- Tranh chấp gì? Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình — án hôn nhân và gia đình — "Nguyễn Thị Phượng xin ly hôn Nguyễn Việt Hoàng"
- Tòa quyết gì? Về hôn nhân: Chấp nhận đơn khởi kiện của chị Nguyễn Thị P, cho chị Nguyễn Thị P được ly hôn anh Nguyễn Việt H.
- Căn cứ chính? Điều 147 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 227 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 228 Bộ luật Tố tụng dân sự
| TÒA ÁN ND HUYỆN NGA SƠN TỈNH THANH HÓA | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Bản án số: 15/2019/HNGĐ-ST Ngày: 06-5-2019 V/v: Ly hôn, tranh chấp về nuôi con. |
NHÂN DANH
NƢỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN NGA SƠN, TỈNH THANH HOÁ
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà: Ông Tạ Văn Tuyển.
Các Hội thẩm nhân dân: Bà Nguyễn Thị Minh;
Ông Đỗ Xuân Thái.
- Thư ký phiên toà: Bà Nguyễn Thị Nga - Thư ký Tòa án nhân dân huyện Nga Sơn, tỉnh Thanh Hóa.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Nga Sơn, tỉnh Thanh Hóa tham gia phiên tòa: Bà Trịnh Thị Hiền - Kiểm sát viên.
Ngày 06 tháng 5 năm 2019 tại trụ sở Toà án nhân dân huyện Nga Sơn, tỉnh Thanh Hóa xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số 246/2018/TLST-HNGĐ ngày 05 tháng 12 năm 2018 về việc: “Ly hôn, tranh chấp về nuôi con” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 11/2019/QĐXXST-HNGĐ ngày 22 tháng 3 năm 2019 và Quyết định hoãn phiên tòa số 08/2019/QĐST-HNGĐ ngày 10/4/2019 giữa các đương sự:
- Nguyên đơn: Chị Nguyễn Thị P, sinh năm 1991; địa chỉ: xóm 8, xã L, huyện N, tỉnh Thanh Hóa; có mặt tại phiên tòa.
- Bị đơn: Anh Nguyễn Việt H, sinh năm 1991; địa chỉ: xóm 3, xã T, huyện N, tỉnh Thanh Hóa; vắng mặt tại phiên tòa.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Tại đơn khởi kiện đề ngày 04 tháng 12 năm 2018 và trong quá trình xét xử cũng như tại phiên tòa, nguyên đơn Nguyễn Thị P trình bày:
Về hôn nhân: Chị và anh Nguyễn Việt H kết hôn trên cơ sở tự nguyện, đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân (UBND) xã L, huyện N, tỉnh Thanh Hóa vào ngày 19/2/2013. Sau khi kết hôn, vợ chồng chung sống hạnh P, đến năm 2016 thì xảy ra mâu thuẫn. Nguyên nhân mâu thuẫn là do tính tình vợ chồng không hòa hợp, quan điểm sống hoàn toàn trái ngược nhau, cuộc sống vợ chồng thường xuyên xung đột, vợ chồng không tìm được tiếng nói chung. Chị và anh H đã sống ly thân nhau từ tháng 8 năm 2016 đến nay, không ai quan tâm đến ai. Nay chị xét thấy tình cảm vợ chồng không còn, mục đích hôn nhân không đạt được, việc níu kéo chỉ thêm đau khổ cho cả hai bên nên đề nghị Tòa án giải quyết cho chị được ly hôn anh H.
Về con: Vợ chồng có 01 con chung tên là Nguyễn Thiên P, sinh ngày 02/11/2015. Hiện nay cháu P đang ở với chị, chị đề nghị được trực tiếp nuôi dưỡng con và không yêu cầu anh H cấp dưỡng tiền nuôi con chung.
Về tài sản: Chị P không yêu cầu Tòa án giải quyết.
Đối với bị đơn Nguyễn Việt H: Sau khi thụ lý vụ án, Tòa án đã giao thông báo về việc thụ lý vụ án, thông báo về phiên họp kiểm tra việc giao nộp, tiếp cận, công khai chứng cứ và hòa giải hợp lệ cho anh H, nhưng anh H cố tình vắng mặt, không đến Tòa án để thực hiện việc giao nộp, tiếp cận, công khai chứng cứ và hòa giải, nên Tòa án không tiến hành hòa giải được. Tòa án cũng đã giao quyết định đưa vụ án ra xét xử nhưng phiên tòa ngày 10/4/2019, anh H vắng mặt nên Hội đồng xét xử (HĐXX) quyết định hoãn phiên tòa theo quy định tại khoản 1 Điều 227 BLTTDS. Tại phiên tòa hôm nay, anh H vẫn vắng mặt nên HĐXX quyết định xét xử vắng mặt anh H.
Vụ án có liên quan đến người chưa thành niên nên Tòa án tiến hành thu thập tài liệu chứng cứ để xác định nguyên nhân của việc phát sinh tranh chấp theo quy định tại khoản 3 Điều 208 BLTTDS.
Tại phiên tòa, nguyên đơn chị Nguyễn Thị P vẫn giữ nguyên quan điểm về quan hệ hôn nhân, con chung và tài sản.
Tại phiên tòa, đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Nga Sơn phát biểu ý kiến:
- Việc tuân theo pháp luật tố tụng dân sự: Thẩm phán, HĐXX, Thư ký phiên tòa đã thực hiện đúng quy định của pháp luật. Nguyên đơn chấp hành các quyền và nghĩa vụ theo quy định của pháp luật, bị đơn chưa thực hiện các quyền và nghĩa vụ theo quy định của pháp luật.
- Về việc giải quyết vụ án: Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của chị Nguyễn Thị P.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phiên tòa và ý kiến của nguyên đơn tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định:
Về tố tụng dân sự: Chị Nguyễn Thị P có đơn đề nghị Tòa án nhân dân huyện Nga Sơn, tỉnh Thanh Hóa giải quyết việc ly hôn giữa chị và anh Nguyễn Việt H. Theo quy định tại khoản 1 Điều 28; điểm a khoản 1 Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 39 của BLTTDS thì vụ án thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân huyện Nga Sơn, tỉnh Thanh Hóa.
Ngày 10/4/2019, Tòa án đã đưa vụ án ra xét xử lần thứ nhất, anh H vắng mặt không có lý do nên phải hoãn phiên tòa. Tại phiên tòa hôm nay, anh H vẫn vắng mặt. Theo quy định tại điểm b khoản 2 Điều 227; khoản 3 Điều 228 BLTTDS, HĐXX tiến hành xét xử lần hai vắng mặt anh H.
Về hôn nhân: Chị Nguyễn Thị P và anh Nguyễn Việt H kết hôn với nhau trên cơ sở tự nguyện, có đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân xã L, huyện N, tỉnh Thanh Hóa vào ngày 19/02/2013 là hôn nhân hợp pháp. Sau khi kết hôn vợ chồng chung sống hạnh phúc đến năm 2016 thì phát sinh mâu thuẫn. Nguyên nhân mâu thuẫn theo chị P trình bày là do tính tình vợ chồng không hòa hợp, quan điểm sống hoàn toàn trái ngược nhau, cuộc sống vợ chồng thường xuyên xung đột, vợ chồng không tìm được tiếng nói chung. Vợ chồng đã sống ly thân nhau từ tháng 8 năm 2016 đến nay, không còn quan tâm gì đến nhau nữa, việc níu kéo cũng chỉ thêm đau khổ cho cả hai bên nên chị yêu cầu được ly hôn anh Nguyễn Việt H, chứng tỏ tình cảm của chị P đối với anh H không còn. Mặc dù anh H đã được nhận các văn bản tố tụng hợp lệ nhưng anh H không đến Tòa án làm việc, không có ý kiến về việc chị P xin ly hôn với anh. Như vậy, chứng tỏ anh H cũng không tha thiết gì đến việc hàn gắn hôn nhân, níu kéo tình cảm vợ chồng. Tại biên bản xác minh ngày 18/02/2019, xóm trưởng xóm 3, xã T (nay là thôn Đô Lương) xác nhận nguyên nhân mâu thuẫn chủ yếu là do bất đồng quan điểm sống. Hiện tại chị P và anh H đã ly thân, chị P đã đưa con trai về nhà bố mẹ ở tại xã L, huyện N. HĐXX thấy cuộc hôn nhân của anh chị đã lâm vào tình trạng trầm trọng, đời sống chung không thể kéo dài, mục đích của hôn nhân không đạt được, cần giải quyết cho chị P được ly hôn anh H là phù hợp với quy định của pháp luật.
Về con: Chị P và anh H cã 01 con chung lµ Nguyễn Thiên P, sinh ngày 02/11/2015. ChÞ P cã nguyÖn väng ® îc trùc tiÕp nu«i con, không yêu cầu anh H cấp dưỡng tiền nuôi con chung. XÐt thÊy hiÖn nay ch¸u P cßn nhá tuæi cÇn ph¶i cã sù ch¨m sãc cña ng êi mÑ nªn cần xử giao cháu Nguyễn Thiên P cho chÞ P trùc tiÕp nu«i d ìng, anh H không phải cấp dưỡng tiền nuôi con chung là phù hợp.
Về tài sản: Chị P không yêu cầu Tòa án giải quyết về tài sản, nên miễn xét.
Về án phí: Chị Nguyễn Thị P là nguyên đơn nên phải chịu án phí dân sự sơ thẩm (DSST) về việc ly hôn theo quy định của pháp luật.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Áp dụng khoản 1 Điều 56, Điều 81, Điều 82, Điều 83 Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014; điểm a khoản 1 Điều 35, khoản 4 Điều 147, Điều 271, điểm b khoản 2 Điều 227; khoản 3 Điều 228; khoản 1 Điều 273 Bộ luật tố tụng dân sự; điểm a khoản 1 Điều 24, điểm a khoản 5 Điều 27 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án:
1. Về hôn nhân: Chấp nhận đơn khởi kiện của chị Nguyễn Thị P, cho chị Nguyễn Thị P được ly hôn anh Nguyễn Việt H.
2. Về con: Giao cháu Nguyễn Thiên P, sinh ngày 02/11/2015 cho chị Nguyễn Thị P trực tiếp nuôi dưỡng. Anh Nguyễn Việt H không phải cấp dưỡng tiền nuôi con chung. Anh H có quyền và nghĩa vụ thăm nom, chăm sóc, giáo dục và nuôi dưỡng con chung, không ai được cản trở.
3. Về án phí: Chị Nguyễn Thị P phải chịu án phí DSST về việc ly hôn là 300.000đ (ba trăm nghìn đồng), nhưng được trừ vào số tiền tạm ứng án phí DSST đã nộp là 300.000đ (ba trăm nghìn đồng) theo biên lai thu tạm ứng án phí, lệ phí toà án số AA/2017/0004957 ngày 04/12/2018 của Chi cục Thi hành án dân sự huyện Nga Sơn, chị P đã nộp đủ án phí DSST.
Về quyền kháng cáo: Chị Nguyễn Thị P có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án, anh Nguyễn Việt H có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết.
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM
| Nơi nhận: - Các đương sự; - VKSND huyện Nga Sơn; - UBND xã L, huyện N, tỉnh Thanh Hóa; - Lưu hồ sơ vụ án. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ HỘI THẨM NHÂN DÂN Dƣơng Thị Thắm Mai Thị Bình | THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TOÀ Tạ Văn Tuyển TP - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Tạ Văn Tuyển |