- Tranh chấp gì? án hình sự — "Nguyễn Quang H - Cố ý gây thương tích - phạm tội cố ý gây thương tích hoặc gây tổn hại cho sức khoẻ của người khác (điều 104 Bộ luật hình sự…"
- Tòa quyết gì? Chấp nhận một phần yêu cầu kháng cáo của bị cáo, không chấp nhận kháng cáo của người bị hại.
- Căn cứ chính? Điều 355 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 51 Bộ luật Hình sự; Điều 104 Bộ luật Hình sự
| TOÀ ÁN NHÂN DÂN TỈNH HOÀ BÌNH | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Bản án số: 15/2018/HSPT Ngày: 21/8/2018 V/v: Cố ý gây thương tích |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TOÀ ÁN NHÂN DÂN TỈNH HOÀ BÌNH
Với Hội đồng xét xử phúc thẩm gồm có :
Thẩm phán - Chủ toạ phiên tßa: Bà Bạch Thị Hồng Hoa
Các Thẩm phán: Bà Lý Thị Đoàn;
Ông Nguyễn Quang T.
Thư ký phiên toà: Bà Trần Thị Vân Anh – Thư ký Tòa án.
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Hoà Bình tham gia phiên toà: Ông Nguyễn Xuân Khôi - Kiểm sát viên trung cấp.
Ngày 21/8/2018, tại trụ sở Toà án nhân dân tỉnh Hoà Bình mở phiên tòa công khai xét xử phúc thẩm vụ án hình sự thụ lý số 22/2018/TLPT - HS ngày 06/7/2018 do có kháng cáo của bị cáo Nguyễn Quang H, và người bị hại anh Nguyễn Văn T đối với bản án hình sự sơ thẩm số 25/2018/HSST ngày 04/6/2018 của TAND thành phố hòa Bình, tỉnh Hòa Bình.
Theo quyết định đưa vụ án ra xét xử số 20/2018/QĐ – PT ngày 08/8/2018 của Tòa án nhân dân tỉnh Hòa Bình.
Bị cáo kháng cáo: Nguyễn Quang H, sinh năm 1997. Nơi cư trú: Tổ 17, Phường Tân Hòa, thành phố Hòa Bình, tỉnh Hòa Bình; Nghề nghiệp: Lao động tự do; Dân tộc: Mường; trình độ văn hóa: 10/12; Con ông Nguyễn Quang Trung và bà Trần Thị Hồng Cảnh. Tiền án, tiền sự: Không; Nhân thân: Năm 2014 bị Tòa án nhân dân Thành phố Hòa Bình, tỉnh Hòa Bình xử phạt 06 tháng cải tạo không giam giữ về tội Lừa đảo chiếm đoạt tài sản. Bị cáo tại ngoại.
Người bị hại kháng cáo: Anh Nguyễn Văn T, sinh 1977. Nơi cư trú: Tổ 21 phường Tân Thịnh, thành phố Hòa Bình, tỉnh Hòa Bình.
Người giám định: Ông Đặng Hoài B – Giám đốc Trung tâm pháp y tỉnh Hòa Bình.
NỘI DUNG VỤ ÁN
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa thì nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Gia đình anh Nguyễn Văn T và gia đình bị cáo Nguyễn Quang H có xảy ra tranh chấp đất tại tổ 17, phường Tân Hòa, thành phố Hòa Bình, tỉnh Hòa Bình. Khoảng 15h ngày 01/12/2017, tổ công tác của Ủy ban nhân dân phường Tân Hòa phối hợp với Công an phường, đội trật tự đô thị, tổ trưởng dân phố tổ 17 đã tiến hành yêu cầu hộ gia đình anh Nguyễn Văn T tháo dỡ phần hàng rào tôn và đống đất do anh T đổ trước đó chắn đường đi vào nhà hộ gia đình ông Nguyễn Quang Trung là bố của H. Trong khi tổ công tác đang làm nhiệm vụ yêu cầu gia đình anh T tự tháo dỡ. Anh T không đồng ý với lý do khu vực đó là đất của gia đình anh T được sử dụng hợp pháp. Nguyễn Quang H đứng ngoài quan sát thấy anh T không chấp hành việc tháo dỡ đã chạy về nhà lấy 01 con dao bầu chuôi gỗ loại nhỏ, dài khoảng 20 cm giấu trong túi quần rồi quay ra đứng xem cùng bà Nguyễn Thị Quê là bà nội của H, ông Nguyễn Quang Trung, bà Trần Thị Hồng Cảnh là bố, mẹ H; anh Nguyễn Trung Thành là anh trai của H. Đến khoảng 16h30 cùng ngày, trong lúc anh T đang đứng trình bày lý do không cho tổ công tác tháo dỡ thì H chạy đến dùng dao đâm liên tiếp 02 nhát trúng vào sườn bên trái anh T. Sau đó H cầm dao bỏ chạy về nhà. Trên đường chạy về H đã ném con dao về bãi đất phía bên trái nhà.
Anh T được đưa đến bệnh viện đa khoa tỉnh Hòa Bình cấp cứu, phải nằm viện điều trị thương tích từ ngày 01/12/2017 đến ngày 07/12/2017. Tổng chi phí theo anh T kê khai là 20.381.850đ.
Tại bản kết luận giám định pháp y về thương tích của Trung tâm pháp y tỉnh Hòa Bình số 238/PY – GĐTT ngày 15/12/2017 kết luận: “ Vết thương thành ngực bên trái do vật sắc nhọn tác động gây tổn thương phần mềm, đã được khâu phục hồi, hiện tại đang liền sẹo. Tỷ lệ tổn thương cơ thể do thương tích gây nên hiện tại là 04%”.
Tại bản án hình sự sơ thẩm số 25/2018/HSST ngày 04/6/2018 của Tòa án nhân dân thành phố Hòa Bình quyết định: Tuyên bố: Nguyễn Quang H phạm tội “ Cố ý gây thương tích”. Áp dụng: điểm a khoản 1 Điều 104, điểm p khoản 1 điều 46, điều 33 BLHS năm 1999 xử phạt: Nguyễn Quang H 06 tháng tù, thời hạn tù tính từ ngày bị cáo đi thi hành án.
Áp dụng: Điều 584; 590 Bộ luật dân sự; Điều 42 BLHS buộc bị cáo phải bồi thường cho anh Nguyễn Văn T 12.881.850đ.
Ngoài ra bản án sơ thẩm còn quyết định về xử lý vật chứng, án phí và quyền kháng cáo của bị cáo.
Ngày 14/6/2018 bị cáo kháng cáo xin giảm nhẹ hình phạt, đề nghị xem xét lại phần trách nhiệm dân sự và xem xét lại việc giám định.
Ngày 13/6/2018 anh T kháng cáo đề nghị tăng hình phạt đối với bị cáo vì bị cáo đã coi thường pháp luật, coi thường tính mạng sức khỏe của người khác. Cụ thể là dùng hung khí nguy hiểm là con dao nhọn đâm khi các lực lượng chức năng đang làm việc. Anh T phải đi nằm viện điều trị, bị cáo không thăm hỏi, không bồi thường, không ăn năn hối cải. Bị cáo đã có tiền án về tội lừa đảo chiếm đoạt tài sản.
Tại phiên tòa phúc thẩm, bị cáo, người bị hại giữ nguyên nội dung kháng cáo.
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Hòa Bình phát biểu quan điểm:
Quá trình giải quyết vụ án ở cấp phúc thẩm, Hội đồng xét xử và những người tham gia tố tụng đã tuân thủ đúng các quy định của Bộ luật tố tụng hình sự. Về nội dung: Bản án sơ thẩm đã xét xử bị cáo về tội danh, mức hình phạt là đúng pháp luật. Không có căn cứ chấp nhận kháng cáo giảm hình phạt của bị cáo.Tuy nhiên về trách nhiệm dân sự cấp sơ thẩm đã tuyên buộc bị cáo phải bồi thường cho người bị hại khoản tiền chi phí giám định và bồi dưỡng giám định là không đúng. Ngoài ra bản án sơ thẩm áp dụng điều luật không chính xác, không tuyên quyền kháng cáo của người bị hại là không đúng. Người bị hại đã thực hiện quyền kháng cáo, cấp sơ thẩm cần nghiêm túc rút kinh nghiệm. Đề nghị chấp nhận một phần kháng cáo của bị cáo, sửa bản án sơ thẩm về bồi thường dân sự; không chấp nhận kháng cáo của người bị hại.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
Về tố tụng: Hành vi cố ý gây thương tích cho anh T của bị cáo H xảy ra tại tổ 17, phường Tân Hòa, thành phố Hòa Bình, tỉnh Hòa Bình. Tỷ lệ thương tích 04%, thuộc thẩm quyền xét xử của tòa án nhân dân thành phố Hòa Bình, tỉnh Hòa Bình theo quy định tại Điều 268; 269 bộ luật tố tụng hình sự.
Về nội dung: Khoảng 16h30 ngày 01/12/2017 bực tức việc gia đình anh T chắn đường vào nhà, bị cáo Nguyễn Quang H đã dùng dao nhọn đâm 02 nhát vào sườn trái của anh T, gây tổn hại 04% sức khỏe. Hành vi dùng hung khí nguy hiểm của bị cáo đã gây thương tích cho anh T đã phạm vào tội cố ý gây thương tích như bản cáo trạng của Viện kiểm sát đã truy tố và bản án sơ thẩm đã xét xử bị cáo là có căn cứ.
Hành vi phạm tội của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, trực tiếp xâm phạm đến sức khỏe của công dân được pháp luật bảo vệ, hành vi đó còn gây mất trật tự trị an tại địa phương. Bản án sơ thẩm xử phạt bị cáo mức hình phạt 06 tháng tù là đúng pháp luật, tương xứng vời hành vi bị cáo đã thực hiện.
Xét kháng cáo xin giảm nhẹ hình phạt của bị cáo, cho rằng hành vi của bị cáo là bột phát, nguyên nhân do hành vi trước đó anh T đã đánh bố bị cáo gẫy tay, nhiều lần dùng xã hội đen chặn đường đánh anh bị cáo, chặn lối vào nhà bị cáo, nhiều lần phá hủy tài sản của gia đình bị cáo. Như vậy bị cáo phạm tội trong trường hợp bị kích về thần kinh do hành vi trái pháp luật của nạn nhân, là tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự theo quy định tại điểm e khoản 1 Điều 51 BLHS 2015; Hội đồng xét xử phúc thẩm xét thấy: Giữa gia đình bị cáo và gia đình anh T đã nhiều lần xảy ra xô sát do tranh chấp đất đai. Chính quyền địa phương đã nhiều lần giải quyết nhưng chưa có kết quả. Khi tổ công tác của Ủy ban nhân dân phường phối hợp với Công an Phường và Thanh tra đô thị đang trực tiếp giải quyết tại khu vực gia đình anh T đổ đất chắn lối đi. Lẽ ra gia đình bị cáo phải tạo điều kiện để chính quyền địa phương giải quyết, nếu không thỏa đáng thì có quyền khiếu nại theo quy định của pháp luật. Bị cáo đã coi thường sức khỏe của người khác, coi thường pháp luật đã cố ý dùng dao nhọn đâm vào sườn của anh T. Hành vi đó không được coi là bột phát và cũng không thuộc trường hợp kích động thần kinh do hành vi trái pháp luật của nạn nhân gây ra, không thuộc trường được áp dụng tình tiết giảm nhẹ theo quy định tại điểm e khoản 1 Điều 51 BLHS 2015 như kháng cáo của bị cáo đã nêu. Bị cáo thành khẩn khai báo, tỏ ra ăn năn hối cải với hành vi của mình là tình tiết giảm nhẹ theo quy định tại điểm p khoản 1 Điều 46 đã được cấp sơ thẩm áp dụng khi lượng hình. Do đó không có căn cứ giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo.
Về kháng cáo đề nghị xem xét lại số tiền bồi thường cho người bị hại. Xét tổng số tiền người bị hại yêu cầu buộc bị cáo phải bồi thường là 20.381.850đ. Tòa án cấp sơ thẩm đã căn cứ các điều 584, 590 Bộ luật dân sự để chấp nhận các khoản chi theo đúng quy định của pháp luật. Cụ thể các khoản được chấp nhận gồm tiền viện phí 2.121.850đ; Tiền thuốc theo chỉ định của bác sỹ 1.545.000đ; tiền mất thu nhập của người bệnh 15 ngày là 4.000.000đ; tiền mất thu nhập của người chăm sóc là 07 ngày x 200.000đ là 1.400.000đ; tiền bồi dưỡng thương tích 2.000.000đ.
Việc buộc bị cáo phải bồi thường cho người bị hại khoản tiền chi phí giám định 535.000đ và tiền cấp chứng thương, bồi dưỡng giám định 1.280.000đ là không đúng. Theo quy định tại Điều 135, 136 BLHS 2015 và Điều 6, 8 pháp lệnh số 02/2012/UBTVQH13 quy định về chi phí giám định, định gía trong tố tụng thì khoản tiền giám định do cơ quan tiến hành tố tụng chi trả. Có căn cứ chấp nhận một phần kháng cáo của bị cáo, cần sửa bản án sơ thẩm về số tiền bồi thường. Quyền lợi của người bị về tiền giám định sẽ được giải quyết theo quy định của tố tụng dân sự khi có yêu cầu.
Về kháng cáo đề nghị xem xét lại việc giám định thương tích cho người bị hại không đúng thực tế. Tại phiên tòa phúc thẩm ông Nguyễn Hoài Bão là giám định viên, giám đốc trung tâm giám định pháp y, Sở y tế tỉnh Hòa Bình khẳng định trình tự, thủ tục tiến hành giám định thương tích đối với anh T đã tuân thủ đúng luật giám định. Với thương tích mà bị cáo gây ra cho anh T tại thời điểm tiến hành giám định đã gây tổn hại 04% là đúng. Người bị hại cũng khẳng định thương tích chỉ do một mình bị cáo gây ra. Bị cáo kháng cáo nhưng không có căn cứ chứng minh nên không có cơ sở chấp nhận.
Tại phiên tòa phúc thẩm, bị cáo khai và xuất trình chứng cứ ông nội của bị cáo là người có công với cách mạng, được nhà nước tặng thưởng huy chương kháng chiến. Đây là tình tiết giảm nhẹ theo quy định tại khoản 2 Điều 46 BLHS áp dụng thêm cho bị cáo nhưng cũng không làm thay đổi mức hình phạt cấp sơ thẩm đã xử phạt đối với bị cáo.
Về kháng cáo người bị hại đề nghị tăng hình phạt đối với bị cáo: Bị cáo có dùng hung khí là dao nhọn gây thương tích cho bị cáo nhưng tỷ lệ thương tích dưới 11%. Về nhân thân, năm 2014 bị cáo bị xử phạt 06 tháng cải tạo không giam giữ về tội lừa đảo chiếm đoạt tài sản nhưng đã được xóa án tích. Xét nguyên nhân dẫn đến việc bị cáo có hành vi cố ý gây thương tích cho người bị hại xuất phát từ việc gia đình người bị hại chặn lấp H toàn lối đi vào nhà bị cáo. Chính quyền địa phương phải trực tiếp can thiệp, giải quyết. Khi có các cấp chính quyền bị cáo còn chưa thi hành tháo dỡ ngay để trả lại lối đi mà còn trình bày các lý do. Như vậy nguyên nhân vụ việc do mâu thuẫn từ trước chứ không H toàn vô cớ, côn đồ như ý kiến trình bày của người bị hại. Cấp sơ thẩm xử bị cáo 6 tháng tù giam là phù hợp với hành vi bị cáo đã gây ra, không có căn cứ chấp nhận yêu cầu kháng cáo của người bị hại.
Về áp dụng điều luật: Bản án sơ thẩm của Tòa án nhân dân thành phố Hòa Bình áp dụng Điều 104 BLHS 1999 để xét xử bị cáo là chưa đúng. Tuy hành vi của bị cáo thực hiện trước thời điểm bộ luật hình sự 2015 có hiệu lực pháp luật nhưng thời điểm mở phiên tòa sau là ngày 01/01/ 2018, theo quy định tại nghị quyết 41 ngày 20/6/2017 của Quốc hội thì tất cả các điều khoản của BLHS năm 2015 quy định một hình phạt nhẹ hơn cho người phạm tội thì được áp dụng với tất cả hành vi xảy ra trước ngày 01/01/2018 mà sau đó mới xét xử. Cần sử bản án sơ thẩm về áp dụng điều luật. Bản án sơ thẩm không tuyên quyền kháng cáo của người bị hại là vi phạm quy định tại điều 331 BLTTHS, tuy nhiên người bị hại có mặt tại phiên tòa, sau khi xét xử sơ thẩm đã thực hiện quyền kháng cáo trong thời hạn luật định. Cấp sơ thẩm cần nghiêm túc rút kinh nghiệm.
Các quyết định khác của bản án không có kháng cáo, kháng nghị có hiệu lực pháp luật kể từ ngày hết thời hạn kháng cáo, kháng nghị.
Về án phí: Bị cáo và người bị hại không phải chịu án phí hình sự phúc thẩm.
Vì các lẽ trên.
QUYẾT ĐỊNH
Căn cứ điểm a, b khoản 1 Điều 355, Điều 356, Điều 357 Bộ luật tố tụng hình sự 2015
1. Chấp nhận một phần yêu cầu kháng cáo của bị cáo, không chấp nhận kháng cáo của người bị hại. Giữ nguyên bản án sơ thẩm về tội danh và hình phạt, sửa về áp dụng điều luật và trách nhiệm bồi thường.
2. Sửa bản án hình sự sơ thẩm số 25/2018/HSST ngày 04/6/2018 của Tòa án nhân dân thành phố Hòa Bình:
Tuyên bố: Bị cáo Nguyễn Quang H phạm tội Cố ý gây thương tích. Áp dụng: điểm a khoản 1 điều 134, điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51, Điều 38 BLHS năm 2015; Xử phạt: Bị cáo Nguyễn Quang H 06 ( Sáu) tháng tù. Thời hạn tù tính từ ngày bị cáo đi thi hành án.
Về trách nhiệm dân sự: Áp dụng Điều 48 BLHS 2015; Điều 584, Điều 590 BLDS. Buộc bị cáo Nguyễn Quang H phải bồi thường cho anh Nguyễn Văn T số tiền 11.066.850đ ( Mười một triệu không trăm sáu mươi sáu nghìn tám trăm năm mười đồng)
Kể từ ngày bản án có hiệu lực pháp luật hoặc kể từ ngày có đơn yêu cầu thi hành án của người được thi hành án cho đến khi thi hành án xong tất cả các khoản tiền, hàng tháng bên phải thi hành án còn phải chịu khoản tiền lãi của số tiền còn phải thi hành án theo mức lãi suất quy định tại khoản 2 Điều 468 BLDS năm 2015.
Trong trường hợp bản án được thi hành theo quy định tại điều 2 Luật thi hành án dân sự, người thi hành án dân sự có quyền thoả thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại điều 6,7,9 Luật thi hành án dân sự. Thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại điều 30 Luật thi hành án dân sự.
3. Về án phí: Nguyễn Quang H phải chịu 200.000đ tiền án phí hình sự sơ thẩm và 553.300 đ tiền án phí dân sự sơ thẩm. Bị cáo và người bị hại không phải chịu án phí hình sự phúc thẩm.
Các quyết định khác của bản án không có kháng cáo, kháng nghị đã có hiệu lực pháp luật kể từ ngày hết thời hạn kháng cáo, kháng nghị.
Bản án có hiệu lực pháp luật kể từ ngày tuyên án.
| Nơi nhận: - TAND cấp cao tại Hà Nội - VKSND cấp cao tại Hà Nội - VKSND tỉnh Hòa Bình - TAND TP Hòa Bình - THA TP Hòa Bình - Bị cáo, người bị hại - Lưu HS CÁC THẨM PHÁN Nguyễn Quang T Lý Thị Đoàn | TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa Bạch Thị Hồng Hoa THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Bạch Thị Hồng Hoa |