vanban.org

Bản án 15/2019/HNGĐ-ST — Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình

Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Về hôn nhân: Chấp nhận yêu cầu của nguyên đơn, cho chị H’ O được ly hôn với anh Y K.

Về con chung: Công nhận sự thoả thuận của các đương sự: Giao con chung tên là Y L, sinh ngày 04/9/2015, cho chị H’ O trực tiếp nuôi dưỡng và chăm sóc đến khi trưởng thành (Tròn 18 tuổi). Về cấp dưỡng nuôi con chung: Chị H’ O không yêu cầu nên không đặt ra giải quyết. Anh Y K được quyền đi lại thăm n… Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình — án hôn nhân và gia đình — "Chị H' O xin ly hôn với anh Y K"
  • Tòa quyết gì? Về hôn nhân: Chấp nhận yêu cầu của nguyên đơn, cho chị H’ O được ly hôn với anh Y K.
  • Căn cứ chính? Điều 144 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 28 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 35 Bộ luật Tố tụng dân sự
TOÀ ÁN NHÂN DÂN
THỊ XÃ BUÔN HỒ
TỈNH ĐẮK LẮK

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số:15/2019/HNGĐ-ST
Ngày 27 tháng 6 năm 2019
V/v Ly hôn, tranh chấp về nuôi con.

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN THỊ XÃ BUÔN HỒ

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán – chủ toạ phiên toà: Bà Đinh Thị Hường.

Các Hội thẩm nhân dân:

1. Bà Hoàng Thị Hồng.

2. Bà Nguyễn Thị Quỳnh Hải.

Thư ký phiên toà: Ông Thiều Sỹ Vững - Thư ký Tòa án nhân dân thị xã Buôn Hồ, tỉnh Đắk Lắk.

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thị xã Buôn Hồ tham gia phiên toà: Ông Nguyễn Văn Hồng.

Ngày 27/6/2019, tại trụ sở Toà án nhân dân thị xã Buôn Hồ xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số 91/2019/TLST–HNGĐ ngày 08/5/2019 về việc “Ly hôn, tranh chấp về nuôi con” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 15/2019/QĐXX-HNGĐ ngày 11 tháng 06 năm 2019 giữa các đương sự:

- Nguyên đơn: Chị H’ O, có mặt.

Địa chỉ: Buôn E, xã C, thành phố B, Đắk Lắk.

- Bị đơn: Anh Y K, có mặt.

Địa chỉ: Buôn K, xã C, thị xã B, Đắk Lắk

-Người phiên dịch: Ông Y Lar Mlô- Chuyên viên phòng tư pháp thị xã Buôn Hồ, Đắk Lắk, có mặt.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Tại đơn khởi kiện đề ngày 23/4/2019 và trong quá trình xét xử, nguyên đơn chị H’On Ê Ban trình bày:

Về quan hệ hôn nhân: Tôi và anh Y K tự nguyện đăng ký kết hôn với nhau ngày 19/10/2015 tại UBND xã Cư Ê Bur, TP Buôn Ma Thuột, tỉnh Đắk Lắk. Quá trình sống chung vợ chồng tôi không hạnh phúc, đến năm 2017 thì phát sinh nhiều mâu thuẫn, nguyên nhân là do anh Y K hay uống rượu, chửi bới, xúc phạm danh dự tôi, vợ chồng sống ly thân từ tháng 02/2017 cho đến nay. Nay nguyện vọng của tôi xin ly hôn với anh Y K.

Về con chung: Quá trình sống chung chúng tôi có 01 con chung tên là Y L, sinh ngày 04/9/2015, tôi có nguyện vọng được nuôi con chung. Về cấp dưỡng nuôi con: Quá trình hoà giải chị H’ O yêu cầu anh Y K có nghĩa vụ cấp dưỡng nuôi con chung theo quy định của pháp luật, nhưng tại phiên toà chị H’ O trình bày không yêu cầu anh Y K cấp dưỡng nuôi con chung.

Về tài sản và công nợ chung: Tôi không yêu cầu Toà án giải quyết.

-Bị đơn anh Y K trình bày:

Về quan hệ hôn nhân: Tôi và cô H’ O tự nguyện đăng ký kết hôn với nhau ngày 19/10/2015 tại UBND xã Cư Ê Bur, TP Buôn Ma Thuột, tỉnh Đắk Lắk. Quá trình sống chung vợ chồng tôi sống hạnh phúc, đến năm 2017 thì phát sinh mâu thuẫn, nguyên nhân là do tôi có mâu thuẫn với bố mẹ vợ, vợ chồng sống ly thân từ tháng 02/2017 cho đến nay. Nay cô H’ O xin ly hôn thì tôi không đồng ý, lý do là do hai bên chưa giải quyết xong về phong tục tập quán của người Ê Đê nên tôi không đồng ý ly hôn.

Về con chung: Quá trình sống chung chúng tôi có 01 con chung tên là Y L, sinh ngày 04/9/2015, tôi đồng ý giao con chung cho cô H’ O trực tiếp nuôi dưỡng và chăm sóc đến khi trưởng thành (Tròn 18 tuổi). Tôi không có nghĩa vụ cấp dưỡng.

Về tài sản và công nợ chung: Tôi không yêu cầu Toà án giải quyết.

Tại biên bản xác minh ngày 17/6/2019 của Toà án nhân dân thị xã Buôn Hồ về tình trạng hôn nhân của chị H’ O và anh Y K như sau: Chị H’ O và anh Y K kết hôn trên cơ sở tự nguyện, có đăng ký kết hôn ngày 19/10/2015 tại UBND xã Cư Ê Bur, TP Buôn Ma Thuột, tỉnh Đắk Lắk. Sau khi kết hôn chị H’ O và anh Y K chung sống đến năm 2017 thì phát sinh mâu thuẫn, nguyên nhân mâu thuẫn là do anh Y K thường xuyên uống rượu say xĩn về chửi bới xúc phạm chị H’ O và vợ chồng anh chị đã sống ly thân từ tháng 02/2017 cho đến nay.

Đại diện VKSND thị xã Buôn Hồ phát biểu ý kiến về việc tuân theo pháp luật tố tụng trong quá trình giải quyết vụ án của Thẩm phán, Hội đồng xét xử, Thư ký, nguyên đơn kể từ khi thụ lý vụ án cho đến tại phiên tòa đã tuân thủ đúng trình tự, thủ tục và các quy định của pháp luật tố tụng dân sự. Về nội dung đề nghị HĐXX chấp nhận yêu cầu của nguyên đơn, cho chị H’ O ly hôn với Y K, về con chung: Giao con chung Y L, sinh ngày 04/9/2015, cho chị H’ O trực tiếp nuôi dưỡng và chăm sóc đến khi trưởng thành (Tròn 18 tuổi). Về cấp dưỡng nuôi con chung và về tài sản chung chị H’ O không yêu cầu nên không đặt ra giải quyêt.

Tại phiên toà nguyên đơn chị H’ O giữ nguyên yêu cầu.

NHẬN ĐỊNH CỦA TOÀ ÁN:

Sau khi nghiên cứu, xem xét các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phiên toà, căn cứ kết quả tranh tụng tại phiên toà, Hội đồng xét xử nhận thấy:

Về thủ tục tố tụng: Chị H’ O và anh Y K kết hôn với nhau trên cơ sở tự nguyện, có đăng ký kết hôn ngày 19/10/2015 tại UBND xã Cư Ê Bur, TP Buôn Ma Thuột, tỉnh Đắk Lắk, đây là hôn nhân hợp pháp khi có tranh chấp thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án theo quy định tại khoản 1 Điều 28 BLTTDS.

Về nội dung tranh chấp:

Xét yêu cầu của nguyên đơn HĐXX thấy: Chị H’ O và anh Y K kết hôn với nhau ngày 19/10/2015, sống hạnh phúc đến năm 2017 thì phát sinh mâu thuẫn. Nguyên nhân do vợ chồng sống không hoà hợp, anh Y K thường xuyên uống rượu say xĩn về chửi bới xúc phạm chị H’ O và vợ chồng anh chị đã sống ly thân từ tháng 02/2017 cho đến nay. Xét thấy, tình trạng hôn nhân trầm trọng, đời sống chung không thể kéo dài, mục đích hôn nhân không đạt được. Chị H’ O yêu cầu được ly hôn anh Y K cơ bản phù hợp với biên bản xác minh tình trạng hôn nhân và phù hợp với khoản 1 Điều 51, khoản 1 Điều 56 Luật hôn nhân và gia đình năm 2014 nên cần chấp nhận.

Về con chung: Công nhận sự thoả thuận của các đương sự: Giao con chung tên là Y L, sinh ngày 04/9/2015, cho chị H’ O trực tiếp nuôi dưỡng và chăm sóc đến khi trưởng thành (Tròn 18 tuổi).

Về cấp dưỡng nuôi con chung: Tại phiên toà chị H’ O không yêu cầu cấp dưỡng nuôi con chung nên HĐXX không đặt ra giải quyết.

Về tài sản và công n chung: Các bên đương sự không yêu cầu nên HĐXX không xem xét giải quyết.

Về án phí: Chị H’ O chịu án phí ly hôn sơ thẩm theo quy định của pháp luật.

Vì các lẽ trên;

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ khoản 1 Điều 28; điểm a khoản 1 Điều 35; điểm a khoản 1 Điều 39; Điều 144 Bộ luật Tố tụng dân sự. Áp dụng khoản 1 Điều 51; khoản 1 Điều 56; các Điều 58, 81, 82, 83, 84 Luật hôn nhân và gia đình năm 2014. Áp dụng điểm a khoản 5 Điều 27 nghị quyết số 326/2016/UBTVQH12 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ quốc hội về án phí, lệ phí Tòa án.

Tuyên xử:

- Về hôn nhân: Chấp nhận yêu cầu của nguyên đơn, cho chị H’ O được ly hôn với anh Y K.

- Về con chung: Công nhận sự thoả thuận của các đương sự: Giao con chung tên là Y L, sinh ngày 04/9/2015, cho chị H’ O trực tiếp nuôi dưỡng và chăm sóc đến khi trưởng thành (Tròn 18 tuổi). Về cấp dưỡng nuôi con chung: Chị H’ O không yêu cầu nên không đặt ra giải quyết.

Anh Y K được quyền đi lại thăm nom con chung mà không ai được cản trở, vì lợi ích của con theo yêu cầu của một hoặc cả hai bên Tòa án có thể quyết định thay đổi người trực tiếp nuôi dưỡng con chung.

- Về tài sản và công nợ chung: Chị H’ O và anh Y K không yêu cầu nên Toà án không xem xét giải quyết.

- Về án phí: Chị H’ O chịu 300.000đ án phí ly hôn sơ thẩm được khấu trừ 300.000 đồng tiền tạm ứng án phí đã nộp theo biên lai số AA/2019/0000040, ngày 07/5/2019 đã nộp tại cục thi hành án dân sự thị xã Buôn Hồ, tỉnh Đắk Lắk.

Nguyên đơn, bị đơn có quyền kháng cáo án sơ thẩm trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án.

Cỡ chữ