vanban.org

Bản án 15/2019/HS-PT — Hình sự

TAND tỉnh Bình Định Tuyên án 28/12/2018 Hình sự Phúc thẩm
Đã có hiệu lực pháp luật — từ ngày tuyên án 28/12/2018 Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

[1] Căn cứ vào điểm a, b khoản 1 Điều 355; Điều 356; điểm e khoản 1 Điều 357 của Bộ luật tố tụng hình sự.

* Áp dụng: Khoản 1 Điều 173; điểm b, s khoản 1, khoản 2 Điều 51 Bộ luật hình sự. * Xử phạt: Bị cáo Man Sỹ T 07 (bảy) tháng tù, trừ thời gian tạm giam 02 tháng 01 ngày (07 tháng – 02 tháng 01 ngày = 04 (bốn) tháng 29 (hai mươi chín) ngày). Thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày bị bắt đi thi hà… Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? án hình sự — "Đào Trung Lương cùng đồng bọn - phạm tội trộm cắp tài sản (điều 173 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS năm 2015)"
  • Tòa quyết gì? [1] Căn cứ vào điểm a, b khoản 1 Điều 355; Điều 356; điểm e khoản 1 Điều 357 của Bộ luật tố tụng hình sự.
  • Căn cứ chính? Điều 51 Bộ luật Hình sự; Điều 355 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 101 Bộ luật Hình sự
TÒA ÁN NHÂN DÂN
TỈNH BÌNH ĐỊNH

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 15/2019/HS-PT
Ngày: 28/12/2018

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH BÌNH ĐỊNH

- Thành phần Hội đồng xét xử phúc thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Hoài Xuân.

Các Thẩm phán: Bà Nguyễn Thị Thanh Bình; Ông Võ Công Phương;

- Thư ký phiên tòa: Bà Huỳnh Thị Mỹ Tiên - Thư ký TAND tỉnh Bình Định.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Bình Định tham gia phiên toà:

Ông Nguyễn Văn Phụng - Kiểm sát viên.

Ngày 28 tháng 12 năm 2018, tại trụ sở Tòa án nhân dân tỉnh Bình Định xét xử phúc thẩm công khai vụ án hình sự phúc thẩm thụ lý số: 07/2019/TLPT-HS ngày 07 tháng 12 năm 2018 đối với bị cáo Đào Trung L cùng đồng bọn do có kháng cáo của các bị cáo đối với Bản án hình sự sơ thẩm số: 27/2018/HS-ST ngày 22 tháng 10 năm 2018 của Tòa án nhân dân huyện PC.

- Các bị cáo có kháng cáo:

1. ĐÀO TRUNG L, sinh ngày 24/6/2000 tại Bình Định; nơi cư trú: Thôn AL, xã CV, huyện VC, tỉnh Bình Định; nghề nghiệp: Không; trình độ văn hóa: 7/12; dân tộc: Kinh; giới tính: Nam; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Đào Sanh M, sinh năm 1974 và bà Nguyễn Thị L, sinh năm 1971; tiền án, tiền sự: Không; bị cáo tại ngoại, có mặt.

2. MAN SỸ T, sinh ngày 22/12/1996 tại Bình Định; nơi cư trú: Thôn BA, xã PT, huyện TP, tỉnh Bình Định; nghề nghiệp: Không; trình độ văn hóa: 9/12; dân tộc: Kinh; giới tính: Nam; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Man Sỹ H, sinh năm 1973 và bà Lê Thị C, sinh năm 1973; vợ, con: Chưa có; tiền án, tiền sự: Không;

Nhân thân: Ngày 24.9.2014 bị Tòa án nhân dân tỉnh Bình Định xét xử phúc thẩm tuyên phạt 04 năm tù về tội “Cướp tài sản”, đã chấp hành xong hình phạt vào ngày 24.01.2017, đã được xóa án tích.

Bị cáo bị bắt tạm giam từ ngày 12 tháng 7 năm 2018 đến ngày 10 tháng 9 năm 2018 (61 ngày) được thay đổi biện pháp ngăn chặn, bị cáo tại ngoại, có mặt.

3. PHẠM ĐÌNH H, sinh ngày 05/9/2000 tại Bình Định; nơi cư trú: Thôn CA, xã PT, huyện TP, tỉnh Bình Định; nghề nghiệp: Không; trình độ văn hóa: 9/12; dân tộc: Kinh; giới tính: Nam; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Phạm Đình D (chết) và bà Trần Thị N, sinh năm 1975; tiền án, tiền sự: Không; bị cáo tại ngoại, có mặt.

4. NGUYỄN ĐĂNG K, sinh ngày 20/11/2000 tại Bình Định; nơi cư trú: Thôn BA, xã PT, huyện TP, tỉnh Bình Định; nghề nghiệp: Không; trình độ văn hóa: 11/12; dân tộc: Kinh; giới tính: Nam; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Nguyễn Phước T, sinh năm 1974 và bà Lê Thị Thúy A, sinh năm 1979; tiền án, tiền sự: Không; bị cáo tại ngoại, có mặt.

- Những người tham gia tố tụng khác có liên quan đến kháng cáo:

- Người đại diện hợp pháp của bị cáo:

Ông Đào Sanh M, sinh năm 1974 và bà Nguyễn Thị L, sinh năm 1971; nơi cư trú: Thôn AL, xã CV, huyện VC, tỉnh Bình Định, là cha mẹ của bị cáo Đào Trung L (Có mặt).

Ông Nguyễn Phước T, sinh năm 1974 và bà Lê Thị Thúy A, sinh năm 1979; nơi cư trú: Thôn BA, xã PT, huyện TP, tỉnh Bình Định, là cha mẹ của bị cáo Nguyễn Đăng K (Có mặt).

Bà Trần Thị Nữ, sinh năm 1975; nơi cư trú: Thôn CA, xã PT, huyện TP, tỉnh Bình Định, là mẹ của bị cáo Phạm Đình H (vắng mặt). Anh Phạm Đình D, sinh năm 1995; nơi cư trú Thôn CA, xã PT, huyện TP, tỉnh Bình Định, là anh ruột của bị cáo (có mặt)

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Khoảng 23 giờ 30 phút ngày 16/6/2018, Đào Trung L, Man Sỹ T, Nguyễn Đăng K, Phạm Đình H tập trung ăn cháo và xem đá bóng ở Ngã ba Phú Tài, phường TQD, thành phố QN. Trong lúc ngồi tại đây, L rủ T, K, H đi trộm tài sản, cả nhóm đồng ý đi. Sau khi thống nhất, cả nhóm góp tiền mua 01 kìm cộng lực, 01 đèn pin để làm công cụ đi trộm, rồi cả 04 người đi trên 02 xe môtô từ thị trấn Diêu Trì, Tuy Phước về hướng xã Cát Tiến, Phù Cát theo tỉnh lộ 640 tìm nhà dân sơ hở để trộm tài sản. Khoảng 02 giờ ngày 17/6/2018, khi đến thôn TT, xã CT, huyện PC thấy nhà anh Dương Hữu T (sinh năm: 1984) khóa cửa ngoài, L dùng kìm cắt hàng rào B40, ổ khóa cửa ra vào rồi cùng với T vào trong nhà, K và H đứng ngoài xe chờ sẵn và cảnh giới. Sau khi đột nhập vào trong nhà anh Toàn, L và T lục tìm tài sản, lấy trộm 01 TV nhãn hiệu TCL 32inch và 02 điều khiển từ xa; 01 laptop ASUS K45A và bộ sạc nguồn; 01 máy quạt hơi nước hiệu Yakyo, 200.000 đồng đem ra ngoài lên xe môtô tẩu thoát. Đến 04 giờ cùng ngày, L và T chở số tài sản vừa trộm đến bán cho bà Đặng Thị Q ở khu công nghiệp Phú Tài, phường Bùi Thị Xuân, thành phố Quy Nhơn; do không biết là tài sản trộm cắp mà có nên bà Q mua số tài sản trên với giá 8.000.000 đồng để sử dụng, sau đó các bị can chia mỗi người 2.000.000 đồng tiêu xài cá nhân. Hội đồng định giá tài sản trong tố tụng hình sự huyện Phù Cát kết luận trị giá tài sản bị chiếm đoạt trong vụ án là 7.000.000 đồng.

* Vật chứng của vụ án: Cơ quan CSĐT Công an huyện PC tạm giữ:

- 01 TV nhãn hiệu TCL 32inch và 02 điều khiển từ xa; 01 laptop ASUS K45A và bộ sạc nguồn; 01 máy quạt hơi nước hiệu Yakyo. Cơ quan CSĐT Công an huyện PC đã xử lý trả lại cho chủ sở hữu.

- 01 kìm cộng lực dài 31cm;

- 01 tuốt- nơ- vít dài 19cm;

Về dân sự: Đã giải quyết xong, anh Dương Hữu T và bà Đặng Thị Q không có yêu cầu gì thêm.

Tại bản án hình sự sơ thẩm số 27/2018/HS-ST ngày 22/10/2018 của Tòa án nhân dân huyện PC đã quyết định:

Tuyên bố các bị cáo Đào Trung L, Man Sỹ T, Phạm Đình H, Nguyễn Đăng K phạm tội “Trộm cắp tài sản”.

* Áp dụng: Khoản 1 Điều 173; điểm b, s khoản 1, khoản 2 Điều 51 Bộ luật hình sự.

* Xử phạt: Bị cáo Man Sỹ T 07 (bảy) tháng tù, trừ thời gian tạm giam 02 tháng 01 ngày (07 tháng – 02 tháng 01 ngày = 04 (bốn) tháng 29 (hai mươi chín) ngày). Thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày bị bắt đi thi hành án.

* Áp dụng: Khoản 1 Điều 173; điểm b, i, s khoản 1, khoản 2 Điều 51, Điều 54, Điều 91, Điều 101 Bộ luật hình sự.

* Xử phạt: Bị cáo Đào Trung L 04 (bốn) tháng tù. Thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày bị bắt đi thi hành án.

* Áp dụng: Khoản 1 Điều 173; điểm b, i, s khoản 1, khoản 2 Điều 51, Điều 54, Điều 91, Điều 101 Bộ luật hình sự.

* Xử phạt: Bị cáo Phạm Đình H 03 (ba) tháng tù. Thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày bị bắt đi thi hành án.

* Áp dụng: Khoản 1 Điều 173; điểm b, i, s khoản 1, khoản 2 Điều 51, Điều 54, Điều 91, Điều 101 Bộ luật hình sự.

* Xử phạt: Bị cáo Nguyễn Đăng K 03 (ba) tháng tù. Thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày bị bắt đi thi hành án.

Ngoài ra Tòa án cấp sơ thẩm còn quyết định về xử lý vật chứng, án phí và quyền kháng cáo của những người tham gia tố tụng.

- Ngày 29/10/2018 các bị cáo Man Sỹ T, Nguyễn Đăng K, Phạm Đình H kháng cáo yêu cầu giảm hình phạt.

- Ngày 31/10/2018 bị cáo Đào Trung L kháng cáo yêu cầu giảm hình phạt và xin hưởng án treo.

Tại phiên toà Kiểm sát viên đề nghị quan điểm giải quyết vụ án: Không chấp nhận kháng cáo của các bị cáo Đào Trung L, Man Sỹ T, Phạm Đình H, Nguyễn Đăng K; Giữ nguyên bản án sơ thẩm.

NHẬN ĐỊNH CỦA TOÀ ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên toà, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

Tại phiên tòa phúc thẩm, bị cáo khai nhận hành vi phạm tội phù hợp với lời khai của bị cáo tại cơ quan điều tra, tại phiên tòa sơ thẩm, phù hợp với các tài liệu có trong hồ sơ vụ án. Ngày 16/6/2018 các bị cáo Đào Trung L, Man Sỹ T, Phạm Đình H, Nguyễn Đăng K đã thực hiện hành vi trộm cắp 01 TV nhãn hiệu TCL 32inch và 02 điều khiển từ xa; 01 laptop ASUS K45A và bộ sạc nguồn; 01 máy quạt hơi nước hiệu Yakyo và 200.000 đồng. Tổng giá trị tài sản chiếm đoạt 7.000.000đ. Do đó Tòa án sơ thẩm đã xét xử bị cáo về tội “Trộm cắp tài sản” theo khoản 1 Điều 173 BLHS là đúng quy định pháp luật.

Xét kháng cáo của các bị cáo HĐXX thấy rằng: Xét thấy vụ án này mang tính chất đồng phạm giản đơn, bị cáo L là người khởi xướng và là người thực hành tích cực, trước khi phạm tội trộm cắp tài sản bị cáo còn có hành vi tiêu thụ tài sản do người khác phạm tội mà có, hiện nay bị cáo bị Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Bình Định truy tố về tội “Tiêu thụ tài sản do người khác phạm tội mà có”. Điều này cho thấy bị cáo rất xem thường pháp luật. Đối với bị cáo Man Sỹ T có nhân thân xấu. Ngày 24.9.2014 bị Tòa án nhân dân tỉnh Bình Định xét xử phúc thẩm tuyên phạt 04 năm tù về tội “Cướp tài sản”. Bị cáo đã được xóa án tích nhưng không chịu tu dưỡng, rèn luyện bản thân lại tiếp tục lao vào con đường phạm tội. Do đó HĐXX không chấp nhận kháng cáo xin giảm hình phạt và xin hưởng án treo đối với hai bị cáo L và T.

Đối với bị cáo Nguyễn Đăng K bị bị cáo Đào Trung L rủ rê cùng thực hiện hành vi trộm cắp, tuy nhiên bị cáo K từ chối không đột nhập vào nhà bị hại lấy tài sản mà chỉ đứng ngoài cảnh giới; bị cáo Phạm Đình H đồng phạm với vai trò giúp sức tích cực. Án sơ thẩm đã xem xét các tình tiết giảm nhẹ như khi phạm tội đều dưới 18 tuổi, nhân thân các bị cáo đều chưa có tiền án tiền sự; các bị cáo phạm tội lần đầu thuộc trường hợp ít nghiêm trọng, sau khi phạm tội các bị cáo đều khai báo thành khẩn, ăn năn hối cải, tài sản đã được thu hồi trả lại cho lại bị hại, do đó bị cáo được hưởng các tình tiết giảm nhẹ quy định tại điểm b, i, s, khoản 1, khoản 2 Điều 51 BLHS, án sơ thẩm xử phạt mỗi bị cáo 03 tháng tù là phù hợp. Tuy nhiên xét về độ tuổi thì bị cáo K khi phạm tội mới 17 tuổi 06 tháng 26 ngày, trong vụ án này bị cáo giữ vai trò thứ yếu, hơn nữa bị cáo có nơi cư trú rõ ràng nên không cần thiết cách ly bị cáo ra khỏi đời sống xã hội mà xử bị cáo hình phạt tù có điều kiện cũng đủ tác dụng giáo dục bị cáo thành công dân tốt cho xã hội. Do đó, HĐXX cấp phúc thẩm chấp nhận kháng cáo xin được hưởng án treo của bị cáo K, không chấp nhận kháng cáo xin được hưởng án treo của bị cáo H.

Về án phí: Kháng cáo của các bị cáo Đào Trung L, Man Sỹ T, Phạm Đình H không được chấp nhận nên các bị cáo phải chịu án phí Hình sự phúc thẩm.

Kháng cáo của bị cáo Nguyễn Đăng K được chấp nhận nên bị cáo K không phải chịu án phí Hình sự phúc thẩm.

Các quyết định khác của bản án sơ thẩm không có kháng cáo, kháng nghị giữ nguyên.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

[1] Căn cứ vào điểm a, b khoản 1 Điều 355; Điều 356; điểm e khoản 1 Điều 357 của Bộ luật tố tụng hình sự. Không chấp nhận kháng cáo của bị cáo Đào Trung L, Man Sỹ T, Phạm Đình H; Chấp nhận kháng cáo của bị cáo Nguyễn Đăng K; Sửa bản án sơ thẩm.

* Áp dụng: Khoản 1 Điều 173; điểm b, s khoản 1, khoản 2 Điều 51 Bộ luật hình sự.

* Xử phạt: Bị cáo Man Sỹ T 07 (bảy) tháng tù, trừ thời gian tạm giam 02 tháng 01 ngày (07 tháng – 02 tháng 01 ngày = 04 (bốn) tháng 29 (hai mươi chín) ngày). Thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày bị bắt đi thi hành án.

* Áp dụng: Khoản 1 Điều 173; điểm b, i, s khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 54; Điều 91; Điều 101 Bộ luật hình sự.

* Xử phạt: Bị cáo Đào Trung L 04 (bốn) tháng tù. Thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày bị bắt đi thi hành án.

* Áp dụng: Khoản 1 Điều 173; điểm b, i, s khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 54; Điều 91; Điều 101 Bộ luật hình sự.

* Xử phạt: Bị cáo Phạm Đình H 03 (ba) tháng tù. Thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày bị bắt đi thi hành án.

* Áp dụng: Khoản 1 Điều 173; điểm b, i, s khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 54; Điều 91; Điều 101; Điều 65 Bộ luật hình sự.

* Xử phạt: Bị cáo Nguyễn Đăng K 03 (ba) tháng tù nhưng cho hưởng án treo. Thời gian 12 tháng tính từ ngày tuyên án phúc thẩm.

Giao bị cáo K cho UBND xã PT, huyện TP, tỉnh Bình Định giám sát giáo dục trong thời gian thử thách. Trường hợp bị cáo có thay đổi nơi cư trú thì thực hiện theo quy định tại khoản 1 Điều 69 của luật Thi hành án hình sự.

Trong thời gian thử thách, người được hưởng án treo cố ý vi phạm nghĩa vụ 02 lần trở lên thì Tòa án có thể quyết định buộc người được hưởng án treo phải chấp hành hình phạt tù của bản án đã cho hưởng án treo.

[2] Về án phí: Các bị cáo Đào Trung L, Man Sỹ T, Phạm Đình H, mỗi bị cáo phải chịu 200.000 đồng án phí HSPT.

Bị cáo Nguyễn Đăng K không phải chịu án phí HSPT.

Các quyết định khác của bản án sơ thẩm không có kháng cáo, kháng nghị có hiệu lực pháp luật kể từ ngày hết thời hạn kháng cáo, kháng nghị.

Bản án phúc thẩm có hiệu lực pháp luật kể từ ngày tuyên án.

Cỡ chữ