- Tranh chấp gì? án hình sự — "Truy tố bị cáo Bùi Văn Q về tội “Cố ý gây thương tích” - phạm tội cố ý gây thương tích hoặc gây tổn hại cho sức khoẻ của người khác (điều 10…"
- Tòa quyết gì? Tuyên bố: Bị cáo Bùi Văn Q đã phạm tội “Cố ý gây thương tích”
- Căn cứ chính? Điều 51 Bộ luật Hình sự; Điều 104 Bộ luật Hình sự; Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự
| TOÀ ÁN NHÂN DÂN Q.LIÊN CHIỂU-TP ĐÀ NẴNG | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Số: 15/2018/HS-ST Ngày: 08/02/2018 |
NHÂN DANH
NƢỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TOÀ ÁN NHÂN DÂN QUẬN LIÊN CHIỂU - TP ĐÀ NẴNG
Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
- Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà: Ông Phan Văn Trình
- Các Hội thẩm nhân dân: Ông Ngô Văn Sỹ - Bà Huỳnh Thị Lệ
- Thư ký phiên tòa: Ông Phạm Thanh Hùng – Thư ký Tòa án, Toà án nhân dân quận Liên Chiểu, Tp Đà Nẵng.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân quận Liên Chiểu- TP Đà Nẵng tham gia phiên tòa: Ông Huỳnh Mạnh – Kiểm sát viên.
Ngày 08/02/2018 tại trụ sở Tòa án nhân dân quận Liên Chiểu xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số: 141/2017/TLST-HS ngày 30 tháng 11 năm 2017 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 11/2018/QĐXXST-HS ngày 24 tháng 01 năm 2018 đối với bị cáo:
Bùi Văn Q (Tên gọi khác: Híp) - Sinh ngày 05.6.1992 tại Quảng B; Nơi ĐKNKTT: Tiểu khu Diêm Bắc , phường Đ, thành phố Đ, tỉnh Q; Chỗ ở: Phường H, quận L, TP Đ; Nghề nghiệp: Thợ xây dựng; Trình độ văn hóa: 12/12; Dân tộc: Kinh, Giới tính: Nam; Tôn giáo: Không; Quốc tịch: Việt Nam; Con ông Bùi Văn S (SN 1966) và bà Phan Thị L (SN 1972); Có vợ và 01 con; Tiền án, tiền sự: Chưa; Bị cáo ra đầu thú, tạm giữ, bị tạm giam từ ngày 25/9/2017.
- Bị hại: Ông Nguyễn Trang Đ – sinh năm 1992; Trú tại: Phường H, quận L, TP Đ, vắng mặt
- Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đến vụ án: Ông Nguyễn Tiến T - sinh năm 1992; Trú tại: Phường H, quận L, thành phố Đ, vắng mặt
- Người làm chứng:
+ Bà Nguyễn Thị Kim L – sinh năm 1991; Trú tại: Phường H, quận L, TP Đ, vắng mặt
+ Ông Phùng Đình D – sinh năm 1979; Trú tại: Tổ 45, phường H, quận L, TP Đ, vắng mặt
+ Bà Nguyễn Thị B – sinh năm 1992; Trú tại: Phường H, quận L, TP Đ, vắng mặt
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Khoảng 22h00 ngày 25/9/2017, Bùi Văn Q cùng với anh Nguyễn Trang Đ là bạn cùng quê với Q, chị Nguyễn Thị B (là vợ của anh Đ) và anh Nguyễn Tiến T cùng ngồi nhậu với nhau tại phòng trọ của anh Đ và Q. Trong lúc nhậu, giữa bị cáo Q và anh Đ xảy ra mâu thuẫn, cãi vã, xô xát, anh Đ dùng tay tát vào mặt bị cáo Q 01 cái rồi lao vào vật nhau xuống dưới nền nhà và anh Đ tiếp tục dùng tay, chân đánh nhiều cái vào người bị cáo Q. Thấy vậy, anh T và chị B vào can ngăn. Khi Đ vừa đứng dậy, thì bị cáo Q nhìn thấy trước mặt mình có 01 cái kéo dài khoảng 20cm, lưỡi bằng kim loại, cán bằng nhựa màu xanh nên lao đến dùng tay trái nhặt cái kéo rồi đứng dậy đâm anh Đ 02 cái trúng vào thành ngực phải và hạ sườn bên trái của anh Đ. Anh T thấy anh Đ bị đâm nên vào can ngăn và bị Q quơ cây kéo trúng vào tay phải gây xây xát nhẹ. Thấy anh Đ bị thương, Q vứt bỏ cây kéo tại phòng rồi bỏ ra khỏi phòng và nhặt 01 viên gạch ném vào trong nhưng không trúng ai. Anh Đ được mọi người đưa đi bệnh viện cấp cứu. Đến 23h00’ ngày 25/9/2017, Bùi Văn Q đến Công an quận Liên Chiểu đầu thú và khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội của mình.
Theo Kết luận giám định pháp y về thương tích số: 360/TgT ngày 30/10/2017 của Trung tâm Pháp y - Sở Y tế TP. Đà Nẵng kết luận anh Nguyễn Trang Đ bị: Dấu vết chính qua giám định: Vết thương thấu ngực phải: Thấu ngực, tràn khí dưới da, tổn thương nhu mô phổi, tràn khí và màu màng phổi, khâu vết thương; hiện tại vết thương bên ngoài đã lành sẹo, lồng ngực hai bên cân xứng và di động đều theo nhịp thở; nạn nhân không ho, không khó thở, rì rào phế nang nghe rõ ở hai phế trường, không thấy di chứng xẹp phổi và dày dính màng trên phim kiểm tra và các tổn thương phần mềm: vùng hạ sườn trái có vết rách da hiện đã lành sẹo phẳng, nhạt màu, mềm, di động, kích thước 02cm x 0,2cm; tỉ lệ thương tích là 12%.
Tại Bản cáo trạng số 136/KSĐT ngày 29/11/2017 của VKSND quận Liên Chiểu đã truy tố bị cáo Bùi Văn Q về tội “Cố ý gây thương tích” theo khoản 2 (thuộc trường hợp quy định tại điểm a, i khoản 1) Điều 104 của Bộ luật Hình sự.
Tại phiên tòa, Đại diện Viện kiểm sát tham gia phiên tòa giữ nguyên quan điểm truy tố đối với bị cáo Bùi Văn Q về tội “Cố ý gây thương tích” như bản cáo trạng số 136/KSĐT ngày 29/11/2017 của VKSND quận Liên Chiểu. Đồng thời đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng Nghị quyết 41/2017/QH14 ngày 20.6.2017 của Quốc hội về thi hành Bộ luật hình sự năm 2015; khoản 2 Điều 104 Bộ luật hình sự 1999, điểm b, e, s khoản 1, khoản 2 Điều 51, 54 Bộ luật hình sự năm 2015 xử phạt bị cáo Bùi Văn Q từ 09 đến 12 tháng tù giam.
Quá trình điều tra và tại phiên tòa bị cáo Bùi Văn Q đã thành khẩn, khai nhận hành vi phạm tội của mình như đã nêu trên. Bị cáo cho rằng cáo trạng truy tố bị cáo về tội “Cố ý gây thương tích” theo khoản 2 Điều 104 BLHS là đúng người, đúng tội. Bị cáo đã thấy được lỗi lầm, ăn năn hối cải, bồi thường khắc phục hậu quả cho người bị hại, hoàn cảnh gia đình khó khăn, xin xem xét giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra, Điều tra viên, Viện kiểm sát, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Quá trình điều tra, truy tố và tại phiên tòa bị cáo và những người tham gia tố tụng khác không có ý kiến khiếu nại gì. Do đó các hành vi, quyết định tố tụng của các cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện là hợp pháp.
Xét lời khai nhận tội của bị cáo trong quá trình điều tra, truy tố và tại phiên tòa phù hợp với lời khai của người bị hại, bị đơn dân sự cùng các tài liệu, chứng cứ khác có tại hồ sơ vụ án. Do đó Hội đồng xét xử có đủ cơ sở khẳng định:
Khoảng 22h00’ ngày 25/9/2017, do mâu thuẫn trong lúc ngồi nhậu với nhau nên Bùi Văn Q đã có hành vi dùng 01 cái kéo dài khoảng 20cm, lưỡi bằng kim loại, cán bằng nhựa màu xanh đâm anh Đ 02 cái trúng vào thành ngực phải và hạ sườn bên trái của anh Đ, hậu quả tỉ lệ thương tích là 12%.
Hành vi của các bị cáo Bùi Văn Q đã phạm vào tội “Cố ý gây thương tích” với tình tiết định khung là “dùng hung khí nguy hiểm” theo quy định tại điểm a khoản 1 Điều 104 của Bộ luật hình sự như bản cáo trạng của Viện kiểm sát nhân dân quận Liên Chiểu, Tp Đà Nẵng đã truy tố bị cáo là có căn cứ.
Xét tính chất vụ án, mức độ hành vi phạm tội của bị cáo thì thấy: Nguyên nhân dẫn đến hành vi phạm tội của bị cáo xuất phát từ mâu thuẫn giữa bị cáo và anh Đ trong lúc cùng ngồi nhậu với nhau, anh Đ đã có hành vi đánh, đạp bị cáo trước và bị cáo đã không kìm chế được bản thân dẫn đến dùng kéo đâm và gây thương tích cho anh Đ với tỷ lệ thương tích 12 %. Hành vi của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội đã xâm phạm đến sức khỏe của người khác được pháp luật bảo vệ, mà còn gây ảnh hưởng xấu đến tình hình trật tự, trị an cho xã hội. Do đó, cần áp dụng một hình phạt tương xứng với tính chất hành vi phạm tội mà bị cáo đã gây ra, HĐXX xét thấy cần tiếp tục cách ly bị cáo ra khỏi xã hội một thời gian để răn đe, giáo dục bị cáo và phòng ngừa chung như đề nghị của đại diện VKS là phù hợp.
Tuy nhiên, trong vụ án này một phần lỗi là do hành vi trái pháp luật của người bị hại có hành vi đánh đập bi cáo trước dẫn đến bị cáo thực hiện hành vi phạm tội; bị cáo đã bồi thường thiệt hại cho người bị hại và được người bị hại có đơn xin bãi nại và giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo; Đồng thời, sau khi phạm tội bị cáo đã ra đầu thú, giúp cho cơ quan điều tra nhanh chóngkết thúc vụ án; trong quá trình điều tra cũng như tại phiên tòa hôm nay, bị cáo đã thành khẩn khai báo, thể hiện sự ăn năn hối cải; bị cáo có hoàn cảnh gia đình khó khăn, bị cáo có ông Nội, ông Ngoại là người có công với cách mạng được tặng thưởng nhiều Huân huy chương. Đây là những tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại điểm b,e, s khoản 1, khoản 2 Điều 51 Bộ luật hình sự năm 2015, HĐXX sẽ áp dụng cho bị cáo khi quyết định hình phạt; Do bị cáo có nhân thân tốt, có nhiều tình tiết giảm nhẹ quy định tại khoản 1 Điều 51 Bộ luật hình sự nên HĐXX áp dụng Điều 54 BLHS 2015 để xử dưới mức thấp nhất của khung hình phạt đối với bị cáo. Đồng thời, do khoản 2 Điều 134 BLHS năm 2015 quy định về tội cố ý gây thương tích có khung hình phạt thấp hơn (từ 02 đến 06 năm tù) so với khoản 2 Điều 104 BLHS 1999. Nên HĐXX áp dụng điểm b khoản 1 Điều 2 của Nghị quyết 41/2017/QH14 ngày 20.6.2017 của Quốc hội về thi hành Bộ luật hình sự năm 2015 để cho bị cáo hưởng mức án nhẹ hơn so với điều 104 BLHS năm 1999.
+ Đối với hành vi dùng tay, chân đánh nhiều cái vào người Bùi Văn Q của anh Nguyễn Trang Đ, nhưng không gây thương tích và bị cáo Q không có yêu cầu gì nên Công an quận Liên Chiểu ra quyết định xử phạt hành chính đối với Đ là có cơ sở, nên HĐXX không xem xét.
+ Trong quá trình xảy ra sự việc, Bùi Văn Q quơ cây kéo làm anh Nguyễn Tiến T bị xây xát nhẹ, anh T không yêu cầu giám định và bồi thường nên Cơ quan CSĐT Công quận Liên Chiểu không đề cập, xử lý là có cơ sở.
Về trách nhiệm dân sự: Bị cáo đã bồi thường cho người bị hại tổng cộng số tiền là 30.000.000đ; người bị hại không yêu cầu bồi thường gì thêm nên HĐXX không xem xét.
Về xử lý vật chứng: 01 cái kéo dài khoảng 20cm, lưỡi bằng kim loại, cán bằng nhựa màu xanh là hung khí bị cáo thực hiện hành vi phạm tội cần tịch thu tiêu hủy; 01 viên gạch 06 lỗ đã vỡ thành 02 mảnh. Hiện đang tạm giữ tại Chi cục thi hành án dân sự quận Liên Chiểu, theo biên bản giao nhận vật chứng lập ngày
Về án phí: Bị cáo phải chịu 200.000 đồng.
Vì các lẽ trên;
QUYẾT ĐỊNH:
1. Tuyên bố: Bị cáo Bùi Văn Q đã phạm tội “Cố ý gây thương tích”
- Căn cứ vào: Nghị quyết 41/2017/QH14 ngày 20.6.2017 của Quốc hội về thi hành Bộ luật hình sự năm 2015; Khoản 2 Điều 104 BLHS 1999; điểm b,e, s khoản 1, khoản 2 Điều 51, Điều 54 Bộ luật hình sự năm 2015.
- Xử phạt: Bị cáo Bùi Văn Q 12 (mười hai) tháng tù, thời hạn tù được tính kể từ ngày 25/9/2017.
2. Xử lý vật chứng: Áp dụng: Điều 47 BLHS, Điều 106 BLTTHS.
Tịch thu tiêu hủy 01 cái kéo dài khoảng 20cm, lưỡi bằng kim loại, cán bằng nhựa màu xanh; 01 viên gạch 06 lỗ đã vỡ thành 02 mảnh.
Vật chứng đang tạm giữ tại Chi cục thi hành án dân sự quận Liên Chiểu, theo biên bản giao nhận vật chứng lập ngày 24/12/2017.
3. Án phí HSST: Bị cáo phải chịu 200.000 đồng.
4. Bị cáo có quyền kháng cáo bản án sơ thẩm trong hạn 15 ngày, kể từ ngày tuyên án sơ thẩm. Riêng người bị hại, người tham gia rố tụng khác vắng mặt tại phiên tòa có quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày, kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM
| Nơi nhận: - VKSND quận Liên Chiểu; - Công an quận Liên Chiểu - Chi cục THADS quận Liên Chiểu; - Trại giam công an thành phố Đà Nẵng; - Người tham gia tố tụng; - Sở tư pháp. | Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa Phan Văn Trình |