vanban.org

Bản án 15/2018/HSST — Hình sự

TAND TP. Bảo Lộc, tỉnh Lâm Đồng Tuyên án 04/04/2018 Hình sự Sơ thẩm
Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Tuyên bố, bị cáo Chung Lý Ngọc L phạm tội Tàng trữ trái phép ch t ma túy , bị cáo Tr n Công H phạm tội Vận chuyển trái phép ch t ma túy .

Về xử lý vật chứng: C n cứ Điều 47 Bộ luật hình sự 2015 và Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự 2015: Tịch thu tiêu h y: 02 phong bì tang vật niêm phong sau giám định mang số 1713/2017, 01 bình th y tinh dùng để sử dụng ma túy. Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? án hình sự — "Chung Lý Ngọc L - Tàng trữ trái phép chất ma túy - phạm tội tàng trữ vận chuyển, mua bán hoặc chiếm đoạt ma tuý (điều 194 Bộ luật hình sự nă…"
  • Tòa quyết gì? Tuyên bố, bị cáo Chung Lý Ngọc L phạm tội Tàng trữ trái phép ch t ma túy , bị cáo Tr n Công H phạm tội Vận chuyển trái phép ch t ma túy .
  • Căn cứ chính? Điều 194 Bộ luật Hình sự; Điều 46 Bộ luật Hình sự; Điều 48 Bộ luật Hình sự
TÒA ÁN NHÂN DÂN
THÀNH PHỐ BẢO LỘC
TỈNH LÂM ĐỒNG

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 15/2018/HSST
Ngày:
04/4/2018

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ BẢO LỘC TỈNH LÂM ĐỒNG

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Nguyễn Khắc Quảng;

Các Hội thẩm nhân dân: Ông Lê Xuân Ngân, ông Ng uân B ng.

- Thư ký phiên tòa: Ông Đ ng Khắc C ng - Là Th ký Tòa án nhân dân thành phố Bảo Lộc.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Bảo Lộc tham gia phiên tòa: Ông Tr n V n Chung - Kiểm sát viên.

Ngày 04 tháng 4 n m 2018, tại trụ sở Tòa án nhân dân thành phố Bảo Lộc, xét xử sơ thẩm c ng khai vụ án hình sự thụ lý số: 16/2018/TLST-HS ngày 28 tháng 02 n m 2018, theo Quyết định đ a vụ án ra xét xử số 18/2018/QĐ ST-HS, ngày 20 tháng 3 n m 2018, đối với các bị cáo:

1. Họ và tên: Chung Lý Ngọc L; sinh ngày 11/11/1995; nơi sinh: Thành phố H Chí Minh; nơi đ ng ký th ng trú và c trú: Số 295/02/15 đ ng THD, ph ng BTĐ, quận B, Thành phố H Chí Minh; v n hóa: 7/12; nghề nghiệp: Không; quốc tịch: Việt Nam; dân tộc: Kinh; t n giáo: Phật; con ông Chung Lý Ngh, sinh n m 195 và bà Bùi Thị Ng, sinh n m 1961, cả hai hiện trú tại ph ng BTĐ, quận B, Thành phố H Chí Minh; bị cáo là con nh trong gia đình có hai anh em; vợ, con: Ch a có; tiền án, tiền sự: Không. Bị cáo bị bắt tạm giam từ ngày 02/11/2017, hiện đang bị tạm giam tại nhà tạm giữ C ng an thành phố B, (Có m t).

2. Họ và tên: Trần Công H; sinh ngày: 14/6/1993; nơi sinh: Thành phố H Chí Minh; nơi đ ng ký th ng trú và c trú: Số 189/6 đ ng HB, ph ng H, quận T, Thành phố H Chí Minh; v n hóa: 6/12; nghề nghiệp: Không; quốc tịch: Việt Nam; dân tộc: Kinh; t n giáo: Không; con ông Tr n C ng H1, sinh n m 1959 và bà Nguyễn Kim D, sinh n m 1969, cả hai hiện trú tại ph ng H, quận T, Thành phố H Chí Minh; bị cáo là con nh nh t trong gia đình có ba chị em; vợ, con: Ch a có; tiền sự: Không; tiền án: Ngày 17/08/2016 bị Tòa án nhân dân quận Tân Phú, Thành phố H Chí Minh xử phạt 07 tháng 03 ngày tù về tội Bắt, giữ ng i trái pháp luật , đến nay ch a đ ợc xóa án (bản án số 159/2016/HSST). Bị cáo bị bắt tạm giam từ ngày 02/11/2017, hiện đang bị tạm giam tại nhà tạm giữ C ng an thành phố B, (Có m t).

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Chung Lý Ngọc L là đối t ợng nghiện ma túy, để có ma túy sử dụng L đã đ a cho Tr n C ng H một thẻ ATM đứng tên L, mục đích khi c n mua ma túy L sẽ chuyển tiền vào tài khoản để H thanh toán. Ngày 30/10/2017, L chuyển số tiền 3.600.000đ vào thẻ ATM nói trên r i nói H rút ra 1.600.000đ để trả nợ, còn lại 2.000.000đ để lại trong thẻ. Đến ngày 01/11/201 , L nh bạn gái tên Phạm Thùy Tr chuyển thêm số tiền 3.500.000đ vào thẻ ATM nói trên, sau đó L điện thoại nói H rút hết số tiền trên để trả cho ng i bán ma túy. Khoảng 16 gi ngày 01/11/2017 có một ng i đàn ng (kh ng r lai lịch) chạy xe m đến nhà H, chở H ra cây ATM tại Quận 6, thành phố H Chí Minh để rút số tiền 5.500.000đ, sau đó H đ a cho ng i này 5.000.000đ. Đến khoảng 20 gi cùng ngày thì ng i này đ a lại cho H 02 gói ma túy và chở H ra bến xe Thành B ởi tại Quận 5, thành phố H Chí Minh để đón xe đi Bảo Lộc, mang ma túy giao cho L. Còn số tiền 500.000đ thì H sử dụng mua vé xe và chi phí đi đ ng.

Khoảng 03 gi sáng ngày 02/11/201 thì H đến thành phố Bảo Lộc và đ ợc L đón về phòng 405 khách sạn Gia Hảo, tại địa chỉ 9 Phan Bội Châu, Ph ng 1, thành phố B. Khi vào phòng H l y 02 gói ma túy đ a cho L, L phân số ma túy trên thành 03 gói và l y một ít ra để sử dụng cùng với H và Tr. Khoảng 13 gi ngày 02/11/2017 có thêm Tr ơng Nh, sinh n m 1993, trú tại số 166/07 đ ng H, ph ng L, thành phố B đến khách sạn cùng sử dụng ma túy với nhóm c a L. Đến 14 gi cùng ngày thì Cơ quan điều tra phát hiện bắt quả tang, tang vật thu giữ g m: 02 gói nilon kích th ớc 04x02cm, 01 gói nilon kích th ớc 05x08cm, đều đ ợc hàn kín, bên trong có chứa các hạt tinh thể rắn màu trắng (nghi là ch t ma túy); 01 bình th y tinh để sử dụng ma túy đá; 01 gi y phép lái xe mang tên Chung Lý Ngọc L; 01 điện thoại di động nhãn hiệu Iphone 5 màu trắng-đen; 02 điện thoại di động nhãn hiệu Nokia 1280. Khi bắt giữ Tr n C ng H, Cơ quan điều tra còn thu giữ c a H 01 điện thoại di động nhãn hiệu Samsung và số tiền 00.000đ.

Theo kết luận giám định số 1 13/GĐ-PC54, ngày 04/11/201 c a Phòng kỹ thuật hình sự C ng an tỉnh Lâm Đ ng thì mẫu tinh thể đựng trong 03 gói nylon gửi giám định là ma túy, có khối l ợng 14,7579gr, loại Methamphetamine.

Tại bản Cáo trạng số 20/CT-VKSBL, ngày 28 tháng 02 n m 2018, Viện kiểm sát nhân dân thành phố B đã truy tố bị cáo bị cáo Chung Lý Ngọc L về tội Tàng trữ trái phép ch t ma túy , truy tố bị cáo Tr n C ng H về tội Vận chuyển trái phép ch t ma túy theo khoản 1 Điều 194 Bộ luật Hình sự n m 1999.

Tại phiên tòa h m nay đại diện Viện kiểm sát giữ nguyên Cáo trạng, đề nghị áp dụng khoản 1 Điều 194, điểm p khoản 1 Điều 46 Bộ luật Hình sự 1999, xử phạt bị cáo Chung Lý Ngọc L từ 36 đến 42 tháng tù; áp dụng khoản 1 Điều 194, điểm p khoản 1 Điều 46, điểm g khoản 1 Điều 48 Bộ luật Hình sự 1999, xử phạt bị cáo Tr n C ng H từ 36 đến 42 tháng tù.

Các bị cáo khai nhận, việc th a thuận mua ma túy với đối t ợng tên Sơn (tại Thành phố H Chí Minh) là do bị cáo L trực tiếp trao đ i qua điện thoại, bị cáo H khi đó đang ở thành phố H Chí Minh nên đ ợc bị cáo L nh rút tiền từ tài khoản đ a cho ng i c a Sơn và nhận ma túy, sau đó đ a lên Bảo Lộc giao cho L. Các nội dung khác đúng nh Cáo trạng c a Viện kiểm sát đã nêu, các bị cáo kh ng thắc mắc, khiếu nại gì về nội dung Cáo trạng và th y đúng với tội c a mình, xin đ ợc giảm nhẹ hình phạt.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

Bị cáo L và bị cáo H đều là các đối t ợng nghiện ma túy, để có ma túy sử dụng L đã đ a cho H một thẻ ATM với mục đích khi nào L mua ma túy thì H sẽ rút tiền ra để trả. Vào ngày 01/11/2017, sau khi L th a thuận mua ma túy với đối t ợng tên Sơn (ch a r lai lịch, tại Thành phố H Chí Minh), thì L điện thoại yêu c u H rút tiền ra thanh toán và nhận 02 gói ma túy. Sau đó H mang từ Thành phố H Chí Minh lên Bảo Lộc giao cho bị cáo L. Đến ngày 02/11/2017, Cơ quan điều tra đã phát hiện bắt quả tang thu giữ số ma túy khối l ợng 14, 5 9gram, loại Methamphetamine. Đối chiếu l i khai c a các bị cáo, nhân chứng, vật chứng thu giữ, kết luận giám định, có đ c n cứ khẳng định hành vi c a bị cáo Chung Lý Ngọc L có đ yếu tố c u thành tội Tàng trữ trái phép ch t ma túy , hành vi c a bị cáo Tr n C ng H có đ yếu tố c u thành tội Vận chuyển trái phép ch t ma túy , tội phạm và hình phạt đ ợc qui định tại khoản 1 Điều 194 Bộ luật Hình sự 1999.

ét tính ch t hành vi phạm tội do các bị cáo thực hiện là nguy hiểm cho xã hội, thể hiện thái độ coi th ng kỷ c ơng pháp luật. Hành vi trên kh ng những xâm phạm đến quyền quản lý độc quyền c a Nhà n ớc về ch t ma túy mà còn gây m t trật tự trị an tại địa ph ơng, góp ph n làm gia t ng các tệ nạn xã hội trên địa bàn thành phố B; đây là vụ án có đ ng phạm, xem xét vai trò từng bị cáo th y rằng:

Đối với bị cáo L, là ng i ch động giao dịch mua ma túy với đối t ợng tên Sơn, sau đó yêu c u bị cáo H giao tiền và nhận ma túy, vì vậy c n phải xét xử bị cáo L mức hình phạt nghiêm khắc hơn. Đối với bị cáo H, chỉ là ng i giao tiền và nhận ma túy r i vận chuyển từ thành phố H Chí Minh lên B theo sự chỉ đạo c a L, nh ng về nhân thân bị cáo H đã có một tiền án về tội bắt giữ ng i trái pháp luật, đến nay ch a đ ợc xóa án lại phạm tội, vì vậy c n áp dụng điểm g khoản 1 điều 48 Bộ luật Hình sự để xử lý nghiêm mới có tác dụng giáo dục. Tuy nhiên cũng th y rằng, trong quá trình điều tra và tại phiên tòa các bị cáo thật thà khai báo nên c n áp dụng điểm p khoản 1 Điều 46 Bộ luật Hình sự để giảm nhẹ cho bị cáo một ph n.

ét th y, các bị cáo bị truy cứu trách nhiệm hình sự về tội tàng trữ, vận chuyển trái phép ch t ma túy theo khoản 1 Điều 194 Bộ luật Hình sự n m 1999, bởi khối l ợng ch t ma túy mà các bị cáo phải chịu trách nhiệm là 14, 5 9gram, (loại ch t Methamphetamine). Theo qui định c a Bộ luật Hình sự n m 2015 cũng với khối l ợng này thì phạm vào khoản 2 Điều 249, có mức hình phạt cao hơn. Do đó kh ng áp dụng Bộ luật Hình sự n m 2015 để xét xử đối với các bị cáo là phù hợp.

Trong vụ án này còn có đối t ợng Phạm Thùy Tr, đã có hành vi giúp bị cáo L chuyển tiền vào thẻ ATM để bị cáo H trả tiền mua ma túy. Tuy nhiên khi nộp tiền thì Tr kh ng biết bị cáo L sử dụng mua ma túy nên kh ng truy cứu trách nhiệm hình sự đối với Phạm Thùy Tr trong vụ án này.

Đối với đối t ợng tên Sơn và ng i đàn ng chạy xe m (không rõ lai lịch) đã bán ma túy cho bị cáo L. Quá trình điều tra ch a xác định đ ợc nhân thân lai lịch, nên c n tách ra khi nào điều tra làm r sẽ xử lý sau.

Về xử lý vật chứng: C n cứ Điều 47 Bộ luật hình sự 2015 và Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự 2015 xử lý các vật chứng nh sau:

Đối với 02 phong bì tang vật niêm phong sau giám định mang số 1713/2017, 01 bình th y tinh dùng để sử dụng ma túy, xét th y đây là những vật kh ng có giá trị nên tịch thu tiêu h y.

Đối với 02 điện thoại di động hiệu Nokia 1280 (tạm giữ c a bị cáo L), 01 điện thoại di động Samsung màu đen (tạm giữ c a bị cáo H), xét th y đây là c ng cụ phạm tội nên tịch thu sung quĩ Nhà n ớc.

Đối với 01 điện thoại di động hiệu Iphone 5 màu trắng-đen, 01 Gi y phép lái xe mang tên Chung Lý Ngọc L, xét th y đây là gi y t , tài sản không liên quan đến tội phạm nên trả lại cho bị cáo.

Đối với số tiền 700.000đ thu giữ c a bị cáo H, xét th y đây là tiền kh ng liên quan đến tội phạm nên trả lại cho bị cáo, nh ng c n tạm giữ để đảm bảo thi hành án.

Trong quá trình khởi tố điều tra, kiểm sát hoạt động điều tra và truy tố bị cáo ra tr ớc tòa, Điều tra viên, Kiểm sát viên đã nghiêm túc thực hiện các hành vi, quyết định tố tụng, đảm bảo việc giải quyết vụ án đúng pháp luật.

Về án phí: Buộc các bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

1. Tuyên bố, bị cáo Chung Lý Ngọc L phạm tội Tàng trữ trái phép ch t ma túy , bị cáo Tr n Công H phạm tội Vận chuyển trái phép ch t ma túy .

Áp dụng khoản 1 Điều 194, điểm p khoản 1 Điều 46 Bộ luật Hình sự 1999, xử phạt bị cáo Chung Lý Ngọc L 42 (B n mươi hai) tháng tù. Th i hạn tù tính từ ngày 02/11/2017.

Áp dụng khoản 1 Điều 194, điểm p khoản 1 Điều 46, điểm g khoản 1 Điều 48 Bộ luật Hình sự 1999, xử phạt bị cáo Trần C ng H 36 (Ba mươi sáu) tháng tù. Th i hạn tù tính từ ngày 02/11/2017.

2. Về xử lý vật chứng: C n cứ Điều 47 Bộ luật hình sự 2015 và Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự 2015:

Tịch thu tiêu h y: 02 phong bì tang vật niêm phong sau giám định mang số 1713/2017, 01 bình th y tinh dùng để sử dụng ma túy.

Tịch thu sung quĩ Nhà n ớc: 02 điện thoại di động hiệu Nokia 1280, 01 điện thoại di động Samsung màu đen.

Trả lại cho bị cáo Tr n Công H số tiền 700.000đ (B y trăm ngìn đồng), theo biên lai thu số AA/2010/09949, ngày 12/3/2018 c a Chi cục Thi hành án dân sự thành phố B, nh ng tạm giữ để đảm bảo thi hành án.

Trả lại cho bị cáo L: 01 điện thoại di động Iphone 5 màu trắng-đen, 01 Gi y phép lái xe mang tên Chung Lý Ngọc L, nh ng tạm giữ để đảm bảo thi hành án.

(Các vật chứng được ghi nhận theo biên b n giao nhận ngày 12/3/2018 giữa Cơ quan c nh sát điều tra Công an thành ph B o Lộc với Chi cục thi hành án dân sự thành ph B o Lộc).

3. Về án phí: C n cứ Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự 2015; Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 qui định về án phí, lệ phí tòa án, buộc m i bị cáo phải chịu 200.000đ (Hai trăm ngàn đồng) án phí hình sự sơ thẩm.

Trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án, các bị cáo có quyền kháng cáo để yêu c u Toà án nhân dân tỉnh Lâm Đ ng xét xử phúc thẩm.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

Cỡ chữ