- Tranh chấp gì? án hình sự — "Bùi Văn K - phạm tội trộm cắp tài sản (điều 173 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS năm 2015)"
- Tòa quyết gì? Tuyên bố: Bị cáo Bùi Văn K phạm tội “Trộm cắp tài sản .
- Căn cứ chính? Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 47 Bộ luật Hình sự; Điều 51c Bộ luật Hình sự
| TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN ĐẮK SONG TỈNH ĐẮK NÔNG | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| __________ Bản án số: 15/2019/HS-ST Ngày 13-3-2019 |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN ĐẮK SONG, TỈNH ĐẮK NÔNG
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán – Chủ toạ phiên toà: Ông Phan Xuân Hoàng.
Các Hội thẩm nhân dân:
1 . Bà Điểu Thủy
2. Bà Hứa Thị Nhị
- Thư ký phiên toà: Bà Võ Thị Nhàn – Thư ký toà án nhân dân
huyện Đắk Song, tỉnh Đắk Nông.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân (VKSND) huyện Đắk Song,
tỉnh Đắk Nông tham gia phiên Toà: Ông Nguyễn Trọng Đạt –
Kiểm sát viên.
Ngày 13 tháng 3 năm 2019, tại trụ sở Tòa án huyện Đắk Song, tỉnh Đắk Nông xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số: 12/2019/TLST-HS, ngày 22 tháng 02 năm 2019 theo quyết định đưa vụ án ra xét xử số:15/2019/QĐXXST-HS ngày 01/3/2019 đối với bị cáo:
Bùi Văn K, (tên gọi khác: Ng) sinh ngày 06 tháng 02 năm: 1990, tại tỉnh Đồng Nai; nơi cư trú: Thôn 4, xã B, huyện BĐ, tỉnh Bình Phước; nghề nghiệp: Làm nông; trình độ văn hóa: 6/12; giới tính: Nam; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; con ông: Bùi Văn Q và bà Trần Thị G; bị cáo chưa có vợ; tiền án: 02 tiền án về tội trộm cắp tài sản; nhân thân: Ngày 11/4/2008, bị T a án nhân dân huyện Tuy Đ c xử phạt 01 năm tù về tội “Trộm c p tài s n lần phạm tội này do bị can chưa đ 18 tu i nên được coi là không có án tích ; Ngày 18/11/2009 bị Toà án nh n d n huyện Cát Tiên, tỉnh L m Đồng xử phạt 01 năm tù về tội “Trộm cắp tài sản ; Ngày 20/02/2014 bị Toà án nh n d n tỉnh ĐẮk Nông xử phạt 03 năm tù về tội “Trộm cắp tài sản theo bản án số 14/2014/HSPT. Chấp hành xong hình phạt tù ngày 03/9/2016. Bị cáo bị bắt tạm giữ từ ngày 29/9/2018 đến ngày 08/10/2018 chuyển tạm giam; Có mặt.
- Bị hại: Chị Trần Thị Đ; có mặt.
Trú tại: Thôn 11, xã Nj, huyện ĐS, tỉnh Đắk Nông.
- Người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan:
+ Anh Hàm Đình Hướng; vắng mặt
Trú tại: Thôn 11, xã Nj, huyện ĐS, tỉnh Đắk Nông.
+ Chị Trần Thị Trang; vắng mặt
Trú tại: T 1, ấp 10, xã L, huyện LN, tỉnh Bình Phước.
- Người tham gia tố tụng khác:
Người làm chứng:
+ Anh Trần Văn Tr; vắng mặt
+ Chị Hoàng Thị Ph; vắng mặt
+ Anh Nguyễn Văn V; vắng mặt
+ Anh Đào Quang Đ; vắng mặt
Cùng trú tại: Thôn 11, xã Nj, huyện ĐS, tỉnh Đắk Nông.
+ Anh Hoàng Quốc Đ; vắng mặt
Trú tại: T 1 khu phố 1, phường TĐ, thị xã ĐX, tỉnh Bình Phước
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên t a, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Khoảng 08 giờ, ngày 28/9/2018 Bùi Văn K trú tại xã B, huyện BĐ, tỉnh Bình Phước đến nhà Nguyễn Văn Ph trú tại xã Ph, huyện BĐ, tỉnh Bình Phước r Ph đi trộm cắp xe mô tô thì Ph đồng ý và chuẩn bị công cụ phá khóa xe rồi lấy xe máy SYM, màu đen trắng, BKS 93S1-3708 cùng K sang tỉnh Đắk Nông tìm xe mô tô c a người d n để trộm cắp. Sáng ngày 29/9/2018 K và Ph đi vào đường liên thôn thôn 5, xã Trường Xu n rồi đi sang thôn 11, xã Nj, huyện ĐS, tỉnh Đắk Nông thì Ph phát hiện thấy chiếc xe mô tô nhãn hiệu Honda-Blade, BKS 48B1-327.89 c a chị Trần Thị Đ trú tại thôn 11, xã Nj, huyện ĐS, tỉnh Đắk Nông không có người trông coi nên Ph nói K dừng xe lại Ph mang theo túi đựng đồ phá khóa đi bộ vào đường đất đến chỗ dựng chiếc xe mô tô, c n K đ ng ngoài đường nhựa cảnh giới, khi Ph phá được khóa lấy trộm chiếc xe máy Honda-Blade, BKS 48B1-327.89 đi ra đến gần chỗ K đ ng đợi thì gặp anh Trần Văn Tr trú tại thôn 11, xã Nj, huyện ĐS, tỉnh Đắk Nông) là anh trai chị Đ đang lái xe càng vào rẫy c a chị Đ, anh Tr thấy Ph chạy chiếc xe máy nhãn hiệu Honda-Blade, BKS 48B1-327.89 c a chị Trần Thị Đ nên đã xuống xe tri hô đu i theo. Ph tăng ga bỏ chạy ra hướng quốc lộ 14, K giả vờ cầm c y gậy K khai là cây sắn giơ lên đu i Ph thì thấy anh Trì dừng lại. Lúc này có chị Hoàng Thị Ph trú tại thôn 11, xã Nj, huyện ĐS, tỉnh Đắk Nông vừa đi xe mô tô đến nên cho anh Tr mượn xe để đu i theo Ph. Sau đó vì không đu i kịp Ph nên anh Tr tri hô người d n bắt giữ K giao lại cho cơ quan Công an để xử lý theo quy định c a pháp luật. Riêng đối tượng tên Nguyễn Văn Ph đã chạy trốn thoát.
Ngày 03/10/2018 Cơ quan CSĐT Công an huyện Đắk Song, tỉnh Đắk Nông đã có công văn số 104/YCĐG yêu cầu định giá tài sản đối chiếc xe mô tô nhãn hiệu Honda-Blade, màu đen trắng, số máy JA36E0040736, Số khung 3620EY011763, Biển kiểm soát: 48B1-327.89. Tại bảng kết luận định giá tài sản ngày 04/10/2018 c a Hội đồng định giá tài sản trong tố tụng hình sự huyện Đắk Song, tỉnh Đắk Nông kết luận: chiếc xe mô tô nhãn hiệu Honda-Blade, màu đen trắng, số máy JA36E0040736, Số khung 3620EY011763, Biển kiểm soát: 48B1-327.89 có giá trị c n lại là 17.250.000 đồng.
Ngày 29/9/2019 Cơ quan CSĐT công an huyện Đắk Song, tỉnh Đắk Nông đã ra quyết định tạm giữ hình sự đối với Bùi Văn K về tội trộm cắp tài sản, quy định tại điều 173 Bộ luật hình sự BLHS năm 2015; ngày 08/10/2018 cơ quan CSĐT công an huyện Đắk Song đã ra quyết định khởi tố vụ án, khởi tố bị can và ra lệnh tạm giam đối với Bùi Văn K về tội trộm cắp tài sản, quy định tại điều 173 BLHS.
Tại bản Cáo trạng số 17/CT-VKS-ĐS ngày 22 tháng 02 năm 2019 c a Viện kiểm sát nh n d n huyện Đắk Song, tỉnh Đắk Nông đã truy tố bị cáo Bùi Văn K về tội “Trộm cắp tài sản theo quy định tại điểm g khoản 2 Điều 173 BLHS.
Tại phiên t a, đại diện Viện kiểm sát nh n d n huyện Đắk Song, tỉnh Đắk Nông vẫn giữ nguyên quyết định truy tố đối với bị cáo Bùi Văn K về tội “Trộm cắp tài sản theo quy định tại điểm g khoản 2 Điều 173 BLHS. Sau khi ph n tích các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự đại diện Viện kiểm sát đề nghị:
Áp dụng điểm g khoản 2 Điều 173, điểm b, s khoản 1 Điều 51 BLHS xử phạt bị cáo Bùi Văn K từ 02 năm 06 tháng đến 02 năm 09 tháng tù, thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày bắt tạm giữ ngày 29/9/2018.
Về vật chứng của vụ án:
- Chuyển chiếc xe máy SYM, màu đen trắng, số máy VMSACB-HA043166, số khung RLGSG10KHAH043166 đến Chi cục thi hành án d n sự huyện Đắk Song để thông báo tìm ch sở hữu hợp pháp theo quy định c a pháp luật.
- Việc Cơ quan CSĐT Công an huyện Đắk Song chuyển cho Cơ quan CSĐT Công an huyện Lộc Ninh chiếc biển số 93S1-3708 để tiếp nhận xác minh theo thẩm quyền là có căn c nên cần chấp nhận.
- Chuyển số tiền 1.030.000 đồng một triệu không trăm ba mươi ngàn đồng đến Chi cục thi hành án d n sự huyện Đắk Song để đảm bảo công tác thi hành án.
- Đối với 01 một ví da màu n u đất, ví cũ đã qua sử dụng; 01 một ch ng minh nh n d n số 285251156 mang tên Bùi Văn K do Công an Bình Phước cấp ngày 11/01/2018;01 một điện thoại di động màu đen, nhãn hiệu sam sung J7 Pro, số IMEI 1: 353317099436749/01, Số IMEI 2: 353318094436747/01, SN: R58JB4P915P quá trình điều tra xác định đ y tài sản thuộc sở hữu hợp pháp c a Bùi Văn K do đó cần trả lại cho Bùi Văn K.
- Đối với 01 một con dao thái lan cán nhựa màu vàng, lưỡi dao màu sáng trắng không còn giá trị nên tịch thu tiêu h y.
- Đối với 01 một giấy ch ng nhận bảo hiểm xe máy, 01 một giấy ch ng nhận đăng ký xe môtô, xe máy số 000404 đều mang tên Hàm Đình H quá trình điều tra xác định đ y tài sản thuộc sở hữu hợp pháp c a chị Trần Thị Đ nên trả lại cho chị Trần Thị Đ.
Về trách nhiệm dân sự: Đề nghị chấp nhận sự thỏa thuận giữa bị hại và bị cáo tại phiên t a về việc bị cáo Bùi Văn K đồng ý bồi thường cho chị Trần Thị Đ số tiền 17.250.000 đồng tương đương giá trị chiếc xe máy bị mất.
Tại phiên toà bị cáo K không bào chữa gì về hành vi phạm tội c a mình mà chỉ xin HĐXX xem xét giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo.
Căn c vào các ch ng c và các tài liệu đã được thẩm tra tại phiên toà; căn c vào kết quả tranh luận tại phiên toà trên cơ sở xem xét đầy đ , toàn diện ch ng c , ý kiến c a Kiểm sát viên, bị cáo và những người tham gia tố tụng khác.
NHẬN ĐỊNH CỦA HỘI ĐỒNG XÉT XỬ:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn c vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên t a, Hội đồng xét xử HĐXX nhận định như sau:
Về hành vi, quyết định tố tụng c a Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, th tục quy định c a Bộ luật Tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên t a, bị cáo không có có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định c a Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng c a Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.
Tại phiên t a hôm nay bị cáo Bùi Văn K đã khai và thừa nhận toàn bộ hành vi phạm tội c a mình, lời khai nhận c a bị cáo phù hợp với lời khai trong quá trình điều tra, phù hợp các ch ng c , tài liệu có trong hồ sơ vụ án. Vào ngày 29/9/2018, tại thôn 11, xã Nj, huyện ĐS, tỉnh Đắk Nông, lợi dụng sơ hở trong việc quản lý tài sản c a ch sở hữu Bùi Văn K và Nguyễn Văn Ph đã có hành vi lén lút trộm cắp chiếc xe mô tô nhãn hiệu Honda-Blade, màu đen trắng, số máy JA36E0040736, Số khung 3620EY011763, Biển kiểm soát 48B1-327.89 c a chị Trần Thị Đ có giá trị c n lại là 17.250.000 đồng. Bị cáo là người có đầy đ năng lực trách nhiệm hình sự, bị cáo nhận th c rõ về hành vi c a mình nhưng vẫn cố tình cùng đồng bọn thực hiện hành vi phạm tội nhằm x m phạm quyền sở hữu tài sản c a người khác được pháp luật bảo vệ. Trước đó ngày 11/4/2008 bị cáo đã bị T a án nhân dân huyện Tuy Đ c xử phạt 01 năm tù về tội “Trộm c p tài s n lần phạm tội này do bị can chưa đ 18 tu i nên được coi là không có án tích . Ngày 18/11/2009 bị Toà án nh n d n huyện Cát Tiên, tỉnh L m Đồng xử phạt 01 năm tù về tội “Trộm cắp tài sản ; Ngày 20/02/2014 bị Toà án nh n d n tỉnh Đắk Nông xử phạt 03 năm tù về tội “Trộm cắp tài sản theo bản án số 14/2014/HSPT, chấp hành xong hình phạt tù ngày 03/9/2016. Do đó đến ngày 29/9/2018 bị cáo lại tiếp tục thực hiện hành vi trộm cắp tài sản tại thôn 11, xã Nam N’Jang, huyện Đắk Song, tỉnh Đắk Nông nên bị cáo phạm tội thuộc trường hợp tái phạm nguy hiểm. Hành vi phạm tội c a bị cáo Bùi Văn K đã đ yếu tố cấu thành tội “Trộm cắp tài sản theo điểm g khoản 2 Điều 173 BLHS
Như vậy, đã có đ cơ sở pháp lý kết luận hành vi nêu trên c a bị cáo Bùi Văn K đã cấu thành tội “Trộm cắp tài sản theo điểm g khoản 2 Điều 173 BLHS. Việc Viện kiểm sát nh n d n huyện Đắk Song truy tố bị cáo K về tội “Trộm cắp tài sản theo điểm g khoản 2 điều 173 BLHS là đúng người, đúng tội, đúng quy định c a pháp luật.
Tại Điều 173 Bộ luật hình sự năm 2015 sửa đ i b sung năm 2017 quy định:
“1/ Người nào trộm c p tài s n của người khác có giá trị từ hai triệu đồng đến dưới năm mươi triệu đồng hoặc dưới hai triệu đồng nhưng thuộc một trong các trường hợp sau đây, thì bị phạt c i tạo không giam giữ đến 03 năm hoặc phạt tù từ 06 tháng đến 03 năm:
…
2/ Phạm tội thuộc một trong các trường hợp sau đây, thì bị phạt tù từ 02 năm đến 07 năm:
…
g) Tái phạm nguy hiểm.
Xét hành vi phạm tội c a bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, làm mất trật tự an ninh tại địa phương, g y hoang mang trong quần chúng nh n d n, hành vi đó đã trực tiếp x m phạm đến tài sản thuộc sở hữu hợp pháp c a người khác. Bị cáo là người có đầy đ nhận th c để biết được việc chiếm đoạt tài sản c a người khác là vi phạm pháp luật, nhưng với ý th c coi thường pháp luật, lười lao động, muốn hưởng thụ trên thành quả lao động c a người khác để có tiền tiêu xài cá nh n bị cáo đã lợi dụng sự sơ hở c a người bị hại để thực hiện hành vi trộm cắp tài sản. Tuy bị cáo không trực tiếp trộm cắp tài sản c a chị Định nhưng bị cáo là người r Ph đi trộm cắp, cảnh giới để Ph trộm chiếc xem máy c a chị Định. Vì vậy, bị cáo phải chiụ trách nhiệm hình sự về hành vi phạm tội c a mình với vai tr đồng phạm.
Xét về nh n th n c a bị cáo HĐXX nhận thấy: Trong quá trình điều tra cũng như tại phiên t a bị cáo đã thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải, nên cần xem đ y là những tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự được quy định tại điểm s khoản 1 Điều 51 BLHS,
Xét đề nghị về m c hình phạt c a vị đại diện Viện kiểm sát giữ quyền công tố Nhà nước tại phiên t a hôm nay đề nghị Áp dụng điểm g khoản 2 Điều 173; điểm b, s khoản 1 Điều 51c a Bộ luật hình sự: Đề nghị xử phạt bị cáo Bùi Văn K từ 02 năm 06 tháng đến 02 năm 09 tháng tù, thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày bắt tạm giam ngày 29/9/2018. HĐXX xét thấy m c đề nghị c a đại diện Viện kiểm sát là phù hợp với hành vi phạm tội c a bị cáo nên cần chấp nhận.
Từ nhận định trên, HĐXX xét thấy cần cách ly bị cáo Bùi Văn K ra khỏi đời sống xã hội một thời gian nhất định, để cải tạo giáo dục bị cáo thành công d n tốt cho xã hội biết tôn trọng pháp luật, đồng thời đ y c n là bài học cho những ai có ý định x m phạm tài sản thuộc quyền sở hữu c a người khác.
Đối với Nguyễn Văn Ph đã có hành vi cùng bị cáo Bùi Văn K trộm cắp chiếc xe máy nhãn hiệu Honda-Blade, màu đen trắng, số máy JA36E0040736, Số khung 3620EY011763, Biển kiểm soát: 48B1-327.89. Cơ quan cảnh sát điều tra Công an huyện Đắk Song đã nhiều lần t ch c lực lượng tiến hành xác minh nhưng do Nguyễn Văn Ph không có mặt ở địa phương, không rõ đi đ u, làm gì. Cơ quan cảnh sát điều tra Công an huyện Đắk Song đã tách hồ sơ liên quan đến Nguyễn Văn Ph để tiếp tục xác minh, khi nào làm rõ hành vi phạm tội sẽ phục hồi xử lý sau.
Về trách nhiệm d n sự: Chị Trần Thị Đ có đơn yêu cầu bị cáo Bùi Văn K phải bồi thường thiệt hại với số tiền là 17.250.000 đồng mười bảy triệu hai trăm năm mươi nghìn đồng. Tại phiên t a giữa bị hại chị Trần Thị Đ và bị cáo Bùi Văn K đã thỏa thuận được với nhau về việc bị cáo bồi thường cho bị hại số tiền 17.250.000 đồng tương đương giá trị chiếc xe máy bị mất, việc thỏa thuận trên là tự nguyện, không trái pháp luật, đạo đ c xã hội nên cần chấp nhận, bị cáo đã bồi thường khắc phục một phần hậu quả nộp số tiền 2.000.000 đồng nộp tại Chi cục thi hành án d n sự huyện Đắk Song.
Về xử lý vật ch ng c a vụ án
- Đối với chuyển chiếc xe máy SYM, màu đen trắng, số máy VMSACB-HA043166, số khung RLGSG10KHAH043166 chưa xác định được ch sở hữu nên chuyển đến Chi cục thi hành án d n sự huyện Đắk Song, tỉnh Đắk Nông để thông báo tìm ch sở hữu hợp pháp, trong thời hạn 01 năm kể từ ngày thông báo công khai mà xác định được ch sở hữu hợp pháp thì trả lại chiếc xe trên cho ch sở hữu hợp pháp. Nếu trong thời hạn 01 năm kể từ ngày thông báo công khai mà vẫn không xác định được ai là ch sở hữu hợp pháp thì sung công quỹ nhà nước chiếc xe trên.
- Chấp nhận việc Cơ quan CSĐT Công an huyện Đắk Song, tỉnh Đắk Nông chuyển cho Cơ quan CSĐT Công an huyện Lộc Ninh, tỉnh Bình Phước chiếc biển số 93S1-3708 để tiếp nhận xác minh theo thẩm quyền.
- Đối với số tiền 1.030.000 đồng một triệu không trăm ba mươi ngàn đồng) thu giữ c a Bùi Văn K. Quá trình điều tra xác định đ y là số tiền hợp pháp c a bị cáo không liên quan đến hành vi phạm tội c a bị cáo nên cần trả lại cho bị cáo, tuy nhiên cần tạm giữ để đảm bảo thi hành án.
- Đối với 01 một ví da màu n u đất, ví cũ đã qua sử dụng; 01 một ch ng minh nh n d n số 285251156 mang tên Bùi Văn K do Công an Bình Phước cấp ngày 11/01/2018;01 một điện thoại di động màu đen, nhãn hiệu sam sung J7 Pro, số IMEI 1: 353317099436749/01, Số IMEI 2: 353318094436747/01, SN: R58JB4P915P quá trình điều tra xác định đ y tài sản thuộc sở hữu hợp pháp c a Bùi Văn K do đó cần trả lại cho bị cáo.
- Đối với 01 một con dao thái lan cán nhựa màu vàng, lưỡi dao màu sáng trắng thu giữ c a Bùi Văn K không c n giá trị sử dụng nên cần tich thu tiêu h y.
- Đối với 01 một giấy ch ng nhận bảo hiểm xe máy, 01 một giấy ch ng nhận đăng ký xe môtô, xe máy số 000404 đều mang tên Hàm Đình H quá trình điều tra xác định đ y tài sản thuộc sở hữu hợp pháp c a chị Trần Thị Đ nên trả lại cho chị Trần Thị Đ.
Về án phí: Bị cáo phải chịu án phí Hình sự sơ thẩm và án phí D n sự sơ thẩm theo quy định c a pháp luật.
Về quyền kháng cáo: Bị cáo và đương sự có quyền kháng cáo bản án theo quy định c a pháp luật.
Vì các lẽ trên.
QUYẾT ĐỊNH:
Tuyên bố: Bị cáo Bùi Văn K phạm tội “Trộm cắp tài sản .
Áp dụng điểm g khoản 2 điều 173, điểm b, s khoản 1 Điều 51 Bộ luật hình sự năm 2015 sửa đ i b sung năm 2017. Điều 23 Nghị quyết số 326/2016 ngày 30/12/2016 về phí, lệ phí T a án.
Xử phạt bị cáo Bùi Văn K 02 (Hai năm 06 Sáu tháng tù, thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày bắt tạm giữ, ngày 29/9/2018.
- Về trách nhiệm d n sự: Áp dụng khoản 1 Điều 48 BLHS; Điều 584; Điều 585 Điều 589 Bộ luật d n sự.
Chấp nhận việc thỏa thuận giữa bị cáo và bị hại về việc bị cáo Bùi Văn K bồi thường cho bị hại chị Trần Thị Đ số tiền 17.250.000 đồng Mười b y triệu hai trăm năm mươi nghìn đồng) tương đương giá trị chiếc xe bị mất, bị cáo đã bồi thường số tiền 2.000.000 đồng nộp tại Chi cục Thi hành án d n sự huyện Đắk Song, tihnar Đắk Nông.
Áp dụng khoản 2 Điều 357 Bộ luật d n sự để tính lãi suất đối với số tiền chậm thi hành án.
- Về xử lý vật ch ng vụ án: Căn c khoản 1 Điều 46, khoản 1 Điều 47 c a Bộ luật hình sự; khoản 2 Điều 106 c a Bộ luật tố tụng hình sự;
Chấp nhận ngày Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện Đắk Song đã ra quyết định xử lý vật ch ng;
Chấp nhận việc Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện Đắk Song, tỉnh Đắk Nông chuyển cho Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện Lộc Ninh, tỉnh Bình Phước chiếc biển số 93S1-3708 để tiếp nhận xác minh theo thẩm quyền.
Chấp nhận việc Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện Đắk Song, tỉnh Đắk Nông trả lại 01 một giấy ch ng nhận bảo hiểm xe máy, 01 một giấy ch ng nhận đăng ký xe môtô, xe máy số 000404 đều mang tên Hàm Đình H cho chị Trần Thị Đ là ch sở hữu hợp pháp.
+ Trả lại cho Bùi Văn K số tiền 1.030.000 đồng Một triệu không trăm ba mươi ngàn đồng) không liên quan đến việc phạm tội, tuy nhiên cần tạm giữ để đảm bảo thi hành án.
Trả lại cho bị cáo Bùi Văn K 01 một ví da màu n u đất, ví cũ đã qua sử dụng; 01 một ch ng minh nh n d n số 285251156 mang tên Bùi Văn K do Công an Bình Phước cấp ngày 11/01/2018;01 một điện thoại di động màu đen, nhãn hiệu sam sung J7 Pro, số IMEI 1: 353317099436749/01, Số IMEI 2: 353318094436747/01, SN: R58JB4P915P.
Tịch thu tiêu h y 01 một con dao thái lan cán nhựa màu vàng, lưỡi dao màu sáng trắng thu giữ c a Bùi Văn K không c n giá trị sử dụng.
Áp dụng Điều 228 Bộ luật d n sự; Đối với chuyển chiếc xe máy SYM, màu đen trắng, số máy VMSACB-HA043166, số khung RLGSG10KHAH043166 chưa xác định được ch sở hữu nên chuyển đến Chi cục thi hành án d n sự huyện Đắk Song, tỉnh Đắk Nông để thông báo tìm ch sở hữu hợp pháp, trong thời hạn 01 năm kể từ ngày thông báo công khai mà xác định được ch sở hữu hợp pháp thì trả lại chiếc xe trên cho ch sở hữu hợp pháp. Nếu trong thời hạn 01 năm kể từ ngày thông báo công khai mà vẫn không xác định được ai là ch sở hữu hợp pháp thì sung công quỹ nhà nước chiếc xe trên.
( Đặc điểm vật chứng và tiền như biên b n giao nhận giữa cơ quan c nh sát điều tra công an huyện Đ k Song và Chi cục Thi hành án dân sự huyện Đ k Song ngày 28/02/2019.)
- Về án phí: Áp dụng khoản 1, 2 Điều 135, khoản 2 Điều 136 BLTTHS; Điều 23, Điều 26; Điều 27 Nghị quyết số 326/2016 ngày 30/12/2016 về phí, lệ phí T a án.
Buộc bị cáo Bùi Văn K phải nộp 200.000 đồng Hai trăm nghìn đồng) án phí HSST và 862.500 đồng (Tám trăm sáu mươi hai nghìn năm trăm đồng) án phí DSST.
- Về quyền kháng cáo: Bị cáo, bị hại có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án.
Người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan vắng mặt tại phiên t a có quyền kháng cáo phần bản án liên quan đến quyền lợi ích hợp pháp c a mình trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tống đạt bản án hợp lệ.
“Trường hợp b n án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự, thì người được thi hành án dân sự, người ph i thi hành án dân sự có quyền tho thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6,7 và 9 Luật Thi hành án dân sự, thời hiệu yêu cầu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật thi hành án. Nôi nhaän:
| - TAND tænh Ñắêk Noâng; - Sở tư pháp tỉnh Đắk Nông; - Phòng PV06, PC10 CA tỉnh Đắk Nông - VKSND huyeän Ñắêk Song; - Coâng an huyeän Ñắêk Song; - Chi cục THA.DS huyeän Ñắêk Song; - Bò caùo; - Bò haïi; - Người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan; - Lưu hồ sơ vụ án. | T/M. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM Thaåm phaùn – Chuû toïa phieân toøa (Đã ký) Phan Xuân Hoàng |