- Tranh chấp gì? Tranh chấp về hụi, họ, biêu, phường — án dân sự — "Bà Lê Thị Y - Bà Nguyễn Thị D"
- Tòa quyết gì? Không chấp nhận kháng cáo của ông Đinh Văn P1.
- Căn cứ chính? Nghị định số 144/2006/NĐ-CP Về họ, hụi, biêu, phường; Điều 27 Luật Hôn nhân và gia đình; Điều 308 Bộ luật Tố tụng dân sự
| TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH BẾN TRE | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Bản án số: 15/2019/DS-PT Ngày: 25-01-2019 V/v tranh chấp hợp đồng góp hụi |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH BẾN TRE
- Thành phần Hội đồng xét xử phúc thẩm gồm có:
Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa:
Bà Nguyễn Thị Ngọc Hương
Các Thẩm phán:
Ông Tôn Văn Thông
Bà Hồ Thị Thanh Thúy
- Thư ký phiên tòa: Bà Lê Thị Sương - Thư ký Tòa án nhân dân tỉnh Bến Tre.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Bến Tre tham gia phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Minh Phượng - Kiểm sát viên.
Ngày 25 tháng 01 năm 2019, tại trụ sở Tòa án nhân dân tỉnh Bến Tre xét xử phúc thẩm công khai vụ án thụ lý số: 09/2019/TLPT-DS ngày 02 tháng 01 năm 2019 về tranh chấp hợp đồng góp hụi.
Do Bản án dân sự sơ thẩm số: 227/2018/DS-ST ngày 09 tháng 11 năm 2018 của Tòa án nhân dân huyện P bị kháng cáo.
Theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử phúc thẩm số: 09/2019/QĐPT-DS ngày 03 tháng 01 năm 2019, giữa các đương sự:
- Nguyên đơn: Bà Lê Thị Y, sinh năm 1974, cư trú tại: Số nhà 64/2, ấp B, xã G, huyện P, tỉnh Bến Tre.
- Bị đơn: Bà Nguyễn Thị D, sinh năm 1974, cư trú tại: Số nhà 23/2, ấp B, xã G, huyện P, tỉnh Bến Tre.
- Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan: Ông Đinh Văn P1, sinh năm 1971, cư trú tại: Số nhà 23/2, ấp B, xã G, huyện P, tỉnh Bến Tre.
- Người kháng cáo: Ông Đinh Văn P1 là người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo đơn khởi kiện và các lời khai trong quá trình giải quyết vụ án nguyên đơn bà Lê Thị Y trình bày:
Bà tham gia chơi hụi do bà D làm chủ hụi cụ thể như sau:
1. Dây hụi thứ nhất: Hụi 3.000.000 đồng, bà tham gia 01 phần, hụi mở ngày 15/5/2016 âm lịch, gồm 24 hụi viên, hụi mãn ngày 15/3/2018 âm lịch. Bà đã đóng hụi được 20 tháng (từ tháng 5/2016 âm lịch đến tháng 11/2017 âm lịch; năm 2017 âm lịch là năm nhuận có 02 tháng 6) x3.000.000 đồng/tháng = 60.000.000 đồng.
2. Dây hụi thứ hai: Hụi 3.000.000 đồng, bà tham gia 01 phần, hụi mở ngày 02/10/2016 âm lịch, gồm 24 hụi viên, hụi mãn ngày 12/8/2018 âm lịch. Bà đã đóng hụi được 15 tháng (từ tháng 11/2016 âm lịch đến tháng 11/2017 âm lịch; năm 2017 âm lịch là năm nhuận có 02 tháng 6) x 3.000.000 đồng/tháng = 45.000.000 đồng.
3. Dây hụi thứ ba: Hụi 3.000.000 đồng, bà tham gia 01 phần, hụi mở ngày 25/01/2017 âm lịch, gồm 24 hụi viên, hụi mãn ngày 05/12/2018 âm lịch. Bà đã đóng hụi được 11 tháng (từ tháng 02/2017 âm lịch đến tháng 11/2017 âm lịch; năm 2017 âm lịch là năm nhuận có 02 tháng 6) x 3.000.000 đồng/tháng = 33.000.000 đồng.
4. Dây hụi thứ tư: Hụi 5.000.000 đồng, bà tham gia 02 phần, hụi mở ngày 10/6/2017 âm lịch, gồm 24 hụi viên, hụi mãn ngày 20/4/2019 âm lịch. Bà đã đóng hụi được 07 tháng (từ tháng 06/2016 âm lịch đến tháng 11/2017 âm lịch; năm 2017 âm lịch là năm nhuận có 02 tháng 6) x 5.000.000 đồng/tháng = 70.000.000 đồng, như vậy tổng số tiền hụi bà đã đóng cho bà D là 208.000.000 đồng.
Số tiền hụi chết của những dây hụi khác hai bên đã thống nhất bà còn nợ bà D là 33.000.000 đồng. Sau khi bà D tuyên bố vỡ hụi thì hai bên có ngồi lại bàn bạc thống nhất với nhau số tiền hụi sống bà D nợ bà là 208.000.000 đồng, số tiền hụi chết bà nợ bà D là 33.000.000 đồng, khấu trừ với nhau thì bà D còn nợ bà số tiền 175.000.000 đồng. Quá trình hòa giải ngày 04/7/2018, bà và bà D thống nhất bà D trả số tiền nợ hụi cho bà là 140.000.000 đồng vào ngày 10/11/2018, bà không yêu cầu trách nhiệm liên đới của anh P1 cùng trả số tiền này và Tòa án đã lập Biên bản hòa giải thành. Nhưng do bà phát hiện từ trước đó bà D đã có ý định tẩu tán tài sản, chuyển nhượng cho nhiều người khác để trốn tránh nghĩa vụ thi hành án nên bà làm Đơn thay đổi ý kiến và thay đổi yêu cầu khởi kiện vào ngày 09/7/2018, đề nghị tòa án giải quyết buộc bà Nguyễn Thị D và anh Đinh Văn P1 có nghĩa vụ liên đới trả cho bà số tiền nợ hụi 175.000.000 đồng, không yêu cầu tính lãi.
Theo các lời khai trong quá trình giải quyết vụ án bị đơn bà Nguyễn Thị D trình bày:
Số tiền hụi sống, hụi chết mà bà và bà Y đã tính toán với nhau nay bà không có khiếu nại gì, đã thỏa thuận xong tại tòa vào ngày 04/7/2018. Nay bà không đồng ý việc bà Y yêu cầu bà và anh P1 có nghĩa vụ liên đới trả số tiền nợ hụi 175.000.000 đồng. Bà chỉ đồng ý trả cho bà Y số tiền nợ hụi không có lãi là 140.000.000 đồng và đây là trách nhiệm cá nhân của bà, anh P1 không phải có nghĩa vụ liên đới cùng bà trả tiền cho bà Y. Do đang gặp khó khăn về kinh tế, hiện bà còn nợ tiền của nhiều người nên bà xin trả dần mỗi tháng 5.000.000 đồng cho đến khi hết nợ.
Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan ông Đinh Văn P1 trình bày:
Ông không có liên quan gì đến việc chơi hụi, bà D không có sử dụng tiền hụi vào mục đích chung cho gia đình nên ông không đồng ý cùng bà D liên đới trả nợ.
Tại Bản án dân sự sơ thẩm số: 227/2018/DS-ST ngày 09 tháng 11 năm 2018 của Tòa án nhân dân huyện P đã quyết định như sau:
Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của bà Lê Thị Y về tranh chấp hợp đồng góp hụi với bà Nguyễn Thị D, anh Đinh Văn P1.
Buộc bà Nguyễn Thị D và anh Đinh Văn P1 có trách nhiệm liên đới trả nợ hụi cho bà Lê Thị Y với số tiền 175.000.000 đồng.
Ngoài ra, bản án còn tuyên về án phí, quyền kháng cáo bản án, quyền yêu cầu thi hành án của các đương sự.
Sau khi xét xử sơ thẩm, ngày 21/11/2018, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan anh Đinh Văn P1 kháng cáo yêu cầu sửa Bản án dân sự sơ thẩm số: 227/2018/DS-ST ngày 09 tháng 11 năm 2018 của Tòa án nhân dân huyện P, không chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn về việc buộc anh có trách nhiệm liên đới trả nợ với bà D.
Tại phiên tòa phúc thẩm người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan vẫn giữ nguyên yêu cầu kháng cáo. Hai bên đương sự không thỏa thuận được về việc giải quyết vụ án.
Đại diện Viện kiểm sát tham gia phiên tòa phát biểu ý kiến về tố tụng: Người tham gia tố tụng, người tiến hành tố tụng đã tuân thủ đúng quy định của Bộ luật Tố tụng Dân sự; về nội dung: Đề nghị Tòa án cấp phúc thẩm không chấp nhận kháng cáo ông Đinh Văn P1, giữ nguyên bản án dân sự sơ thẩm.
Sau khi nghiên cứu các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án, lời trình bày của các đương sự, căn cứ vào kết quả tranh tụng tại phiên tòa;
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Ông Đinh Văn P1 cho rằng không biết việc bà D tổ chức chơi hụi và bà Y có tham gia chơi hụi do bà D làm chủ, tiền chơi hụi do bà D tự giao nhận không sử dụng vào mục đích sinh hoạt chung trong gia đình nên không đồng ý liên đới cùng bà D trả nợ. Tuy nhiên, tại Biên bản hòa giải ngày 22/3/2018 bà D trình bày rằng việc bà tổ chức chơi hụi thì ông P1 biết, không có ý kiến gì và tiền có được do tổ chức chơi hụi thì bà sử dụng vào mục đích chi tiêu trong gia đình. Tại phiên tòa phúc thẩm, ông P1 và bà D thừa nhận hôn nhân giữa ông bà vẫn còn tồn tại, cùng sống chung một nhà, ông P1 cho rằng không biết và không sử dụng tiền hụi của bà D vào mục đích chung trong gia đình nhưng ông không cung cấp được chứng cứ chứng minh. Căn cứ vào Điều 27 Luật Hôn nhân và Gia đình năm 2014 thì vợ, chồng chịu trách nhiệm liên đới đối với giao dịch do một bên thực hiện, vì vậy Tòa án cấp sơ thẩm buộc ông Đinh Văn P1 có nghĩa vụ liên đới với bà Nguyễn Thị D trả cho bà Lê Thị Y số tiền 175.000.000 đồng là phù hợp. Ông P1 kháng cáo nhưng không cung cấp được chứng cứ chứng minh cho yêu cầu kháng cáo, do đó giữ nguyên Bản án dân sự sơ thẩm số: 227/2018/DS-ST ngày 09 tháng 11 năm 2018 của Tòa án nhân dân huyện P, tỉnh Bến Tre, đề nghị của Kiểm sát viên là phù hợp nên được chấp nhận.
Về án phí:
- Án phí dân sự sơ thẩm: Theo quy định tại Điều 26 Nghị quyết số: 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Uỷ ban Thường vụ Quốc Hội, do yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn được chấp nhận nên bà Nguyễn Thị D và ông Đinh Văn P1 phải có nghĩa vụ liên đới chịu số tiền 8.750.000 đồng.
Hoàn tiền tạm ứng án phí đã nộp cho bà Lê Thị Y là 4.375.000 đồng theo biên lại thu số 00162285 ngày 18/5/2018 của Chi cục Thi hành án dân sự huyện P, tỉnh Bến Tre.
- Án phí dân sự phúc thẩm: Theo quy định tại Điều 29 Nghị quyết số: 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Uỷ ban Thường vụ Quốc Hội; do yêu cầu kháng cáo không được chấp nhận nên ông Đinh Văn P1 phải chịu án phí là 300.000 đồng nhưng được khấu trừ vào tiền tạm ứng án phí đã nộp theo biên lai thu số 0018690 ngày 21/11/2018 của Chi cục Thi hành án dân sự huyện P, tỉnh Bến Tre.
Vì các lẽ trên;
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ vào khoản 1 Điều 308 Bộ luật Tố tụng Dân sự năm 2015;
Không chấp nhận kháng cáo của ông Đinh Văn P1.
Giữ nguyên Bản án dân sự sơ thẩm số: 227/2018/DS-ST ngày 09 tháng 11 năm 2018 của Tòa án nhân dân huyện P, tỉnh Bến Tre.
Áp dụng các Điều 471 Bộ luật Dân sự năm 2015, Điều 27 Luật Hôn nhân và Gia đình; Nghị định số: 144/2006/NĐ – CP ngày 27/11/2006 của Chính phủ về hụi, họ, bêu, phường; Nghị quyết số: 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Uỷ ban Thường vụ Quốc Hội.
Tuyên xử:
Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn bà Lê Thị Y về tranh chấp hợp đồng góp hụi với bị đơn bà Nguyễn Thị D và người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan ông Đinh Văn P1.
Buộc bà Nguyễn Thị D và ông Đinh Văn P1 phải có nghĩa vụ liên đới trả cho bà Lê Thị Y số tiền 175.000.000 đồng (một trăm bảy mươi lăm triệu đồng).
Kể từ ngày bản án, quyết định có hiệu lực pháp luật (đối với các trường hợp cơ quan thi hành án có quyền chủ động ra quyết định thi hành án) hoặc kể từ ngày có đơn yêu cầu thi hành án của người được thi hành án (đối với các khoản tiền phải trả cho người được thi hành án) cho đến khi thi hành xong tất cả các khoản tiền, hàng tháng bên phải thi hành án còn phải bàu khoản tiền lãi của số tiền còn phải thi hành án theo mức lãi suất quy định tại khoản 2 Điều 468 Bộ luật Dân sự năm 2015.
Về án phí:
- Án phí dân sự sơ thẩm: Bà Nguyễn Thị D và ông Đinh Văn P1 phải có nghĩa vụ liên đới chịu số tiền 8.750.000 đồng (tám triệu bảy trăm năm chục nghìn đồng).
Hoàn tiền tạm ứng án phí đã nộp cho bà Lê Thị Y là 4.375.000 đồng (bốn triệu ba trăm bảy mươi lăm nghìn đồng) theo biên lai thu số 00162285 ngày 18/5/2018 của Chi cục Thi hành án dân sự huyện P, tỉnh Bến Tre.
- Án phí dân sự phúc thẩm: Ông Đinh Văn P1 phải chịu án phí là 300.000 đồng (ba trăm nghìn đồng) nhưng được khấu trừ vào tiền tạm ứng án phí đã nộp theo biên lai thu số 0018690 ngày 21/11/2018 của Chi cục Thi hành án dân sự huyện P, tỉnh Bến Tre.
Trường hợp bản án được thi hành theo Điều 2 Luật thi hành án dân sự thì người được thi hành án, người phải thi hành án có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án, hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo qui định tại các Điều 6, 7, 7a, 7b, 9 Luật thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo qui định tại Điều 30 Luật thi hành án dân sự.
Bản án phúc thẩm có hiệu lực kể từ ngày tuyên án.
| Nơi nhận: - VKSND tỉnh Bến Tre; - TAND huyện P; - Chi cục THADS huyện P; - Các đương sự; - Lưu: VT, hồ sơ vụ án. | TM.HỘI ĐỒNG XÉT XỬ PHÚC THẨM THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA (đã ký) Nguyễn Thị Ngọc Hương |