- Tranh chấp gì? án hình sự — "Nguyen Dinh Th - phạm tội trộm cắp tài sản (điều 173 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS năm 2015)"
- Tòa quyết gì? Căn cứ: Điể m b khoản 1 Điều 173; điểm h, s khoản 1 Điều 51; khoản 2 Điề u 56 của Bộ luật Hình sự năm 2015.
- Căn cứ chính? NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…; Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 48 Bộ luật Hình sự
| TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN B TỈNH BẮC KẠN | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Bản án số: 15/2019/HS-ST Ngày 25 - 6 - 2019 |
NHÂN DANH
NƢỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆTNAM
TÒA ÁN DÂN NHÂN HUYỆN B, TỈNH BẮC KẠN
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà: Ông Nguyễn Thế Doanh
Các Hội thẩm nhân dân:
Ông Nguyễ n Lộ c Trang
Ông Đinh Đăng Hù ng
- Thƣ ký phiên toà: Bà Đàm Thị Bưởi - Thư ký Toà án nhân dân huyện B, tỉnh Bắc Kạn.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện B tham gia phiên toà: Ông Hoàng Văn Hòa - Kiểm sát viên.
Ngày 25/6/2019, tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện B, tỉnh Bắc Kạn xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số 15/2019/TLST - HS ngày 24/5/2019 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 15/2019/QĐXXST - HS ngày 11/6/2019 đối với bị cáo:
Nguyễ n Đì nh Th (tên gọi khác: không) - Sinh ngày 16 tháng 11 năm 1998 tại huyệ n B, tỉnh Bắc Kạn; nơi đăng ký hộ khẩ u thườ ng trú và chỗ ở: Thôn Đ, xã P, huyện B, tỉnh Bắc Kạn; nghề nghiệp: Lao độ ng tự do ; trình độ văn hoá: Lớp 10/12; dân tộc: Tày; giới tính: Nam; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Nguyễ n Đì nh D và bà Nông Thị Ng; vợ, con: Chưa có ; tiền án: 02 - Ngày 07/11/2017 bị Tòa án nhân dân thành phố S, tỉnh Thái Nguyên xử phạ t 03 tháng 10 ngày tù về tội “Trộm cắp tài s ản”. Ngày 21/11/2018 bị Tòa án nhân dân huyệ n B , tỉnh Bắc Kạn xử phạ t 15 (mườ i lăm ) tháng tù về tội “Trộm cắp tài sản”; tiền sự: Không.
Bị cáo đang chấ p hà nh hì nh phạ t tù củ a bả n á n khá c tại Trại giam Phú Sơn 4, Bộ Công an - Có mặt.
- Bị hại: Bà Hoàng Thị H - Sinh năm 1975; Nơi cư trú : Thôn N, xã V, huyệ n B, tỉnh Bắc Kạn - Vắ ng mặ t (Có đơn xin xé t xử vắ ng mặ t).
- Ngườ i có quyề n lợ i , nghĩa vụ liên quan : Bà Hoàng Thị L - Sinh năm 1976; nơi cư trú : Thôn N, xã V, huyệ n B, tỉnh Bắc Kạn - Vắ ng mặ t (có đơn xin xét xử vắng mặt).
- Nhữ ng ngườ i là m chứ ng:
+ Anh Lý Văn Tr - Sinh năm 1996; nơi cư trú : Thôn N, xã V, huyệ n B, tỉnh Bắc Kạn - Vắ ng mặ t.
+ Anh Lý Văn T - Sinh năm 1995; nơi cư trú : Thôn N, xã V, huyệ n B, tỉnh Bắc Kạn - Vắ ng mặ t.
+ Anh Lý Hoà ng K - Sinh ngà y 10/11/2002 - Nơi cư trú : Thôn N, xã V, huyệ n B, tỉnh Bắc Kạn - Vắ ng mặ t.
Ngườ i đạ i diệ n hợ p phá p củ a anh K : Bà Hà Thị N - Sinh năm 1971; nơi cư trú : Thôn N, xã V, huyệ n B, tỉnh Bắc Kạn (là mẹ đẻ của anh K) - Vắ ng mặ t.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Khoảng 7 giờ 00 phút ngày 03/01/2019, Nguyễ n Đình Th (sinh năm 1998) đi bộ từ nhà mình tại thôn Đ, xã P, huyệ n B đến nhà anh Lý Văn Tr (sinh năm 1996) ở tại thôn N, xã V, huyệ n B chơi. Sau đó , Tr nhờ Th lấ y con chó của mình mang đi bá n và Th đồ ng ý . Th đi bộ dắ t chó đến khu vự c thôn N, xã V, huyệ n B hỏi người mua chó nhưng không có ai mua. Đế n 11 giờ cùng ngày, Th đến quán của gia đì nh anh Lý Văn Tr (sinh năm 1995; trú tại thôn N, xã V, huyệ n B) hỏi mượ n xe môtô củ a Tr để chở chó ra thị trấn P , huyệ n B bán. Tr đồ ng ý và bả o Th đi theo mì nh về nhà cá c h quán khoảng 100m để lấ y chì a khó a xe . Th buộ c con chó và o cử a qu án rồi đi theo Tr nhưng Tr không tì m thấ y chì a khó a xe nên Th quay lạ i quá n thì không thấ y con chó đâu . Th tìm xung quanh kh ông thấ y con chó đâu. Khi thấ y anh Lý Hoàng K (sinh năm 2002; trú tại: Thôn N, xã V, huyệ n B) đi ngang qua, Th chạy ra đường hỏi anh K có nhìn thấ y con chó không, K trả lời không thấy rồi tiếp tục đi . Th đi vò ng ra sau quá n thì nhìn thấy cạnh chuồng lợ n có 02 (hai) chiế c lồ ng bằ ng tre, mộ t chiế c nhố t 04 (bố n) con gà và một chiếc nhất 02 (hai) con gà . Số gà nà y của bà Hoàng Thị H (sinh năm 1975; trú tại: Thôn N, xã V, huyệ n B - mẹ đẻ anh Tr ) mua tạ i phiên chợ hôm trướ c và đ ể sau quán của gia đình . Th quan sá t thấ y không có ngườ i nên n ảy sinh ý đị nh trộ m cắ p số gà trên đem bá n lấ y tiề n chi tiêu . Th dùng hai tay xách hai lồ ng gà đi theo đườ ng suố i ph ía sau quá n hướ ng ra thị trấ n P . Khi đi đượ c mộ t đoạn thì Th nhặ t đượ c một chiế c bao tả i dứ a mà u và ng cam . Th lấ y 06 con gà từ hai lồng gà đút vào bao tải rồi vứt hai chiếc lồng xuống suối . Sau đó , Th tiế p tụ c xá ch bao tả i đự ng gà đi đế n th ôn N, xã V thì gặp bà Hoàn g Thị L (sinh năm 1976, trú tại: Thôn N, xã V, huyệ n B, tỉnh Bắc Kạn) đang ở nhà . Th hỏi bà L có mua gà không thì bà L đồ ng ý mua vớ i giá 100.000đ/kg. Bà L mang cân từ nhà ra cân đượ c 06 kg và trả cho Th số tiề n 600.000đ. Sau đó , Th đi về nhà mình và tiêu sài hết số tiền bán gà mà có.
Tại Kết luận định giá tài sản số 01/KL - ĐGTS ngà y 12/01/2019 của Hội đồ ng đị nh giá tài sản huyện B kế t luậ n: “06 (sáu) con gà , loại gà ta. Tổ ng trọ ng lượ ng: 06 (sáu) kilôgam, thờ i điể m tà i sả n bị xâm hạ i và o thá ng 01/2019 có giá trị là 600.000đ (sáu trăm nghìn đồng)”.
Tại bản cáo trạng số 15/CT - VKS - BT ngày 22/5/2019 của Viện kiểm sát nhân dân huyện B quyết định truy tố ra trước Toà án nhân dân huyện B để xét xử đối với Nguyễ n Đình Th về tội "Trộ m cắ p tà i sả n" theo điể m b khoản 1 Điều 173 của Bộ luật Hình sự năm 2015, đã đượ c sử a đổ i, bổ sung năm 2017 (Bộ luậ t Hình sự năm 2015) .
Tại phiên tòa, đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện B vẫn giữ nguyên quyết định truy tố và đề nghị Hội đồng xét xử (HĐXX):
- Tuyên bố bị cáo phạm tộ i “Trộ m cắ p tà i sả n”;
- Áp dụng: Điể m b khoản 1 Điều 173; điểm h, s khoản 1 Điều 51; khoản 2 Điề u 56 của Bộ luật Hình sự năm 2015 xử phạt bị cáo từ 12 tháng đến 15 tháng tù. Tổ ng hợ p hì nh phạ t 15 (mườ i lăm) tháng tù của bản án số 33/2018/HS-ST ngày 21/11/2018 của Tòa án nhân huyệ n B , buộ c bị cáo phải chấp hành hình phạt chung củ a cả hai bả n á n.
- Về hình phạt bổ sung: Không đề nghị áp dụng.
- Về trách nhiệm dân sự : Bị hại đã nhận lại số tài sản bị chiếm đoạt và không yêu cầ u bồ i thườ ng gì thêm nên không đề nghị xem xé t. Buộ c bị cá o phả i bồ i thườ ng số tiề n 600.000đ (sáu trăm nghìn đồng) cho bà Hoà ng Thị L.
- Về vật chứng: Đề nghị á p dụng Điề u 106 của Bộ luật Tố tụng hình sự ; Điề u 47 của Bộ luậ t Hì nh sự năm 2015: Tịch thu tiêu hủy 01 (mộ t) lồ ng gà bằ ng tre, hình trụ, dài 80cm, vòng dây trung bình 1,02m.
- Về án phí: Bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm và án phí dân sự.
Tại phiên tòa, bị cáo thừa nhận hành vi phạm tội, xin giảm nhẹ hình phạt và chấp nhậ n bồ i thườ ng 600.000đ cho bà Hoà ng Thị L.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dụng vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, HĐXX nhận định như sau:
. Về hành vi và quyết định của Điều tra viên, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục của Bộ luật Tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa, những người tham gia tố tụng không có khiếu nại về hành vi, quyết định của Điều tra viên, Kiểm sát viên. Do đó, hành vi, quyết định của Điều tra viên, Kiểm sát viên đã thực hiện đều hợp pháp.
. Về hành vi của bị cáo: Tại phiên tòa, bị cáo thừa nhận hành vi trộm cắ p tài sản như bản cáo trạng truy tố . Lời khai của bị cáo tại phiên tò a phù hợp vớ i các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án. Do đó, có đủ căn cứ để khẳng định: Khoảng 11 giờ 00 phút ngày 03/01/2019, tại quán gia đình bà Hoàng Thị H thuộ c thôn N , xã V, huyệ n B, tỉnh Bắc Kạ n, Nguyễ n Đình Th đã có hà nh vi lén lút chiế m đoạ t 06 (sáu) con gà , loại gà ta có trọng lượng 06kg trị giá 600.000đ (sáu trăm nghìn đồng) của bà Hoàng Thị H.
Hành vi của bị cáo được thực hiện khi bị cáo đã có đủ tuổi chịu trách nhiệm hình sự và là hành vi nguy hiểm cho xã hội, đã xâm phạm đến quyề n sở hữ u tà i sả n củ a cá nhân đượ c phá p luậ t bả o vệ
, gây mấ t trậ t tự trị an tại địa phương. Giá trị tài sản bị cáo chiếm đoạt chưa đến 2.000.000đ nhưng bị cáo đã có hai tiền án chưa được xóa án tích về tội “Trộm cắp tài sản” nên hành vi của bị cáo đã cấu thành tội trộm cắp tài sản . Cáo trạng số 15/CT - VKS - BT ngày 22/5/2019 của Viện kiểm sát nhân dân huyện B truy tố Nguyễ n Đì nh Th về tội “Trộ m cắ p tà i sả n” theo điể m b khoản 1 Điều 173 của Bộ luật Hình sự năm 2015 là có căn cứ, đúng người, đúng tội.
Điều 173 của Bộ luật Hình sự năm 2015 có nội dung:
"1. Người nào trộ m cắ p tà i sả n củ a ngườ i khá c trị giá từ 2.000.000 đồ ng đến dưới 50.000.000 đồ ng hoặ c dướ i 2.000.000 đồ ng nhưng thuộ c mộ t trong các trường hợp sau đây , thì bị phạt cải tạo không giam giữ đến 03 năm hoặ c phạt tù từ 06 tháng đến 03 năm.
a,…………………………………………………………………………………….
b, Đã bị kế t á n về tộ i nà y hoặ c về mộ t trong cá c tộ i quy đị nh tạ i cá c điề u 168, 169, 170, 171, 172, 174, 175 và 290 của Bộ luậ t nà y, chưa đượ c xó a á n tích mà còn vi phạm.
……………………………………………………………………………………….
5. Ngườ i phạ m tộ i cò n có thể bị phạ t tiề n từ
5.000.000 đồ ng đế n 50.000.000 đồ ng”.
. Về nhân thân và các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự cho bị cáo thấy: Bị cáo có nhân thân xấu - Đã hai lầ n bị kế t á n về tộ i trộ m cắ p tà i sản; quá trình điều tra và tại phiên tòa đã thành khẩn khai báo; phạm tội nhưng gây thiệ t hạ i không lớ n nên bị cáo được hưởng hai tình tiết giảm nhẹ quy định tại điểm h, s khoản 1 Điều 51 của Bộ luật Hình sự năm 2015. Bị cáo không có tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự.
Xét tính chất và mức độ nguy hiểm của hành vi mà bị cáo gây ra đối với xã hội, xét nhân thân, các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự của bị cáo thấy cần buộc bị cáo đi cải tạo tại cơ sở giam giữ mới đảm bảo tính giáo dục cho bị cáo và tính răn đe, phòng ngừa chung cho xã hội. Vì vậy, mức hình phạt do Kiểm sát viên đề nghị tại phiên tòa là phù hợp, cần chấp nhận.
Bị cáo thực hiện hành vi trộm
cắ p tà i sả n trong thờ i gian bản án số 33/2018/HS - ST ngà y 21/11/2018 của Tòa án nhân dân huyện B đã có hiệu lực pháp luật. Đế n ngà y 08/01/2019, bị cáo đi chấp hành hình phạt của bản án này. Vì vậy, cầ n buộ c bị cá o chấ p hà nh hì nh phạ t chung củ a cả hai bả n á n theo khoả n 2 Điề u 56 của Bộ luật hình sự năm 2015.
Về hình phạt bổ sung là phạt tiền theo quy định tại khoản 5 Điều 173 của Bộ luật Hình sự năm 2015: Xét thấy bị cáo là người lao độ ng tự do , thu nhậ p không ổ n đị nh, không có tà i sả n riêng nên không có khả năng thi hành. Vì vậy, HĐXX không áp dụng.
Đối với 02 chiế c lồ ng gà bị Th chiế m đoạ t cù ng số gà , trong đơn trì nh bà o và trong quá trình điều tra , bị hại không có yêu cầ u xem xé t vì tạ i thờ i điể m bị chiế m đoạ t hai chiế c lồ ng đã cũ , không cò n giá trị sử dụ ng nên Cơ quan Cả nh sát điều tra (CQCSĐT) không xem xé t trá ch nhiệ m hì nh sự củ a bị cá o đố i vớ i số tài sản trên là đúng quy định của pháp luật.
Trong vụ á n có bà Hoà ng Thị L là ngườ i trự c tiế p mua số gà do Th trộ m cắ p đượ c nhưng khi mua , bà L không biế t số gà trên là do Th trộ m cắ p nên không có căn cứ để xử lý đố i vớ i bà L . Có Lý Văn T nhờ Th đi bá n con chó nhưng không bá n đượ c, quá trình điều tra đã xác định được con chó là của T và không có liên quan đế n hà nh vi phạ m tộ i củ a Th . Do đó , CQCSĐT không xem xét giải quyết là đúng quy định của pháp luật.
. Về trá ch nhiệ m dân sự : Trong quá trình điề u tra, CQCSĐT đã thu giữ và trả lại cho bị hại 06 con gà . Đối với 2 lồ ng gà đã bị mấ t, bị hại không có yêu cầ u bồ i thườ ng nên HĐXX không xem xé t . Trong đơn xin xé t xử vắ ng mặ t , bà Hoàng Thị L có yêu cầ u bị cá o phả i bồ i thườ ng số tiề n 600.000đ, tại phiên tòa bị cáo chấp nhận yêu cầ u bồ i thườ ng số tiề n trên của bà L nên cầ n buộ c bị cá o phả i bồ i thườ ng số tiề n trên cho bà L.
. Về vật chứng của vụ án:
- 06 (sáu) con gà , loại gà ta là tà i sả n củ a bà H đã trả lạ i cho bà H.
- 02 (hai) chiế c lồ ng tre dù ng để nhốt gà, Th đã vứ t xuố ng suố i, CQCSĐT đã tổ chứ c tì m ki ếm nhưng chỉ tì m thấ y mộ t chiế c, bà H không yêu cầ u trả lạ i nên cầ n tị ch thu tiêu hủ y. Chiế c cò n lạ i không tì m thấ y.
- 01 (mộ t) chiế c bao tả i dứ a mà u và ng cam Th dùng để đựng gà mang đi bán. Khi bá n gà cho bà L , Thông đưa cả ba o tả i cho bà L và bà L đã đố t đi nên CQCSĐT không thu giữ đượ c.
. Về án phí: Bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm và án phí dân sự sơ thẩ m.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
- Căn cứ: Điể m b khoản 1 Điều 173; điểm h, s khoản 1 Điều 51; khoản 2 Điề u 56 của Bộ luật Hình sự năm 2015.
Tuyên bố bị cáo Nguyễ n Đình Th phạm: “Tội trộ m cắ p tà i sả n”.
Xử phạt bị cáo Nguyễ n Đì nh Th 15 (mườ i lăm) tháng tù. Thời hạn tù tính từ ngày bắt đi chấp hành án.
Tổ ng hợ p hì nh phạ t 15 (mườ i lăm) tháng tù, thờ i hạ n tù tí nh từ ngà y bắ t đi chấ p hà nh á n củ a bả n á n số 33/2018/HS - ST ngà y 21/11/2018 của Tòa án nhân dân huyệ n B , tỉnh Bắc Kạn , buộ c bị cá o Nguyễ n Đì nh Th phải chấp hành hình phạt chung củ a cả hai bả n á n là 30 (ba mươi) tháng tù. Thờ i hạ n tù tí nh từ ngà y đi chấ p hà nh á n (08/01/2019).
- Về vật chứng: Căn cứ Điều 106 của Bộ luật Tố tụng hình sự ; Điề u 47 của Bộ luật Hình sự năm 2015:
Tiêu hủ y 01 (mộ t) chiế c lồ ng gà bằ ng tre , hình trụ, dài 80cm, vòng dây trung bì nh 1,02m.
(Tình trạng vật chứng theo Biên bản giao, nhận vật chứng lập ngày 28/5/2019 giữa Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện B và Chi cục Thi hành án dân sự huyện B).
- Trách nhiệm bồi thường dân sự: Căn cứ Điều 48 của Bộ luật Hình sự năm 2015; các Điều 584, 585, 586, 589 của Bộ luật Dân sự năm 2015:
- Bị cáo Nguyễ n Đì nh Th phải bồi thường cho bà Hoà ng Thị L số tiề n 600.000đ (sáu trăm nghìn đồng).
Lãi suất chậm trả được thực hiện theo quy định tại Điều 357 và Khoản 2 Điều 468 của Bộ luật dân sự năm 2015.
- Về án phí: Căn cứ Điều 136 của Bộ luậ t Tố tụ ng hì nh sự ; Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14: Bị cáo Nguyễ n Đì nh Th phải chịu 200.000đ (hai trăm nghìn đồng) án phí hình sự sơ thẩm và 300.000đ (ba trăm nghì n đồ ng) án phí dân sự sơ thẩ m.
Trường hợp bản án được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự; người phải thi hành án có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án theo quy định tại các điều 6, 7 và 9 Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật Thi hành án dân sự.
- Quyền kháng cáo: Bị cáo Nguyễ n Đì nh Th có quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án. Bị hại Hoàng Thị H, ngườ i có quyề n lợ i, nghĩa vụ liên quan Hoàng Thị L có quyền kháng c áo bản án trong hạn 15 ngày kể từ ngà y nhậ n đượ c bả n á n hoặ c kể từ ngà y bả n á n đượ c niêm yế t./.
| Nơi nhận: - VKSND huyện B; - VKSND tỉnh Bắc Kạn; - Công an huyện B; - Bị cáo; bị hại; đương sự ; - Chi cục THADS huyện BThông; - Tòa án nhân dân tỉnh Bắc Kạn; - Lưu hồ sơ; văn phòng. | TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨ M PHÁ N - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Nguyễn Thế Doanh |