- Tranh chấp gì? Tranh chấp về thay đổi người trực tiếp nuôi con sau khi ly hôn — án hôn nhân và gia đình — "Thay đổi người nuôi con sau khi ly hôn"
- Tòa quyết gì? Luật Hôn nhân và gia đình; Điều 147, Điều 148 Bộ luật Tố tụng dân sự; Nghị quyết
- Căn cứ chính? Điều 147 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 148 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 308 Bộ luật Tố tụng dân sự
TOÀ ÁN NHÂN DÂN TỈNH NAM ĐỊNH | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
Số: 15/2019/HNGĐ-PT Ngày: 20/05/2019 |
V/v: Thay đổi người trực tiếp nuôi con sau khi ly hôn
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM TOÀ ÁN NHÂN DÂN TỈNH NAM ĐỊNH
Thành phần Hội đồng xét xử phúc thẩm gồm có: Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà: Bà Vũ Thị Mai Hương Các thấm phán: Bà Mai Thị Minh Hồng Ông Mai Anh Tuấn - Thư ký phiên toà: Bà Đặng Thu Hường - Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Nam Định tham gia phiên toà: Ông Trần Trọng Dần - Kiểm sát viên Ngày 20 tháng 5 năm 2019, tại trụ sở, Toà án nhân dân tỉnh Nam Định xét xử phúc thẩm công khai vụ án dân sự thụ lý số 04/2019/TLPT-HNGĐ ngày 14/01/2019 về việc “Tranh chấp về thay đổi người trực tiếp nuôi con sau khi ly hôn”. Do bản án hôn nhân và gia đình sơ thẩm số 56/2018/HNGĐ-ST ngày 14/11/2018 của Tòa án nhân dân huyện Ý Yên - tỉnh Nam Định bị kháng cáo. Theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 53/2019/QĐXX-PT ngày 08/4/2019 giữa các đương sự: - Nguyên đơn: Anh Nguyễn Xuân H, sinh năm 1986 Địa chỉ: Thôn N - xã Y - huyện Y - tỉnh Nam Định - Bị đơn: Chị Đỗ Thị P, sinh năm 1986 Người đại diện theo ủy quyền của chị P: Bà Nguyễn Thị P, sinh năm 1965 Đều địa chỉ: Thôn T - xã Y - huyện Y - tỉnh Nam Định - Người kháng cáo: Nguyên đơn anh Nguyễn Xuân H
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Tại đơn khởi kiện và quá trình tố tụng tại Tòa án, nguyên đơn là anh Nguyễn Xuân H trình bày: Anh H và chị Đỗ Thị P đã ly hôn theo quyết định công nhận thuận tình ly hôn số 79/2014/QĐST-HNGĐ ngày 04/8/2014 của Toà án nhân dân huyện Ý Yên - tỉnh Nam Định. Theo quyết định trên, con chung của anh chị Huy - Phượng là cháu Nguyễn Trúc L, sinh ngày 02/4/2012, giao chị P trực tiếp nuôi dưỡng, anh H có trách nhiệm cấp dưỡng nuôi cháu L mỗi tháng 2.000.000 đồng, kể từ tháng 8/2014 cho đến khi cháu L trưởng thành và tự lập được. Sau khi ly hôn đến tháng 12/2015, chị P đi xuất khẩu lao động tại Nhật Bản, giao cháu L cho ông bà ngoại chăm sóc, nuôi dưỡng. Anh H và ông bà nội nhiều lần đến thăm cháu L nhưng đều bị ông bà ngoại ngăn cản, chửi bới không cho tiếp cận cháu L. Anh H đã phải nhờ chính quyền địa phương can thiệp nhưng không có kết quả. Chị P không thực hiện việc nuôi dưỡng cháu L, bỏ con lại cho ông bà ngoại nuôi dưỡng không đảm bảo quyền lợi cho cháu, tháng 9/2016 anh H làm đơn đề nghị Toà án nhân dân tỉnh Nam Định thay đổi người trực tiếp nuôi con sau khi ly hôn, đến tháng 01/2017 chị P về Việt Nam và có nói sẽ không đi xuất khẩu lao động nữa mà ở tại địa phương làm việc để thuận tiện chăm sóc, dạy dỗ cháu L nên anh H đã rút đơn khởi kiện. Tuy nhiên từ đó đến nay anh H và gia đình luôn bị ngăn cản quyền được đi lại, thăm nom, chăm sóc, giáo dục cháu L cũng như chị P không trực tiếp chăm sóc cháu L mà lại để cho bố mẹ mình nuôi cháu là không đảm bảo quyền lợi cho cháu L. Việc cấp dưỡng nuôi con anh H chu cấp đầy đủ thông qua Chi cục thi hành án dân sự huyện Ý Yên. Hiện nay anh H đang công tác tại Công ty TNHH Kinh doanh thương mại và dịch vụ Nhất Phát có thu nhập và nơi ở ổn định. Vì những lý do trên anh H đề nghị Toà án xem xét giải quyết cho anh được trực tiếp nuôi dưỡng cháu Nguyễn Trúc L, có như vậy mới đảm bảo cho cháu được chăm sóc toàn diện về vật chất cũng như tinh thần. Nếu được giao nuôi cháu L, anh H không yêu cầu chị P cấp dưỡng nuôi con chung cùng anh. Sau khi thụ lý vụ án, Tòa án đã tống đạt các văn bản tố tụng và triệu tập nhiều lần nhưng chị P không có mặt theo giấy triệu tập. Tòa án đã làm việc với bà Nguyễn Thị P là mẹ đẻ của chị P, bà P cho biết hiện nay chị P đang làm việc tại Hà Nội. Chị P vẫn thường về thăm con và gia đình vào những ngày nghỉ, nhưng địa chỉ cụ thể ở đâu thì bà không biết. Đại diện địa phương cho biết: Chị P có hộ khẩu thường trú tại xã Y - huyện Y - tỉnh Nam Định. Chị P hiện làm gì, ở đâu chính quyền địa phương không biết vì chị
P không làm thủ tục tạm vắng, tạm trú. Đại diện địa phương đề nghị Tòa án giải quyết vụ án theo quy định của pháp luật. Đại diện Trường tiểu học xã Yên Lợi và cô giáo chủ nhiệm, nơi cháu L theo học đề nghị Tòa án xem xét để cháu L được tiếp tục ở với mẹ là chị P để cháu có điều kiện tốt nhất phát triển về thể chất, tinh thần, không nên thay đổi môi trường sống và học tập của cháu. Căn cứ vào đơn đề nghị của anh Nguyễn Xuân H, Toà án đã thông báo trên phương tiện thông tin đại chúng về việc anh Nguyễn Xuân H có đơn yêu cầu về thay đổi người trực tiếp nuôi con sau khi ly hôn cho chị P biết. Tòa án có văn bản đề nghị Cục quản lý xuất nhập cảnh cung cấp thông tin xuất cảnh của chị P; được biết chị P xuất cảnh ngày 28/01/2016 và ngày 25/01/2017 nhập cảnh về qua Sân bay Quốc tế Nội Bài. Quá trình giải quyết vụ án bà Nguyễn Thị P là mẹ đẻ của chị Đỗ Thị P nộp cho Toà án đơn trình báo và đơn xin xác nhận của chị Đỗ Thị P có xác nhận của địa phương thể hiện: Chị và anh H đã thuận tình ly hôn, về con chung chị trực tiếp nuôi dưỡng cháu Nguyễn Trúc L, sinh ngày 02/4/2012, anh H có trách nhiệm cấp dưỡng nuôi cháu L mỗi tháng 2.000.000 đồng, kể từ tháng 8/2014 cho đến khi cháu L trưởng thành và tự lập được như anh H trình bày là đúng. Tuy nhiên từ khi ly hôn đến nay, anh H không tự giác cấp dưỡng nuôi con, nhiều lần chị phải yêu cầu Chi cục thi hành án dân sự huyện Ý Yên buộc anh H phải cấp dưỡng thì anh H mới thực hiện. Anh H đã kết hôn, anh H và vợ hai của anh H luôn tỏ thái độ trêu ngươi, thách thức chị và tuyên bố sẽ tranh giành bằng được quyền nuôi con. Anh H không đến thăm con tại nhà, nhưng lại ra trường học tự ý đòi đón con không hỏi ý kiến của chị, gây khó khăn cho giáo viên và nhà trường. Sau khi ly hôn, chị luôn giành tất cả tình thương yêu, đảm bảo việc nuôi con tốt, dạy con ngoan nên cháu L luôn khoẻ mạnh, phát triển tốt. Hiện nay chị không kết hôn với ai, đang sinh sống và làm việc tại Hà Nội, chị thường xuyên về nhà thăm con, hơn nữa chị có sự giúp đỡ, hỗ trợ của bố mẹ chăm sóc, nuôi dưỡng cháu L; tạo điều kiện tốt nhất để cháu phát triển về mọi mặt nên chị không nhất trí với yêu cầu khởi kiện của anh H. Chị đề nghị Toà án tiếp tục giao cháu L cho chị trực tiếp nuôi dưỡng. Từ nội dung trên, tại bản án dân sự sơ thẩm số 56/2018/HNGĐ-ST ngày 14/11/2018 của Tòa án nhân dân huyện Ý Yên - tỉnh Nam Định đã quyết định: Căn cứ Điều 81, Điều 82, Điều 83, Điều 84 Luật Hôn nhân và gia đình; Điều 147 Bộ luật Tố tụng dân sự; Nghị quyết số 326/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội
Xử không chấp nhận “Yêu cầu thay đổi người trực tiếp nuôi con sau khi ly hôn” đối với cháu Nguyễn Trúc L, sinh ngày 02/4/2012 của anh Nguyễn Xuân H. Ngoài ra, bản án sơ thẩm còn tuyên án phí, quyền kháng cáo của các đương sự. - Ngày 14/11/2018 anh Nguyễn Xuân H có đơn kháng cáo toàn bộ bản án sơ thẩm đề nghị Tòa án cấp phúc thẩm chấp nhận đơn khởi kiện của anh. Tại phiên tòa phúc thẩm: Các đương sự đều có đơn xin xét xử vắng mặt và giữ nguyên quan điểm của mình. - Kiểm sát viên tham gia phiên tòa phát biểu ý kiến: Về tố tụng, quá trình giải quyết vụ án tại cấp phúc thẩm, Thẩm phán và Hội đồng xét xử đã tuân theo các quy định pháp luật tố tụng dân sự. Các đương sự chấp hành đúng các quy định pháp luật tố tụng dân sự, quyền lợi của các đương sự được bảo đảm. Về nội dung, tại cấp phúc thẩm anh H không xuất trình thêm tài liệu chứng cứ mới để chứng minh cho nội dung kháng cáo của mình là có cơ sở, nên căn cứ theo toàn bộ tài liệu có trong hồ sơ thì thể hiện chị P và anh H đều có điều kiện chăm con ngang nhau, tuy nhiên hiện nay anh H đã lập gia đình mới, bản thân cháu L cũng có nguyện vọng được ở với mẹ nên đề nghị Hội đồng xét xử không chấp nhận kháng cáo của anh Nguyễn Xuân H, giữ nguyên bản án sơ thẩm. Về án phí xử theo quy định pháp luật.
NHẬN ĐỊNH CỦA TOÀ ÁN:
Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án, đã được thẩm tra tại phiên toà, căn cứ vào kết quả tranh tụng tại phiên toà, Hội đồng xét xử nhận định: [1] Kháng cáo của nguyên đơn anh Nguyễn Xuân H làm trong thời hạn luật định nên được Hội đồng xét xử xem xét theo trình tự tố tụng phúc thẩm. [2] Anh Nguyễn Xuân H, chị Đỗ Thị P có đơn đề nghị xin được vắng mặt tại phiên tòa phúc thẩm, căn cứ Điều 228 BLTTDS Hội đồng xét xử tiến hành xét xử vắng mặt các đương sự. [3] Xét nội dung kháng cáo: Anh Nguyễn Xuân H và chị Đỗ Thị P đã ly hôn theo quyết định công nhận thuận tình ly hôn số 79/2014/QĐST-HNGĐ ngày 04/8/2014 của Toà án nhân dân huyện Ý Yên - tỉnh Nam Định. Theo quyết định công nhận thuận tình ly hôn, con chung của anh chị là cháu Nguyễn Trúc L - sinh
ngày 02/4/2012 giao chị P trực tiếp nuôi dưỡng, anh H có trách nhiệm cấp dưỡng nuôi cháu L mỗi tháng 2.000.000 đồng, kể từ tháng 8/2014 cho đến khi cháu L trưởng thành và tự lập được. Sau khi ly hôn, chị P và cháu L ở cùng bố mẹ đẻ của chị tại xã Y - huyện Y. Hiện nay anh H, chị P đều có chỗ ở, việc làm và thu nhập ổn định, điều kiện chăm sóc nuôi dưỡng con chung của hai người là như nhau. Tuy nhiên hiện anh H đã lấy vợ mới và cư trú tại Hà Nội, chị P vẫn chưa lập gia đình, cháu L đang được học tập ổn định tại trường tiểu học của xã Y - huyện Y. Theo quy định của Luật hôn nhân và gia đình thì bố mẹ phải có trách nhiệm nuôi dưỡng con chưa thanh niên đảm bảo điều kiện về vật chất, tinh thần và môi trường sống tốt để con phát triển lành mạnh về thể chất, trí tuệ, đạo đức. Như vậy, tại thời điểm giải quyết vụ án, cháu L đang ở cùng mẹ và ông bà ngoại, được chăm sóc nuôi dưỡng đầy đủ, đảm bảo điều kiện học tập thuận lợi. Bản thân cháu L cũng có nguyện vọng tiếp tục được ở với mẹ và ông bà ngoại. Vì vậy, căn cứ vào các quy định của pháp luật, cấp sơ thẩm quyết định vẫn để chị P được quyền chăm sóc nuôi dưỡng cháu L là để bảo đảm quyền lợi chính đáng của con chung chưa thành niên, phù hợp các quy định của pháp luật. Kháng cáo của anh Nguyễn Xuân H không có căn cứ, nên không được Hội đồng xét xử chấp nhận. [3] Các quyết định khác của bản án sơ thẩm không có kháng cáo, kháng nghị, Hội đồng phúc thẩm không xem xét. [4] Do kháng cáo của anh Nguyễn Xuân H không được chấp nhận nên anh H phải chịu toàn bộ án phí dân sự phúc thẩm. Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ vào khoản 1 Điều 308 BLTTDS; Điều 81, Điều 82, Điều 83, Điều 84 Luật Hôn nhân và gia đình; Điều 147, Điều 148 Bộ luật Tố tụng dân sự; Nghị quyết số 326/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội. 1. Không chấp nhận kháng cáo của nguyên đơn Nguyễn Xuân H, giữ nguyên bản án sơ thẩm. 2. Xử không chấp nhận “Yêu cầu thay đổi người trực tiếp nuôi con sau khi ly hôn” đối với cháu Nguyễn Trúc L, sinh ngày 02/4/2012 của anh Nguyễn Xuân H. 3. Về án phí:
3.1. Án phí dân sự sơ thẩm: Anh Nguyễn Xuân H phải nộp là 300.000đ án phí dân sự sơ thẩm, đối trừ với số tiền đã nộp tại Biên lai thu tạm ứng án phí, lệ phí Tòa án số BB/2012/08465 ngày 31/01/2018 của Chi cục Thi hành án dân sự huyện Ý Yên. Anh H đã nộp đủ án phí dân sự sơ thẩm. 3.2. Án phí dân sự phúc thẩm: Anh Nguyễn Xuân H phải nộp 300.000 đồng (ba trăm ngàn đồng) án phí dân sự phúc thẩm, được đối trừ với số tiền 300.000 đồng tạm ứng án phí phúc thẩm anh H đã nộp theo biên lại số 0000959 ngày 27/11/2018 của Chi cục Thi hành án dân sự huyện Ý Yên. Anh H đã nộp đủ án phí dân sự phúc thẩm. Bản án phúc thẩm có hiệu lực thi hành kể từ ngày tuyên án. Trường hợp bản án được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thoả thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các điều 6, 7, và 9 Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại điều 30 Luật thi hành án dân sự. TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ
Nơi nhận: - VKS tỉnh NĐ - TAND huyện Ý Yên; - Chi cục THADS huyện Ý Yên; - Các đương sự; - Lưu HS, tòa DS. | THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA (Đã ký) Vũ Thị Mai Hương |