- Tranh chấp gì? Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình — án hôn nhân và gia đình — "Ly hon giua ba Lai va ong Sung"
- Tòa quyết gì? Về hôn nhân: Không công nhận bà Nguyễn Thị L và ông Trần Văn S là vợ chồng.
- Căn cứ chính? Điều 14 Luật Hôn nhân và gia đình; Điều 147 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 227 Bộ luật Tố tụng dân sự
| TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN CẦU NGANG TỈNH TRÀ VINH | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Bản án số: 15 /2019/HNGĐ-ST Ngày: 19/4/2019 “V/v Tranh chấp ly hôn” |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN CẦU NGANG TỈNH TRÀ VINH
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Nguyễn Ngọc Tranh.
Các Hội thẩm nhân dân:
Ông Mai Thanh Chúc.
Ông Nguyễn Bỉnh Khiêm.
- Thư ký phiên tòa: Ông Chung Hữu Toàn - Thư ký Tòa án nhân dân huyện Cầu Ngang, tỉnh Trà Vinh.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Cầu Ngang, tỉnh Trà Vinh: Ông Diệp Tấn Sỹ, Kiểm sát viên.
Ngày 19 tháng 4 năm 2019 tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Cầu Ngang xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số 38/2018/TLST-HNGĐ ngày 11 tháng 12 năm 2018 về “Ly hôn”, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 16/2019/QĐXXST-HNGĐ ngày 29/3/2019 giữa các đương sự:
Nguyên đơn: Bà Nguyễn Thị L, sinh năm 1968, địa chỉ: Ấp T, xã M, huyện C, tỉnh Trà Vinh. có mặt.
Bị đơn: Ông Trần Văn S, sinh năm 1965, địa chỉ: Ấp T, xã M, huyện C, tỉnh Trà Vinh, xin xét xử vắng mặt.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo đơn khởi kiện, lời khai tại Tòa án và trong quá trình xét xử nguyên đơn bà Nguyễn Thị L trình bày yêu cầu như sau:
+ Về hôn nhân: Vào năm 1993 bà L và ông Trần Văn S có xác lập quan hệ vợ chồng nhưng không đăng ký kết hôn, thời gian đầu vợ chồng sống hạnh phúc được khoảng 4 năm thì phát sinh mâu thuẫn, ông S thường hay đi uống rượu về kiếm chuyện chửi, nên vợ chồng thường xuyên cãi vả, vì con nên bà L cố gắng sống cho đến đầu năm 2018 thì ly thân. Xét thấy tình cảm không còn, mục đích hôn nhân không đạt được, nay bà L yêu cầu ly hôn với với ông S.
+ Về con chung: Có 01 con chung tên Trần Bá N sinh ngày 19/01/1994 đã trưởng thành và có khả năng lao động nên bà L không yêu cầu Tòa án giải quyết
+ Về tài sản chung: Bà L không yêu cầu Tòa án giải quyết.
+ Về nợ chung: Không có, không yêu cầu Tòa án giải quyết.
Tại phiên tòa hôm nay bị đơn ông Trần Văn S vắng mặt, tuy nhiên ông Trần Văn S có lời khai như sau:
Ông S và bà Nguyễn Thị L cưới nhau năm 1992 rồi về sống chung, lúc đó chính quyền địa phương có khuyến khích đăng ký kết hôn nhưng vì lo làm ăn nên không đi đăng ký kết hôn cho đến ngày nay. Thời gian sống hạnh phúc thì có một con chung tên Trần Bá N sinh năm 1994 nay đã trưởng thành. Nguyên nhân vợ chồng mâu thuẫn từ chuyện tiền bạc nên vợ chồng thường xuyên cự cải nhau, vợ chồng ly thân từ năm 2018. Nay bà L yêu cầu ly hôn thì ông S đồng ý ly hôn. Tài sản chung ông S không yêu cầu Tòa án giải quyết. Về nợ chung không yêu cầu Tòa án giải quyết.
Lời phát biểu của Kiểm sát viên:
Về thủ tục tố tụng:Việc tuân theo pháp luật tố tụng trong quá trình giải quyết vụ án của Thẩm phán từ khi thụ lý hồ sơ vụ án cho đến trước khi Hội đồng xét xử nghị án đều thực hiện đúng quy định của Bộ luật tố tụng dân sự. Các đương sự chưa thực hiện đúng quyền và nghĩa vụ theo quy định của Bộ luật tố tụng dân sự.
Về nội dung: Đề nghị Hội đồng xét xử tuyên xử không công nhận bà Nguyễn Thị L và ông Trần Văn S là vợ chồng. Về con chung tên Trần Bá N sinh ngày 19/01/1994 đã trưởng thành.Về nợ chung không có, tài sản chung không yêu cầu nên không xem xét. Bà L phải chịu án phí hôn nhân sơ thẩm theo quy định.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Sau khi nghiên cứu các tài liệu chứng cứ có trong hồ sơ vụ án đã được xem xét tại phiên tòa và căn cứ vào kết quả tranh tụng tại phiên toà. Tòa án nhân dân huyện Cầu Ngang nhận định:
Về thủ tục tố tụng: Xét đơn khởi kiện của bà Nguyễn Thị L khởi kiện tranh chấp ly hôn với ông Trần Văn S. Căn cứ vào khoản 1 Điều 28; Điều 35; Điều 39 của Bộ luật tố tụng dân sự xác định quan hệ pháp luật tranh chấp là Ly hôn thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án.
Ông Trần Văn S vắng mặt tại phiên tòa hôm nay nhưng có yêu cầu tòa án xét xử vắng mặt. Căn cứ vào Điều 227, Điều 228 của Bộ luật tố tụng dân sự xét xử vắng mặt ông S.
Về hôn nhân: Xét thấy bà L và ông S xác lập quan hệ hôn nhân vào năm 1993 nhưng không đăng ký kết hôn theo quy định của pháp luật là vi phạm Điều 9 của Luật hôn nhân và gia đình, vi phạm điểm b khoản 3 Nghị quyết số 35/2000/NQ –QH10 của Quốc hội nước cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam khóa X ngày 09 tháng 6 năm 2000. Mặc dù tại phiên tòa bà L xác định mâu thuẫn giữa bà và ông S là trầm trọng không hàn gắn được, ông S vắng mặt nhưng có lời khai thống nhất ly hôn theo yêu cầu của bà L, Tòa án cũng không thể chấp nhận cho bà L và ông S ly hôn được vì vi phạm pháp luật về hôn nhân và gia đình. Căn cứ vào các Điều 9, 14, 53 Luật hôn nhân và gia đình năm 2014 tuyên bố không công nhận bà L và ông S là vợ chồng.
Về con chung: Tên Trần Bá N sinh ngày 19/01/1994 đã trưởng thành, bà L, ông S không yêu cầu Tòa án giải quyết nên không xét.
Về tài sản chung: Bà L và ông S không yêu cầu nên không xem xét.
Về nợ chung: Bà L, ông S khai không có nên không xét.
Về án phí: Bà L phải chịu án phí hôn nhân sơ thẩm theo quy định.
Vì các lẽ trên;
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ khoản 1 Điều 28; Điều 35; Điều 39; Điều 147; Điều 227; Điều 228; Điều 271; Điều 273 của Bộ luật Tố tụng dân sự;
Căn cứ các Điều 9;14; 53 của Luật hôn nhân và gia đình;
Căn cứ điểm b khoản 3 Nghị quyết số 35/2000/NQ –QH10 của Quốc hội nước cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam khóa X ngày 09 tháng 6 năm 2000.
Căn cứ Điều 27 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.
Tuyên xử:
- Về hôn nhân: Không công nhận bà Nguyễn Thị L và ông Trần Văn S là vợ chồng.
- Về con chung: Tên Trần Bá N sinh ngày 19/01/1994 đã trưởng thành, bà L, ông S không yêu cầu Tòa án giải quyết nên không xét.
- Về tài sản chung: Bà L và ông S không yêu cầu Tòa án giải quyết nên không xem xét.
- Về nợ chung: Bà L và ông S khai không có nên không xét.
Về án phí: Bà Nguyễn Thị L phải chịu 300.000 đồng (Ba trăm nghìn đồng) án phí hôn nhân sơ thẩm và được khấu trừ vào số tiền tạm ứng án phí đã nộp là 300.000 đồng (Ba trăm nghìn đồng) theo biên lai thu số 0019244 ngày 07/12/2018 của Chi cục thi hành án dân sự huyện Cầu Ngang.
Về quyền kháng cáo: Bà Nguyễn Thị L có quyền kháng cáo trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án. Ông Trần Văn S có quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc từ ngày bản án được niêm yết hợp lệ.
“Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7, 7a và 9 Luật thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật thi hành án dân sự”.
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM
| Nơi nhận: - TAND tỉnh Trà Vinh; - VKSND huyện Cầu Ngang; - CCTHADS huyện Cầu Ngang; - Các đương sự; - Lưu hồ sơ vụ án. | THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Nguyễn Ngọc Tranh |