vanban.org

Bản án 15/2018/HSST — Hình sự

TAND TX. Hồng Lĩnh, tỉnh Hà Tĩnh Tuyên án 27/06/2018 Hình sự Sơ thẩm
Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Tuyên bố bị cáo Lê Anh Đ phạm tội: “Trộm cắp tài sản”.

Xử phạt: Bị cáo Lê Anh Đ 24 (hai mươi bốn) tháng tù. Thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày bắt tạm giam (ngày 04/5/2018). 2 . Về xử lý vật chứng: Áp dụng điểm a khoản 1 Điều 47 Bộ luật Hình sự; điểm a, c khoản 2 Điều 106 Bộ luật hình sự: Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? án hình sự — "Lê Anh Đ phạm tội trộm cắp tài sản - phạm tội trộm cắp tài sản (điều 173 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS năm 2015)"
  • Tòa quyết gì? Tuyên bố bị cáo Lê Anh Đ phạm tội: “Trộm cắp tài sản”.
  • Căn cứ chính? Điều 51 Bộ luật Hình sự; Điều 106 Bộ luật Hình sự; Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự
TOÀ ÁN NHÂN DÂN
THỊ XÃ HỒNG LĨNH
TỈNH HÀ TĨNH
––––––––––––––

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 15/2018/HS-ST
Ngày 27/6/2018
.

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN THỊ XÃ HỒNG LĨNH, TỈNH HÀ TĨNH

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Bùi Quang Năng

Các Hội thẩm nhân dân: Ông Lê Hải Dương và ông Hồ Mạnh Thưởng

Thư ký phiên tòa: Bà Nguyễn Phú Qúy – Thư ký Tòa án nhân dân thị xã Hồng Lĩnh, tỉnh Hà Tĩnh

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thị xã Hồng Lĩnh tham gia phiên tòa: Ông Nguyễn Văn Thành, kiểm sát viên.

Ngày 27 tháng 6 năm 2018 tại trụ sở Tòa án nhân dân thị xã Hồng Lĩnh Tỉnh Hà Tĩnh xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số: 14/2018/HSST, ngày 01 tháng 6 năm 2018 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 15/2018/QĐXXST-HS, ngày 13 tháng 6 năm 2018 đối với bị cáo:

Họ và tên: Lê Anh Đ. Tên gọi khác: Không. Sinh ngày 02 tháng 9 năm 1988, tại Huyện T, tỉnh T . Nơi cư trú: Tổ dân phố 10, phường H, thành phố H T, tỉnh H T. Nghề nghiệp: Lao động tự do. Trình độ học vấn: 09/12. Con ông Lê Văn H, sinh năm 1957 con bà Nguyễn Thị X, sinh năm 1964. Anh chị em ruột có hai người, bị cáo là con thứ nhất. Vợ: Trần Thị Thùy L, sinh năm 1993. Con: có 01 con, sinh năm 2013. Tiền án, tiền sự: Không.

Nhân thân: - Ngày 2/12/2007, bị Tòa án nhân dân thành phố Hà Tĩnh xét xử 03 năm 09 tháng tù về tội “ Trộm cắp tài sản” theo bản án số 48/2007/HSST. Ngày 03/3/2010 chấp hành xong hình phạt tù. Đã được xóa án tích.

- Ngày 29/9/2010, bị Tòa án nhân dân thị xã Hồng Lĩnh, tỉnh Hà Tĩnh xét xử 22 tháng tù về tội “ Trộm cắp tài sản” theo bản án số 19/2010/HSST. Ngày 18/01/2012 chấp hành xong hình phạt tù. Đã được xóa án tích.

1

- Ngày 18/02/2017, bị Công an phường Trần Phú, thành phố Hà Tĩnh, tỉnh Hà Tĩnh ra Quyết định xử phạt vi phạm hành chính số tiền 1.500.000 đồng về hành vi Đánh bạc. Đã thi hành xong.

Bị cáo bị tạm giam từ ngày 04/5/2018 đến nay, có mặt tại phiên tòa.

* Người bị hại:

- Bà Đinh Thị L, sinh năm: 1974; Trú tại: Tổ dân phố 2, phường B, thị xã H, tỉnh H. Nghề nghiệp: Giáo viên. ( Vắng mặt).

- Ông Phan Văn S, sinh năm 1954; Trú tại: Tổ dân phố Đ, phường Đ, thị xã H, tỉnh H. Nghề nghiệp: Làm ruộng. (Có mặt).

* Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan:

- Chị Trần Thị Thùy L, sinh năm 1993; Trú tại: Tổ dân phố 10, phường B, thành phố H, tỉnh H. ( Vắng mặt).

-Đại diện công ty taxi Lam Hồng có anh Hồ Việt T, sinh năm 1982; Trú tại: Khối phố T, phường T, thành phố H, tỉnh H. (Vắng mặt).

- Bà Nguyễn Thị X, sinh năm 1964; Trú tại: Tổ dân phố 10, phường B, thành phố H, tỉnh H. (Có mặt).

- Anh Ngô Thế A, sinh năm 1988; Trú tại: Thôn Đ, xã T, huyện T, tỉnh H. (Vắng mặt).

- Anh Lê Thế S, sinh năm 1993; Trú tại: Tổ dân phố 7, phường Hà Huy T, thành phố H, tỉnh H. ( Vắng mặt).

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Trong khoảng thời gian từ ngày 02/4/2018 đến ngày 06/4/2018, Lê Anh Đ đã hai lần thực hiện hành vi trộm cắp tài sản trên địa bàn thị xã Hồng Lĩnh, tỉnh Hà Tĩnh, cụ thể như sau:

Lần thứ nhất: Khoảng 07 giờ 30 phút ngày 02/4/2018, Lê Anh Đ là lái xe hợp đồng của hãng taxi Lam Hồng một mình điều khiển xe ô tô biển kiểm soát 38A- 072.97 đi từ thành phố H ra thị xã H với mục đích trộm cắp tài sản. Khi đến đường 3/2 đối diện Trung tâm văn hóa thị xã H thuộc Tổ dân phố 2, phường Bắc Hồng, thị xã H, Đ đậu xe tại đây và lấy lưỡi cưa bằng kim loại đã chuẩn bị từ trước để trên xe ô tô thu giấu trong người rồi đi bộ dọc theo các tuyến đường ở khu dân cư gần đó tìm nhà dân sơ hở để trộm cắp tài sản. Khoảng 08 giờ 30 phút cùng ngày, khi đi ngang qua nhà bà Đinh Thị L, Đ nhìn thấy cửa cổng khóa, cửa

2

chính nhà đóng, cửa sổ phòng lồi mở, nghĩ không có người ở nhà nên đã trèo qua cổng vào sân, dùng lưỡi cưa cưa đứt song cửa sổ bằng gỗ dưới cùng bên trái rồi chui vào trong, đi đến phòng khách lục soát lấy trộm một chiếc điện thoại di động nhãn hiệu SAMSUNG model: SM-G355HLDS màu đen để ở trên bàn cho vào túi quần bên trái, rồi đi vào phòng ngủ phía sau phòng khách lấy trộm một chiếc máy tính xách tay nhãn hiệu ASUS model K555LA để ở trên bàn và một chiếc máy tính xách tay nhãn hiệu ASUS model X44H để trong túi xách bên cạnh đó. Đ mang theo chiếc điện thoại di động và hai máy tính xách tay vừa trộm được trèo ra ngoài bằng đường cũ rồi đi lại nơi đỗ xe, điều khiển xe ô tô đi về thành phố H. Đến khoảng 15 giờ cùng ngày, Đ mang chiếc máy tính xách tay nhãn hiệu ASUS model K555LA đến cửa hàng “Anh Trung” địa chỉ tại số 236 đường Hải Thượng Lãn Ông, thành phố H bán cho anh Ngô Thế A với giá 1.800.000 đồng (một triệu tám trăm nghìn đồng), chiếc máy tính xách tay nhãn hiệu ASUS model X44H Đ để lại trên xe ô tô, sau đó giao lại cho anh Lê Thế S sử dụng, còn chiếc điện thoại di động nhãn hiệu SAMSUNG model: SM-G355HLDS màu đen Đ cho vợ là chị Trần Thị Thùy L sử dụng. Số tiền bán chiếc máy tính xách tay nhãn hiệu ASUS model K555LA, Đ đã sử dụng hết cho cá nhân.

Lần thứ hai: Khoảng 07 giờ 30 phút ngày 06/4/2018, Lê Anh Đ một mình điều khiển xe ô tô biển kiểm soát 38A- 072.97 đi từ thành phố H ra thị xã H để trộm cắp tài sản. Khi đến đường Quốc lộ 8A, ở khu vực ngã tư đèn tín hiệu giao thông gần Bệnh viện đa khoa thị xã H, Đ đậu xe bên đường đi bộ sang đường, đi dọc theo mép đường Quốc lộ 8A hướng đi huyện Đ tìm nhà dân sơ hở để đột nhập trộm cắp tài sản. Khoảng 09 giờ cùng ngày, khi đi qua nhà ông Phan Văn S ở tổ dân phố Đ, phường Đ, thị xã H, Đ nhìn thấy cửa chính đóng, nghĩ không có người ở nhà nên đã đi vào đường bê tông phía tây nhà ông S, trèo qua bờ rào cây xanh tiến đến cửa hông bằng nhôm kính. Đ phát hiện miếng kính sát vị trí chốt cửa bị nứt nên dùng tay đẩy nhẹ làm kính vỡ tạo ra lỗ hổng trên kính rồi luồn ngón tay qua khe hổng đẩy chốt mở được của đi vào trong phát hiện chiếc tủ gỗ dạng tủ kệ đặt dưới cầu thang, cánh cửa bên phải có chìa khóa nên mở tủ tìm kiếm thấy một cuốn sổ bìa màu đen, bên trong có kẹp nhiều tiền, đều là các tờ tiền mệnh giá 500.000 đồng (năm trăm nghìn đồng), Đ lấy hết bỏ vào túi quần, rồi tiếp tục đi lên tầng 2 đến phòng ngủ, thấy có một chiếc hòm bằng kim loại, bên trong có một chiếc hòm kim loại nhỏ hơn được khóa lại. Đ bê chiếc hòm nhỏ ra, dùng một thanh kim loại tìm thấy ở sau hiên tầng 2 nhà ông S và cạy phá khóa bản lề nắp hòm bung ra. Đ lục lọi tìm thấy 3.000.000 đ (ba triệu đồng) bỏ vào trong túi quần cùng với số tiền lấy trộm được trước đó theo đường cũ đi ra ngoài đến chổ đỗ xe điều khiển xe ô tô đi về thành phố Hà Tĩnh. Tổng số tiền Đ lấy trộm của ông S là 35.500.000 đ ( ba mươi lăm triệu năm trăm ngàn đồng). Số tiền có được Đ đã sử dụng nộp thẻ điện tử, chơi game, ăn uống và sử dụng cho cá nhân trong khoảng mười ngày thì hết.

Ngày 03/5/2018 Hội đồng định giá tài sản trong Tố tụng hình sự thị xã

3

Hồng Lĩnh định giá hai chiếc máy tính xách tay và chiếc điện thoại của bà Đinh Thị L nêu trên tại thời điểm bị chiếm đoạt tổng trị giá là 10.200.000đ (mười triệu hai trăm nghìn đồng). Qúa trình điều tra người bị hại không có ý kiến hay khiếu nại gì về kết luận của Hội đồng định giá nêu trên.

Vật chứng của vụ án: Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an thị xã Hồng Lĩnh đã thu giữ và xử lý như sau:

-01 xe ô tô nhãn hiệu KIA, số loại Morning, biển kiểm soát 38a-072.97 số máy G4LAEF051295, số khung 51M5EC048521, loại xe 05 chổ ngồi, sơn màu bạc, dán nhãn mác taxi Lam Hồng, đã qua sử dụng. Kèm theo giấy chứng nhận đăng ký xe ô tô số 001376 mang tên Công ty cổ phần Taxi Lam Hồng. Sau khi điều tra làm rõ, Cơ quan Cảnh sát điều tra đã trả lại cho chủ sở hữu hợp pháp là Công ty cổ phần Taxi Lam Hồng.

- 01 máy tính xách tay nhãn hiệu ASUS, vỏ màu đen, model: X44H, đã qua sử dụng, chất lượng không kiểm tra, kèm theo bộ xạc pin, túi xách. 01 điện thoại di động nhãn hiệu SAMSUNG, model: SM-G355HLDS, số Imei 356083060781826 và 356084060781824 vỏ màu đen, đã qua sử dụng. Đây là hai loại tài sản hợp pháp của bà Đinh Thị L, sau khi điều tra làm rõ, Cơ quan Cảnh sát điều tra đã trả lại cho chủ sở hữu.

- 01 chiếc lưỡi cưa có hai mặt răng cưa bằng kim loại màu trắng sáng, dài 30 cm, rộng 2 cm, trên thân có dòng chữ BLUF IFAVER, đã qua sử dụng. Đây là công cụ bị cáo Lê Anh Đ dùng vào việc thực hiện hành vi phạm tội, hiện đang bị tạm giữ tại Chi cục thi hành án dân sự thị xã Hồng Lĩnh, tỉnh Hà Tĩnh.

Về trách nhiệm dân sự: Bị cáo Lê Anh Đ đã tác động gia đình tự nguyện thỏa thuận, bồi thường thiệt hại cho những người bị hại là bà Đinh Thị L số tiền 9.000.000 đồng (bao gồm 6.500.000 đồng chiếc máy tính không thu hồi được và tiền công sữa chữa cửa sổ bị hỏng 2.500.000 đồng), ông Phan Văn S chỉ nhận số tiền 32.000.000 đồng (ít hơn 3.500.000 đồng so với số tiền bị mất trộm). Những người bị hại sau khi nhận tài sản và tiền bồi thường không yêu cầu gì thêm, nên không đề cập giải quyết.

Tại bản cáo trạng số: 16/CT-VKS-TXHL, ngày 31/5/2018 của Viện kiểm sát nhân dân thị xã Hồng Lĩnh, tỉnh Hà Tĩnh quyết định truy tố ra trước Tòa án nhân dân thị xã Hồng Lĩnh để xét xử bị cáo Lê Anh Đ về tội: “Trộm cắp tài sản ” theo quy định tại khoản 1 Điều 173 của Bộ luật hình sự.

Tại phiên tòa, đại diện Viện kiểm sát nhân dân thị xã Hồng Lĩnh, tỉnh Hà Tĩnh vẫn giữ nguyên quan điểm truy tố về tội danh, điều luật áp dụng như nội dung bản Cáo trạng và đề nghị Hội đồng xét xử:

Căn cứ Khoản 1 Điều 173; điểm b, s khoản 1, 2 Điều 51; điểm g khoản 2 Điều 52; Điều 38 của Bộ luật hình sự xử phạt bị cáo từ 27 đến 30 tháng tù. Thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày bắt tạm giam ( ngày 04/5/2018).

4

Về xử lý vật chứng: Đề nghị tiêu hủy 01 lưỡi cưa bằng kim loại (có đặc điểm như trong biên bản giao nhận vật chứng ngày 01/6/2018 giữa Cơ quan cảnh sát điều tra Công an thị xã Hồng Lĩnh với Chi cục thi hành án dân sự thị xã Hồng Lĩnh)

Về trách nhiệm dân sự: Những người bị hại trong vụ án sau khi nhận lại các loại tài sản bị chiếm đoạt và bồi thường thiệt hại không có yêu cầu gì thêm, nên không yêu cầu xem xét.

Căn cứ các chứng cứ, tài liệu đã được thẩm tra tại phiên tòa, căn cứ vào kết quả tranh luận tại phiên tòa trên cơ sở xem xét đầy đủ, toàn diện chứng cứ, ý kiến kiểm sát viên, bị cáo và những người tham gia tố tụng khác.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra công an thị xã Hồng Lĩnh, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân thị xã Hồng Lĩnh, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật tố tụng Hình sự. Qúa trình điều tra và tại phiên tòa bị cáo, và những người tham gia tố tụng khác không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.

Về tội danh đối với bị cáo: Tại phiên tòa hôm nay, bị cáo Lê Anh Đ khai nhận hành vi phạm tội của mình như nội dung bản Cáo trạng đã truy tố. Lời khai của bị cáo phù hợp với tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án, và lời khai của những người tham gia tố tụng khác nên HĐXX khẳng định: Trong hai ngày 02/4/2018 và 06/4/2018 Lê Anh Đ đã lén lút vào nhà của bà Đinh Thị L lấy trộm một chiếc điện thoại di động nhãn hiệu SAMSUNG, hai chiếc máy tính xách tay màu đen, nhãn hiệu ASUS tổng trị giá 10.200.000 đồng và vào nhà ông Phan Văn S lấy trộm số tiền 35.500.000 đồng. Tổng số tiền và tài sản Lê Anh Đ chiến đoạt của người bị hại là 45.700.000 đồng.

Hành vi của Lê Anh Đức đã cấu thành tội “Trộm cắp tài sản ”, Tội danh và hình phạt được quy định tại khoản 1 Điều 173 Bộ luật hình sự vì vậy quyết định truy tố của Viện kiểm sát đối với bị cáo Lê Anh Đ là có căn cứ, đúng người, đúng tội, không oan sai.

Về tính chất, mức độ nguy hiểm của hành vi mà bị cáo đã gây ra cho xã hội: Hành vi của bị cáo Lê Anh Đ là nguy hiểm cho xã hội, bị cáo có nhân thân xấu, đã nhiều lần bị xét xử về tội Trộm cắp tài sản nhưng bị cáo không có ý thức tu dưỡng, rèn luyện để trở thành người công dân tốt mà lại tiếp tục phạm tội, hành

5

vi của bị cáo gây bức xúc, bất bình trong quần chúng nhân dân, gây mất trật tự trị an trên địa bàn nên cần phải xử phạt bị cáo nghiêm minh trước pháp luật và cần cách ly bị cáo ra khỏi xã hội để cải tạo, giáo dục bị cáo thành người có ích cho xã hội, có ý thức chấp hành nghiêm chình pháp luật, đồng thời răn đe, phòng ngừa chung.

Về các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: Bị cáo Lê Anh Đ phải chịu 01 tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự: Phạm tội 02 lần trở lên được quy đinh tại điểm g khoản 1 Điều 52 Bộ luật hình sự. Và được hưởng các tình tiết giảm nhẹ như: thành khẩn khai báo; đã tác động để cùng gia đình tự nguyện bồi thường, khắc phục hậu quả cho những người bị hại; những người bị hại đã có đơn đề nghị giảm nhẹ trách nhiệm hình sự cho bị cáo. Đây là những tình tiết được quy định tại điểm b, s khoản 1, 2 Điều 51 của Bộ luật hình sự.

Về trách nhiệm dân sự: Những người bị hại trong vụ án sau khi nhận lại các loại tài sản bị chiếm đoạt và bồi thường thiệt hại không có yêu cầu gì thêm, nên không xem xét.

Về biện pháp tư pháp và xử lý vật chứng vụ án:

- Bị cáo tác động gia đình bồi thường toàn bộ số tiền chiếm đoạt cho ông Phan Văn Sự là 35.500.000đ nhưng ông Sự thấy hoàn cảnh gia đình bị cáo khó khăn nên đã cho lại gia đình bị cáo 3.500.000đ chỉ nhận số tiền 32.000.000đ, việc ông S cho lại gia đình bị cáo số tiền 3.500.000đ là hoàn toàn tự nguyện, phù hợp với quy định của pháp luật nên HĐXX xét thấy bị cáo được hưởng lợi số tiền 3.500.000đ này là do ông Phan Văn S cho gia đình bị cáo chứ không phải là số tiền bị cáo thu lợi bất chính từ hành vi phạm tội nên HĐXX không truy thu số tiền 3.500.000đ từ bị cáo Đ để sung quỹ nhà nước.

-Qúa trình điều tra Cơ quan cảnh sát điều tra Công an thị xã Hồng Lĩnh đã ra các quyết định xử lý vật chứng trả lại 01 xe ô tô nhãn hiệu KIA, số loại Morning, biển kiểm soát 38a-072.97 số máy G4LAEF051295, số khung 51M5EC048521, loại xe 05 chổ ngồi, sơn màu bạc, dán nhãn mác taxi Lam Hồng, đã qua sử dụng. Kèm theo giấy chứng nhận đăng ký xe ô tô số 001376 mang tên Công ty cổ phần Taxi Lam Hồng cho chủ sở hữu hợp pháp là Công ty cổ phần Taxi Lam Hồng và 01 máy tính xách tay nhãn hiệu ASUS, vỏ màu đen, model: X44H, đã qua sử dụng, kèm theo bộ xạc pin, túi xách. 01 điện thoại di động nhãn hiệu SAMSUNG, model: SM-G355HLDS, số Imei 356083060781826 và 356084060781824 vỏ màu đen, đã qua sử dụng cho chủ sở hữu là bà Đinh Thị L là phù hợp quy định pháp luật nên chấp nhận.

- 01 chiếc lưỡi cưa có hai mặt răng cưa bằng kim loại màu trắng sáng, dài 30 cm, rộng 2 cm, trên thân có dòng chữ BLUF IFAVER là phương tiện bị cáo để thực hiện phạm tội, không có giá trị sử dụng cần tịch thu và tiêu hủy.

6

Về án phí: Bị cáo Lê Anh Đ phải chịu tiền án phí hình sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật.

. Về những người liên quan trong vụ án:

-Chị Trần Thị Thùy L sinh năm 1993, trú tại tổ dân phố 10, phường B ,thành phố H là vợ của bị cáo Lê Anh Đ, khi được Đ đưa chiếc điện thoại mà Đ trộm cắp được để sử dụng, chị L không biết tài sản đó do trộm cắp được mà có nên không xem xét trách nhiệm đối với chị Trần Thị Thùy L.

-Anh Lê Thế S sinh năm 1993, trú tại tổ dân phố 3, phường H, thành phố H là người được Lê Anh Đ cho mượn chiếc máy tính xách tay kèm theo phụ kiện. Khi mượn anh S không biết đây là tài sản do Lê Anh Đ trộm cắp mà có nên không xem xét trách nhiệm đối với anh Lê Thế S

-Đối với Ngô Thế A, sinh năm 1998, trú tại thôn Đ, xã T, huyện T là người mua chiếc máy tính xách tay K555LA, quá trình giao dịch mua bán, Ngô Thế A không biết tài sản này do trộm cắp mà có nên không xem xét trách nhiệm đối với Ngô Thế A.

. Về đề nghị của Đại diện viện kiểm sát: HĐXX xét thấy lời để nghị giải quyết toàn bộ vụ án như trên là hoàn toàn chính xác, phù hợp quy định pháp luật nên HĐXX chấp nhận, tuy nhiên về mức hình phạt mà Viện kiểm sát đề nghị đối với bị cáo là hơi cao,chỉ cần xử phạt bị cáo thấp hơn mức khởi điểm mà Viện kiểm sát đề nghị cũng đủ nghiêm và phù hợp với tính chất mức độ nguy hiểm của hành vi mà bị cáo đã gây ra cho xã hội.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

1. Tuyên bố bị cáo Lê Anh Đ phạm tội: “Trộm cắp tài sản”.

- Căn cứ khoản 1 Điều 173, điểm b, s khoản 1, khoản 2 Điều 51; điểm g khoản 1 Điều 52, Điều 38 của Bộ luật hình sự năm 2015, sửa đổi, bổ sung năm 2017.

Xử phạt: Bị cáo Lê Anh Đ 24 (hai mươi bốn) tháng tù. Thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày bắt tạm giam (ngày 04/5/2018).

2 . Về xử lý vật chứng: Áp dụng điểm a khoản 1 Điều 47 Bộ luật Hình sự; điểm a, c khoản 2 Điều 106 Bộ luật hình sự:

- Tịch thu và tiêu hủy 01 chiếc lưỡi cưa có hai mặt răng cưa bằng kim loại màu trắng sáng, dài 30 cm, rộng 2 cm, trên thân có dòng chữ BLUF IFAVER, đã qua sử dụng.

Tình trạng tang vật có tại biên bản giao nhận vật chứng giữa cơ quan cảnh sát điều tra Công an thị xã Hồng Lĩnh và Chi cục thi hành án dân sự thị xã Hồng Lĩnh ngày 01/6/2018.

7

3. Về án phí: Căn cứ khoản 2 Điều 136 BLTTHS năm 2015, điểm a khoản 1 Điều 3, Điều 6, khoản 1 Điều 21, điểm a khoản 1 Điều 23 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 “Về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án” buộc bị cáo Lê Anh Đ phải chịu 200.000đ (hai trăm nghìn đồng) tiền án phí hình sự sơ thẩm.

4. Về quyền kháng cáo: Bị cáo, người bị hại, người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan có mặt tại phiên tòa có quyền kháng cáo bản án này trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án;

Người bị hại; Người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan vắng mặt tại phiên tòa có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày, kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết.

Cỡ chữ