- Tranh chấp gì? Vụ án ly hôn do một bên ở nước ngoài — án hôn nhân và gia đình — "Bà Nguyễn Thị O - Ông Ko,Jae D"
- Tòa quyết gì? Điều 27 Nghị quyết 326/UBTVQH ngày 30/12/2016 của Uỷ ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn giảm, thu nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí tòa án.
- Căn cứ chính? Điều 121 Luật Hôn nhân và gia đình; Điều 123 Luật Hôn nhân và gia đình; Điều 127 Luật Hôn nhân và gia đình
| TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH QUẢNG BÌNH | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Bản án số: 15/2019/HNGĐ-ST Ngày 21-10-2019 V/v: “Ly hôn” |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH QUẢNG BÌNH
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa: Bà Võ Thị Kim Nhung
Các Hội thẩm nhân dân: 1. Ông Nguyễn Xuân Thí
2. Bà Trần Thị Ngọc Yến
- Thư ký phiên tòa: Bà Lê Thị Thúy Hằng - Thư ký Tòa án nhân dân tỉnh Quảng Bình
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Quảng Bình tham gia phiên tòa: Bà Trần Thị Tuyết Nhung – Kiểm sát viên.
Ngày 21 tháng 10 năm 2019, tại trụ sở Tòa án nhân dân tỉnh Quảng Bình xét xử sơ thẩm công khai vụ án dân sự sơ thẩm thụ lý số 30/2018/TLST-HNGĐ ngày 10/12/2018 về việc “Ly hôn” theo quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 1435/2019/QĐ-ST ngày 27/8/2019, giữa các đương sự:
Nguyên đơn: Bà Nguyễn Thi ̣ O, sinh ngày 10/6/1982
Hiê ̣n trú ta ̣i: Thôn H, Xã T, huyện B, tỉnh Quảng Bình. Có mặt.
Bị đơn: Ông Ko,Jae D, sinh ngày 08/6/1965
Hiê ̣n trú ta ̣i : Số 17, số 187, Ilsan-dong, Wonju-si, Kangwondo, Korea, Hàn Quốc.Vắng mặt.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo đơn khởi kiện về việc “Ly hôn” ngày 30/8/2018 và quá trình giải quyết vụ án, nguyên đơn bà Nguyễn Thi ̣ O trình bày:
Bà Nguyễn Thi ̣ O và ông Ko,Jae D sau một thời gian tìm hiểu đã đăng ký kết hôn tại cơ quan có thẩm quyền của Hàn Quốc; Về nước ghi chú vào sổ hộ tịch đã đăng ký trước cơ quan có thẩm quyền nước ngoài tại Sở tư pháp tỉnh Quảng Bình Việt Nam vào ngày 08/10/2007. Sau khi kết hôn, bà O xuất cảnh sang Hàn Quốc để đoàn tu ̣ cùng chồng . Tuy nhiên cuô ̣c sống vợ chồng sống chỉ hạnh phúc được mô ̣t thờ i gian ngắn thì phát sinh mâu thuẫn. Nguyên nhân là do giữa vợ chồng bất đồng về ngôn ngữ, phong tục tập quán và quan điểm sống nên bà O trở về Viê ̣t Nam. Từ đó đến nay giữa vợ chồng mất liên lạc và không còn quan tâm đến nhau nữa. Nhận thấy tình cảm vợ chồng hiện tại không còn, mục đích hôn nhân không đạt được nên bà O gửi đơn đến Tòa án nhân dân tỉnh Quảng Bình xin được ly hôn với ông Ko,Jae D.
Về con chung, tài sản chung và nợ chung: Không có
Về phía bị đơn ông Ko,Jae D, sau khi thụ lý vụ án, Tòa án đã nhiều lần ủy thác tư pháp thông qua cơ quan có thẩm quyền của Hàn Quốc yêu cầu cơ quan này tống đạt các văn bản tố tụng và thu thập lời khai đối với ông Ko,Jae D nhưng đến nay không thu được kết quả.
Ngày 09/7/2019 Tòa án nhân dân tỉnh Quảng Bình đã có công văn số
1184/CV-TA về viê ̣c đề nghi ̣ Đa ̣i sứ quán Viê ̣t Nam ta ̣i Hàn Quốc niêm yết văn bản tố tu ̣ng và thông báo giải quyết vu ̣ án trên cổng thông tin điê ̣n tử của Đa ̣i sứ quán Viê ̣t Nam ta ̣i Hàn Quốc.
Tòa án nhân dân tỉnh Quảng Bình đã làm thủ tục đăng tin thông báo về việc giải quyết ly hôn giữa bà Nguyễn Thi ̣ O và ông Ko,Jae D trên kênh hệ phát thanh đối ngoại quốc gia Đài tiếng nói Việt Nam VOV5. Ngày 15/8/2019, Hệ phát thanh đối ngoại quốc gia Đài tiếng nói Việt Nam đã gửi cho Tòa án nhân dân tỉnh Quảng Bình tài liệu về việc đã thông báo trên kênh thông tin dành cho người nước ngoài các nội dung liên quan đến việc giải quyết vụ án ly hôn giữa bà Nguyễn Thi ̣ O và ông Ko,Jae D, phát vào ngày 19/8/2019 đến ngày 21/8/2019.
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Quảng Bình phát biểu ý kiến:
Trong quá trình giải quyết vụ án việc chấp hành pháp luật của Thẩm phán, Hội đồng xét xử tuân thủ đúng các quy định của pháp luật. Việc thu thập chứng cứ, đương sự tham gia tố tụng thực hiện đúng quy định, đảm bảo quyền lợi nghĩa vụ của họ.
Về nội dung: Đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng khoản 3 Điều 474, khoản 5 Điều 477, Điều 479 Bộ luật tố tụng dân sự 2015; các Điều 51, 56 Luâ ̣t hôn nhân và gia đinh, xét xử vắng mặt bị đơn , chấp nhận yêu cầu khởi kiện của bà Nguyễn Thi ̣
̀ O, xử cho bà Nguyễn Thi ̣ O được ly hôn ông Ko,Jae D. Về con chung , tài sản chung: không yêu cầu nên không xem xét.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Sau khi xem xét các tài liệu có tại hồ sơ vụ án đã được thẩm tra tại phiên tòa, nghe ý kiến phát biểu của Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Quảng Bình tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định:
[1]. Về thủ tục tố tụng: Nguyên đơn yêu cầu ly hôn với người có quốc tịch Hàn Quốc; đây là vụ kiện tranh chấp về hôn nhân và gia đình nên vụ án thuộc thẩm quyền của Tòa án nhân dân tỉnh Quảng Bình, theo quy định tại khoản 1 Điều 28 khoản 3 Điều 35, điểm b khoản 1 Điều 37, khoản 1 Điều 39, Điều 464, Điều 469 khoản 5 Điều 477 của Bộ tố tụng dân sự năm 2015. Tại phiên tòa ông Ko,Jae D vắng mặt. Căn cứ vào Điều 477 Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015, Hội đồng xét xử tiến hành xét xử vắng mặt ông Ko,Jae D.
[2]. Về nội dung:
Xét yêu cầu của nguyên đơn nhận thấy: quan hệ hôn nhân giữa bà Nguyễn Thị O và ông Ko,Jae D là tự nguyện, có đăng ký kết hôn tại cơ quan có thẩm quyền ở Hàn Quốc và được xác nhận tại Sở Tư Pháp tỉnh Quảng Bình về việc đã ghi chú vào sổ các việc hộ tịch đã đăng ký trước cơ quan có thẩm của nước ngoài số 32, quyển số: 01/2007, ngày 08 tháng 10 năm 2017. Như vậy, hôn nhân giữa hai bên là hợp pháp.
Theo lời khai của bà O thì sau khi kết hôn, vợ chồng sống hạnh phúc được một thời gian ngắn thì phát sinh mâu thuẫn. Nguyên nhân là do giữa vợ chồng bất đồng về ngôn ngữ, phong tục tập quán và quan điểm sống nên nên bà O trở về Viê ̣t Nam. Từ đó đến nay giữa vợ chồng mất liên lạc và không còn quan tâm đến nhau nữa.
Xét tình nghĩa vợ chồng phải xuất phát từ cả hai phía có nghĩa vụ thương yêu, tôn trọng và cùng có trách nhiệm quan tâm, chăm sóc, giúp đỡ. Thực tế vợ chồng đã không còn sống cùng không tạo được điều kiện hàn gắn tình cảm vợ chồng, bà O và ông Ko,Jae D mỗi người đều có cuộc sống riêng độc lập, không còn quan tâm lẫn nhau và không ai có nỗ lực hàn gắn lại hạnh phúc gia đình. Do đó, nếu tiếp tục kéo dài quan hệ hôn nhân nói trên thì mục đích của cuộc hôn nhân cũng không thể đạt được, nên cần chấp nhận yêu cầu ly hôn của bà O đối với ông Ko,Jae D là cần thiết.
Về con chung: vợ chồng chưa có con chung nên không xem xét.
Về tài sản chung, nợ chung: Vợ chồng không có nên không xem xét.
[3]. Về án phí, lệ phí ủy thác ra nước ngoài: Bà Nguyễn Thi ̣ O phải chịu án phí dân sự sơ thẩm, lệ phí ủy thác tư pháp theo quy định (Bà O đa nô ̣̃ p đủ).
Vì các lẽ trên:
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ Điều 28, khoản 3 Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 37, khoản 1 Điều 39, Điều 464, Điều 469 khoản 5 Điều 477, Điều 479 của Bộ tố tụng dân sự
Áp dụng Điều 19, Điều 51, Điều 54, Điều 56, Điều 57, Điều 121, Điều 123, Điều 127 Luật hôn nhân và gia đình năm 2014.
Điều 27 Nghị quyết 326/UBTVQH ngày 30/12/2016 của Uỷ ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn giảm, thu nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí tòa án.
Tuyên xử:
1. Về quan hệ hôn nhân: Chấp nhận cho bà Nguyễn Thi ̣ O được ly hôn ông Ko,Jae D.
2. Về quan hệ con chung: Không có
3. Về quan hệ tài sản chung, nợ chung: Không có
4. Về án phí dân sự sơ thẩm:
Bà Nguyễn Thi ̣ O phải chịu 300.000 đồng án phí dân sự sơ thẩm và phải chịu 200.000 đồng lệ phí ủy thác tư pháp ra nước ngoài, được khấu trừ vào số tiền 500.000 đồng tạm ứng án phí , lệ phí đã nộp tại biên lai số 0005118 ngày 06/12/2018 của Cục Thi hành án dân sự tỉnh Quảng Bình.
5. Án sơ thẩm xử công khai, bà Nguyễn Thi ̣ O có quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án; ông Ko,Jae D có quyền kháng cáo trong hạn 12 tháng kể từ ngày tuyên án.
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM
| Nơi nhận: - VKSND tỉnh Quảng Bình(P9); - Cục THADS tỉnh Quảng Bình; - Các đương sự; - Lưu AV, Lưu HS. | THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA (Đã ký) Võ Thị Kim Nhung |