vanban.org

Bản án 15/2018/HS-ST — Hình sự

TAND huyện Năm Căn, tỉnh Cà Mau Tuyên án 09/08/2018 Hình sự Sơ thẩm
Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

* Căn cứ vào: Khoản 1 Điều 173; Điều 15; điểm n, s khoản 1 và khoản 2 Điều 51; khoản 1 Điều 54 của Bộ luật hình sự.

Tuyên bố: Bị cáo Phạm Thị H phạm tội “Trộm cắp tài sản” Xử phạt: Bị cáo Phạm Thị H 03 (ba) tháng tù, thời hạn tù tính từ ngày bị cáo vào trại chấp hành án. Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? án hình sự — "Bị cáo Phạm Thị H - phạm tội trộm cắp tài sản (điều 173 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS năm 2015)"
  • Tòa quyết gì? * Căn cứ vào: Khoản 1 Điều 173; Điều 15; điểm n, s khoản 1 và khoản 2 Điều 51; khoản 1 Điều 54 của Bộ luật hình sự.
  • Căn cứ chính? Điều 51 Bộ luật Hình sự; Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 15 Bộ luật Hình sự
TÒA ÁN NHÂN DÂN
HUYỆN NĂM CĂN
TỈNH CÀ MAU

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 15/2018/HS-ST
Ngày 09-8-2018

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN NĂM CĂN, TỈNH CÀ MAU

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa:

Ông Trần Hoàng Tuấn

Các Hội thẩm nhân dân:

Ông Võ Minh Út

Ông Nguyễn Văn Tiến

- Thư ký phiên tòa: Bà Đinh Thị Thùy Linh – Thư ký Tòa án nhân dân huyện Năm Căn

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Năm Căn tham gia phiên tòa: Ông Nguyễn Ngọc Ẩn - Kiểm sát viên

Ngày 09 tháng 8 năm 2018 tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Năm Căn, tỉnh Cà Mau xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số: 15/2018/TLST-HS ngày 19 tháng 7 năm 2018, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 18/2018/QĐXXST-HS ngày 27 tháng 7 năm 2018 đối với bị cáo:

- Họ tên:

, sinh năm: 1982; Địa chỉ nơi cư trú:

; Quốc tịch: Việt Nam; Dân tộc: Kinh; Tôn Giáo: không;

; Cha: Văn C1

C2

); Anh, chị em ruột: 06 người, lớn nhất sinh năm 1975, nhỏ nhất sinh năm

2012;

: Không

(

); C

(có mặt).

- Người bào chữa cho bị cáo H: Ông Phạm Văn T, Trợ giúp viên pháp lý của Trung tâm trợ giúp pháp lý nhà nước tỉnh Cà Mau (có mặt).

- Người bị hại: Anh Nguyễn Văn Cứ, sinh năm 1961; địa chỉ: Ấp Rạch Vẹt, xã Hiệp Tùng, huyện Năm Căn, tỉnh Cà Mau (vắng mặt).

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

13/5/2018,

– sinh ngày 21/01/200

– sinh năm

H

5.5HP (

H

, H

M

. H

01 c

. H

M, H

H

. H kêu M

H

.

kênh 3 Đ N, H

. H kêu M

C. H

M

C

, đi Công an x

.

Tang vật thu giữ gồm:

-

;

-

;

-

6,3m;

-

;

-

:

-

i 4,0CV và Mitsubishi 4,0CV t

là

.

Tại bản cáo trạng số: 16/CT-VKSNC ngày 17 tháng 7 năm 2018 Viện kiểm sát nhân dân huyện Năm Căn, tỉnh Cà Mau truy tố đối với bị cáo Phạm Thị Hvề tội “Trộm cắp tài sản” theo quy định tại khoản 1 Điều 173 của Bộ luật Hình sự.

* Tại phiên tòa:

- Đại diện Viện kiểm sát giữ nguyên quyết định truy tố, đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng khoản 1 Điều 173; Điều 15; điểm n, s khoản 1 và khoản 2 Điều 51; Điều 54 của Bộ luật hình sự, xử phạt bị cáo H từ 03 đến 06 tháng tù. Giao

- Người bào chữa ông Phạm Văn T thống nhất với bản cáo trạng, đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng điểm h, i, m, n, s khoản 1 Điều 51 của Bộ luật hình sự cho bị cáo H được hưởng hình phạt cải tạo không giam giữ.

- Bị cáo H thống nhất với bản cáo trạng, bảo luận tội và mức án mà Kiểm sát viên đề nghị, xin Hội đồng xét xử xem xét giảm nhẹ hình phạt.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan cảnh sát điều tra Công an huyện Năm Căn, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân huyện Năm Căn, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục theo đúng quy định của Bộ luật tố tụng hình sự. Tại phiên tòa, Thư ký ghi biên bản phiên tòa đã tuân thủ đúng nhiệm vụ, quyền hạn theo quy định của Bộ luật tố tụng hình sự.

Đối với hành vi lấy trộm chiếc vỏ Composite hiệu QTC tại ấp M – xã Đ – huyện C, hiện nay chưa xác định được bị hại; Cơ quan điều tra Công an huyện Năm Căn tiến hành tách vụ án và tiếp tục phối hợp với Công an huyện Cái nước điều tra xác minh đối với chủ sở hữu tài sản để xử lý theo thẩm quyền là đúng theo quy định của pháp luật.

Đối với vụ án thuộc loại tội phạm ít nghiêm trọng, tính đến ngày xảy ra vụ án thì Lý Thị Tuyết M được 14 tuổi 03 tháng 22 ngày tuổi, nên hành vi của M cùng H lấy trộm tài sản không phải chịu trách nhiệm hình sự. Cơ quan điều tra Công an huyện Năm Căn áp dụng biện pháp xử lý hành hành chính đối M là có căn cứ và đúng theo quy định của pháp luật.

Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp và đúng theo quy định của pháp luật.

Lời khai nhận tội của bị cáo H tại phiên tòa, phù hợp với các tài liệu chứng cứ thể hiện trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phiên tòa, có đủ cơ sở kết luận: Vào khoảng 16 giờ ngày 13/5/2018, bị cáo H lén lúc lấy trộm 01 đầu máy nổ hiệu Mitsubishi 4,0CV và 01 giàn cầu bằng Inox của ông Nguyễn Văn C tại ấp Rạch Vẹt – xã Hiệp Tùng – huyện Năm Căn, với tổng giá trị tài sản mà bị cáo H đã lấy trộm là 4.140.000 đồng; Hành vi của bị cáo H đã cấu thành tội “trộm cắp tài sản” theo quy định tại khoản 1 Điều 173 của Bộ luật hình sự. Do đó, Cáo trạng số 16/CT-VKSNC ngày 17 tháng 7 năm 2018 của Viện kiểm sát nhân dân huyện Năm Căn truy tố bị cáo H là có căn cứ.

Hành vi của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, bị cáo thực hiện hành vi với lỗi cố ý, lợi dụng sự thiếu cảnh giác của người dân, lén lút lấy trộm tài sản của người khác được pháp luật bảo vệ; đồng thời, hành vi của bị cáo H gây mất an ninh trật tự, an toàn xã hội tại địa phương, gây hoang mang trong quần chung nhân dân; bị cáo H có nhân thân xấu, có 01 tiền sự cũng về hành vi trộm cắp tài sản bị Công an huyện Cái Nước xử phạt hành chính 1.000.000 đồng vào ngày 16/3/2018, chưa nộp phạt, qua đó cho thấy bị cáo H bất chấp pháp luật. Do đó, cần phải có hình phạt cách ly bị cáo ra khỏi xã hội một thời gian, để cải tạo, giáo dục bị cáo thành người công dân có ích cho xã hội, đồng thời góp phần tuyên truyền pháp luật, đấu tranh phòng chống tội phạm trong tình hình hiện nay.

Xét về ý kiến của người bào chữa và ý kiến của Kiểm sát viên:

- Xét ý kiến của người bào chữa đề nghị Hội đồng xét xử cho bị cáo được hưởng hình phạt cải tạo không giam giữ là có cơ sở, tuy nhiên bị cáo H có nhân thân xấu, có tiền sự về tội trộm cắp tài sản, nếu cho H ở ngoài xã hội sẽ là mối nguy hiểm cho xã hội, nên cần phải cách ly bị cáo để cải tạo, giáo dục bị cáo và phòng ngừa chung trong xã hội.

- Xét ý kiến của Kiểm sát viên là có cơ sở, phù hợp với tình tiết của vụ án nên được chấp nhận.

Khi lượng hình, Hội đồng xét xử xét thấy trong quá trình điều tra, cũng như tại phiên tòa bị cáo H thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải; hiện tại bị cáo H đang mang thai; bị cáo không biết chữ nên trình độ nhận thức pháp luật còn hạn chế; bị cáo phạm tội chưa đạt; Do đó, bị cáo H được hưởng các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự được quy định tại điểm n, s khoản 1 và khoản 2 Điều 51 và Điều 15 của Bộ luật hình sự; do bị cáo được hưởng 02 tình tiết ở khoản 1 Điều 51, nên áp dụng khoản 1 Điều 54 của Bộ luật hình sự để xử phạt bị cáo dưới khung hình.

Về xử lý vật chứng và trách nhiệm dân sự: Do vật chứng đã trả lại cho bị hại và bị hại không đặt ra yêu cầu về trách nhiệm dân sự, nên Hội đồng xét xử không đặt ra xem xét.

Giao tra Công an huyện Năm Căn tiếp tục quản lý nhằm có cơ sở xử lý khi xác định được chủ sở hữu.

Về án phí hình sự sơ thẩm: Áp dụng khoản 2 Điều 136 của Bộ luật tố tụng hình sự, điểm a khoản 1 Điều 23 của Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH1 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí, lệ phí Tòa án; Buộc bị cáo Phạm Thị Hphải chịu là 200.000 đồng.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

* Căn cứ vào: Khoản 1 Điều 173; Điều 15; điểm n, s khoản 1 và khoản 2 Điều 51; khoản 1 Điều 54 của Bộ luật hình sự. Khoản 4 Điều 123, khoản 2 Điều 136 của Bộ luật tố tụng hình sự. Điểm a khoản 1 Điều 23 của Nghị quyết số: 326/2016/UBTVQH14 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí, lệ phí Tòa án.

1. Tuyên bố: Bị cáo Phạm Thị H phạm tội “Trộm cắp tài sản”

2. Xử phạt: Bị cáo Phạm Thị H 03 (ba) tháng tù, thời hạn tù tính từ ngày bị cáo vào trại chấp hành án.

Tiếp tục cấm đi khỏi nơi cư trú đối với bị cáo H kể từ ngày tuyên án cho đến khi đi chấp hành án.

3. Về xử lý vật chứng và trách nhiệm dân sự: Tang vật đã trả lại cho bị hại và bị hại không yêu cầu bồi thường thiệt hại, nên không đặc ra xem xét. Giao huyện Năm Căn tiếp tục quản lý nhằm có cơ sở xử lý khi xác định được chủ sở hữu.

4. Về án phí hình sự sơ thẩm: Buộc bị cáo Phạm Thị H phải chịu là 200.000 đồng.

Án xử sơ thẩm, bị cáo và những người tham gia tố tụng có quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án, vắng mặt tính từ ngày nhận bản án hoặc được tống đạt hợp lệ.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

Cỡ chữ