- Tranh chấp gì? Vụ án ly hôn do một bên bị mất tích — án hôn nhân và gia đình — "Thền thị P ly hôn Pờ Chín M"
- Tòa quyết gì? Về quan hệ hôn nhân: Xử cho chị Thền Thị P được ly hôn anh Pờ Chín M.
- Căn cứ chính? NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…; Điều 147 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 227 Bộ luật Tố tụng dân sự
| TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN MƯỜNG KHƯƠNG TỈNH LÀO CAI | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Bản án số: 15/2019/HNGĐ-ST Ngày 25 tháng 11 năm 2019 V/v tranh chấp ly hôn, nuôi con chung. |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN MƯỜNG KHƯƠNG -TỈNH LÀO CAI
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Phạm Hồng Diện.
Các Hội thẩm nhân dân: Ông Lê Xuân Chính và ông Sùng Seo Chử.
- Thư ký phiên tòa: Ông Nông Ngọc Giang – Thư ký Tòa án nhân dân huyện Mường Khương, tỉnh Lào Cai.
Trong ngày 25 tháng 11 năm 2019, tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Mường Khương, tỉnh Lào Cai, Tòa án nhân dân huyện Mường Khương mở phiên tòa xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số: 82/2019/TLST-HNGĐ, ngày 20 tháng 9 năm 2019, về việc “Ly hôn và tranh chấp nuôi con chung", theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 16/2019/QĐXXST-HNGĐ, ngày 25 tháng 10 năm 2019, Quyết định hoãn phiên tòa số: 10/2019/QĐST-HNGĐ, ngày 11 tháng 11 năm 2019, giữa các đương sự:
1. Nguyên đơn: Chị Thền Thị P;
Sinh năm 1985
Địa chỉ: Thôn Chúng B, thị trấn Mường Khương, huyện Mường Khương, tỉnh Lào Cai, có mặt.
2. Bị đơn: Anh Pờ Chín M;
Sinh năm 1986.
Địa chỉ: Thôn Chúng B, thị trấn Mường Khương, huyện Mường Khương, tỉnh Lào Cai, vắng mặt tại phiên tòa lần thứ hai.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Trong đơn khởi kiện đề ngày 20 tháng 9 năm 2019 và tại phiên tòa, chị Thền Thị P trình bày: Chị và anh Pờ Chín M tự nguyện kết hôn với nhau vào năm 2006, có đăng ký kết hôn tại Uỷ ban nhân dân xã Mường Khương (nay là thị trấn Mường Khương), huyện Mường Khương, tỉnh Lào Cai. Sau một thời gian chung sống hạnh phúc thì đến ngày 09 tháng 01 năm 2017 anh M đã bỏ nhà đi khỏi địa phương mà không nói cho chị và gia đình biết. Chị và gia đình đã tìm anh M nhiều lần nhưng không tìm thấy. Tháng 3 năm 2019, chị làm đơn đề nghị Tòa án nhân dân huyện Mường Khương tuyên bố anh M mất tích. Sau khi Tòa án thụ lý, đã đăng phát trên Đài tiếng nói Việt Nam, trên Báo Công lý nhưng cũng không có tin tức gì. Vì vậy ngày 19 tháng 8 năm 2019, Tòa án nhân dân huyện Mường Khương đã mở phiên họp và quyết định tuyên bố anh M mất tích. Từ khi bị tuyên bố mất tích đến nay anh M cũng không có mặt tại địa phương. Để ổn định cuộc sống, làm ăn nuôi dạy các con, chị P đề nghị Tòa án giải quyết cho chị được ly hôn với anh M.
Về con chung: Vợ chồng chị có 02 con chung là cháu Pờ Dung T, sinh ngày 04 tháng 02 năm 2007 và cháu Pờ Dung Tr, sinh ngày 05 tháng 5 năm 2009. Khi ly hôn chị đề nghị Tòa án giải quyết để cho chị được nuôi dưỡng cả hai cháu cho đến khi các cháu đủ 18 tuổi.
Về tài sản chung và nợ chung: Chị không đề nghị Tòa án giải quyết.
Sau khi thụ lý đơn khởi kiện xin ly hôn của chị Thền Thị P, Tòa án nhân dân huyện Mường Khương đã tiến hành niêm yết Thông báo thụ lý vụ án, giấy triệu tập và các văn bản tố tụng đối với anh Pờ Chín M theo quy định của pháp luật nhưng cũng không có tin tức gì của anh M.
Tại phiên tòa, chị Thền Thị P vẫn giữ nguyên yêu cầu của Mh.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Căn cứ vào các tài liệu chứng cứ đã được thẩm tra tại phiên tòa, căn cứ vào kết quả tranh luận tại phiên tòa, Hội đồng xét xử thấy rằng:
Về thẩm quyền: Chị Thền Thị P khởi kiện xin ly hôn và đề nghị Tòa án giải quyết việc nuôi con chung đối với anh Pờ Chín M nên xác định đây là vụ án về Hôn nhân và gia đình. Anh M đăng ký hộ khẩu thường trú tại thôn Chúng B, thị trấn Mường Khương, huyện Mường Khương, tỉnh Lào Cai nên vụ án thuộc thẩm quyền thụ lý, giải quyết của Tòa án nhân dân huyện Mường Khương, quy định tại khoản 1 Điều 28, điểm a khoản 1 Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 39 của Bộ luật Tố tụng dân sự.
Về tố tụng: Bị đơn vắng mặt lần thứ hai tại phiên tòa không có lý do, căn cứ khoản 2 Điều 227 của Bộ luật Tố tụng dân sự, Hội đồng xét xử vẫn tiến hành xét xử vụ án theo thủ tục chung.
Về quan hệ hôn nhân: Qua các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án cũng như lời khai của nguyên đơn tại phiên tòa có đủ căn cứ xác định: Chị Thền Thị P và anh Pờ Chín M tự nguyện kết hôn năm 2006, có đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân xã Mường Khương (nay thuộc thị trấn Mường Khương), huyện Mường Khương, tỉnh Lào Cai. Sau khi kết hôn vợ chồng sống hạnh phúc đến tháng 01 năm 2017, anh M bỏ nhà đi khỏi địa phương, không ai biết anh M ở đâu, làm gì. Vì vậy chị P đã đề nghị Tòa án tuyên bố anh M mất tích và ngày 19 tháng 8 năm 2019, Tòa án nhân dân huyện Mường Khương đã tuyên bố anh M mất tích theo Quyết định số 04/2019/QSĐST-DS.
Do anh M bỏ nhà đi đã lâu, tình cảm vợ chồng không còn, việc chị P xin ly hôn để ổn định cuộc sống và có điều kiện nuôi dạy con chung là có căn cứ, cần chấp nhận.
Về con chung: Vợ chồng họ có 02 con chung là cháu Pờ Dung T, sinh ngày 04 tháng 02 năm 2007 và cháu Pờ Dung Tr, sinh ngày 05 tháng 5 năm 2009. Tại phiên tòa, chị P đề nghị Hội đồng xét xử giải quyết cho chị được nuôi dưỡng cả hai cháu. Quá trình thụ lý vụ án, Tòa án đã tiến hành hỏi ý kiến của cháu T và cháu Tr thì cả hai cháu đều có nguyện vọng được ở với chị P. Hội đồng xét xử xét thấy, từ khi anh M bỏ đi các cháu ở cùng chị P, do chị P nuôi dưỡng. Vì vậy để đảm bảo sự phát triển thể chất cũng như tinh thần của các cháu và việc học tập của các cháu được ổn định, cần phải giao cả hai cháu cho chị P được trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục cho đến khi các cháu đủ 18 tuổi là phù hợp với pháp luật.
Về tài sản chung và nợ chung của vợ chồng: Do chị P không yêu cầu Tòa án giải quyết nên Hội đồng xét xử không đề cập xử lý.
Về án phí: Chị Thền Thị P phải chịu 300.000 đồng tiền án phí ly hôn theo qui định của pháp luật.
Vì các lẽ trên:
QUYẾT ĐỊNH:
Áp dụng khoản 2 Điều 56, Điều 81, 82 và Điều 83 của Luật Hôn nhân và gia đình; khoản 4, Điều 147, khoản 2 Điều 227 của Bộ luật Tố tụng dân sự; Nghị quyết số: 326/2016/UBTVQH14, ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội về án phí, lệ phí Tòa án:
1. Về quan hệ hôn nhân: Xử cho chị Thền Thị P được ly hôn anh Pờ Chín M.
2. Về con chung: Giao cháu Pờ Dung T, sinh ngày 04 tháng 02 năm 2007 và cháu Pờ Dung Tr, sinh ngày 05 tháng 5 năm 2009 cho chị Thền Thị P được trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục cho đến khi các cháu đủ 18 tuổi.
3. Về án phí: Chị Thền Thị P phải chịu 300.000 đồng (Ba trăm nghìn đồng) tiền án phí ly hôn, được khấu trừ vào số tiền tạm ứng án phí 300.000 đồng (Ba trăm nghìn đồng) đã nộp tại Chi cục Thi hành án dân sự huyện Mường Khương theo biên lai số AB/2012/0000388 ngày 20 tháng 9 năm 2019.
4. Về quyền kháng cáo: Nguyên đơn có quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án. Bị đơn có quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày kể từ ngày bản án được niêm yết hợp lệ.
| Nơi nhận: - TAND tỉnh Lào Cai; - VKSND tỉnh, huyện; - UBND thị trấn MK; - CC THADS huyện; - Các đương sự; - Lưu HSVA. | TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TOÀ Phạm Hồng Diện |