn giao T Tết Nguyên đán Kỷ Hợi 2019. Khi tuần tra, tổ tuần tra mặc trang phục công an nhân dân đúng quy định. Do đó tổ tuần tra kiểm soát, giải tỏa hành Lg an toàn giao T, xử lý các trường hợp mua bán lấn chiếm lòng lề đường vào ngày 07/01/2019 là thực hiện đúng chức trách, nhiệm vụ được giao.

Bị cáo Phan Thị Kim L là người có đủ tuổi và năng lực chịu trách nhiệm hình sự về mọi tội phạm. Bị cáo dùng nhiều lời lẽ thô tục xúc phạm và thực hiện hành vi đánh người thi hành công vụ nhằm mục đích cản trở những người thi hành công vụ thực hiện công vụ của họ. Vì vậy, bị cáo phải chịu trách nhiệm về hành vi và hậu quả do mình gây ra.

Đánh giá tính chất, mức độ nguy hiểm cho xã hội của hành vi phạm tội, Hội đồng xét xử thấy rằng: Hành vi phạm tội của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, cố ý xâm phạm đến trật tự quản lý hành chính, trật tự an toàn xã hội, xâm phạm đến hoạt động bình thường, đúng đắn của cơ quan Nhà nước mà đại diện là tổ tuần tra công an xã P. Hành vi của bị cáo còn gây ảnh hưởng xấu đến an ninh trật tự tại địa phương nên cần xử lý để răn đe, giáo dục bị cáo và phòng ngừa chung.

Về nhân thân của bị cáo: Bị cáo không có tiền án, tiền sự nên được xem là nhân thân tốt.

Về tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự: Ngoài tình tiết phạm tội, bị cáo không có tình tiết tăng nặng.

Về tình tiết giảm nhẹ: Quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải; phạm tội lần đầu Tộc trường hợp ít nghiêm trọng; bị cáo là người khuyết tật nặng; bị cáo không biết chữ, thiếu hiểu biết về pháp luật. Đó là những tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự theo quy định tại các điểm i, p, s khoản 1, khoản 2 Điều 51 của Bộ luật Hình sự năm 2015 đã được sửa đổi, bổ sung năm 2017.

Qua cân nhắc các vấn đề nói trên, đối với bị cáo có nhiều tình tiết giảm nhẹ, bị cáo có nhân thân tốt, ngoài lần phạm tội này bị cáo chưa có tiền án, tiền sự, có nơi cư trú rõ ràng, bị cáo bị khuyết tật nặng. Vì vậy, không cần thiết cách ly bị cáo ra khỏi xã hội, mà giao bị cáo cho chính quyền địa phương giám sát, giáo dục để bị cáo thấy được sự khoan hồng của pháp luật an tâm cải tạo trở thành công dân có ích cho xã hội.

Về trách nhiệm dân sự: Quá trình điều tra và tại phiên tòa người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đến vụ án không yêu cầu bị cáo bồi thường nên Hội đồng xét xử không xem xét.

Về xử lý vật chứng:

- Đối với 01 áo trang phục Công an xã nam bị đứt khuy áo thứ hai từ trên xuống, bên tay áo bên trái logo Công an xã màu vàng xanh và 01 quần trang phục Công an xã bị rách túi quần bên trái kích thước 25cm x 13cm là trang phục của Ngành công an cấp cho ông Trần Xuân B, nên cần trao trả lại cho ông B. Đối với 01 mũ bảo hiểm màu hồng loại mũ nửa đầu, hai bên mũ có chữ “Mai Thảo” màu đỏ của bị cáo là công cụ phạm tội, không còn giá trị sử dụng nên tịch T tiêu hủy. (Vật chứng đang được tạm giữ tại Chi cục thi hành án dân sự huyện Giồng Trôm theo biên bản giao nhận ngày 19/3/2019).

Nguyễn Thị O không chấp hành việc xử lý về hành vi lấn chiếm hành Lg an toàn giao T của lực lượng đang thi hành công vụ chưa đến mức phải truy cứu trách nhiệm hình sự. Công an huyện Giồng Trôm đã ra quyết định xử phạt hành chính nên không đề cập trong vụ án này.

Về án phí: Bị cáo là người khuyết tật và có đơn xin được miễn nộp án phí nên căn cứ quy định tại điểm đ khoản 1 Điều 12, Điều 14 và Điều 15 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 của Ủy ban thường vụ Quốc hội miễn án phí cho bị cáo.

Vì các lẽ trên;

QUYẾT ĐỊNH:

Tuyên bố bị cáo Phan Thị Kim L phạm tội “Chống người thi hành công vụ”.

[1] Căn cứ khoản 1 Điều 330; các điểm i, p, s khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 36 Bộ luật Hình sự năm 2015 đã được sửa đổi, bổ sung năm 2017. Phạt: Phan Thị Kim L 06 (sáu) tháng cải tạo không giam giữ. Thời hạn chấp hành hình phạt cải tạo không giam giữ tính từ ngày cơ quan, tổ chức được giao giám sát, giáo dục người bị kết án nhận được quyết định thi hành án và bản sao bản án.

Giao bị cáo Phan Thị Kim L cho Ủy ban nhân dân xã Mỹ Thạnh, huyện Giồng Trôm, tỉnh Bến Tre phối hợp với gia đình giám sát giáo dục bị cáo trong thời gian cải tạo không giam giữ.

Miễn khấu trừ T nhập cho bị cáo Phan Thị Kim L do bị cáo là người khuyết tật nặng.

[2] Về xử lý vật chứng: Căn cứ Điều 47 Bộ luật hình sự năm 2015 đã được sửa đổi, bổ sung năm 2017, Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự.

Trả lại cho ông Trần Xuân B: 01 áo trang phục Công an xã nam bị đứt khuy áo thứ hai từ trên xuống, bên tay áo bên trái logo Công an xã màu vàng xanh; 01 quần trang phục Công an xã bị rách túi quần bên trái kích thước 25cm x 13 cm;

Tịch T tiêu hủy 01 mũ bảo hiểm màu hồng loại mũ nửa đầu, hai bên mũ có chữ “Mai Thảo” màu đỏ.

(Vật chứng đang được tạm giữ tại Chi cục thi hành án dân sự huyện Giồng Trôm theo biên bản giao nhận ngày 19/3/2019).

[3] Về án phí: Căn cứ Điều 136 Bộ luật Tố tụng Hình sự, Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 của Ủy ban thường vụ Quốc hội: Bị cáo được miễn nộp án phí.

[4] Về quyền kháng cáo đối với bản án: Bị cáo, người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án (ngày 17/5/2019) để yêu cầu Tòa án nhân dân tỉnh Bến Tre xét xử phúc thẩm.

Cỡ chữ