vanban.org

Bản án 15/2018/HS-ST — Hình sự

TAND huyện Gò Dầu, tỉnh Tây Ninh Tuyên án 13/03/2018 Hình sự Sơ thẩm
Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Tuyên bố: Bị cáo Đoàn Thị Tuyết N (D) phạm tội: “Cố ý g y thương tích”.

Xử phạt bị cáo Đoàn Thị Tuyết N (D) 02 (hai) năm tù. Thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày bị bắt đi thi hành án. Biện pháp tư pháp: Căn cứ Điều 47 Bộ luật hình sự; Điều 590 Bộ luật d n sự. Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? án hình sự — "Bị cáo Đoàn Thị Tuyết N bị truy tố tội "Cố ý gây thương tích" - phạm tội cố ý gây thương tích hoặc gây tổn hại cho sức khỏe của người khác (…"
  • Tòa quyết gì? Tuyên bố: Bị cáo Đoàn Thị Tuyết N (D) phạm tội: “Cố ý g y thương tích”.
  • Căn cứ chính? Điều 51 Bộ luật Hình sự; Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 134 Bộ luật Hình sự
TÒA ÁN NHÂN DÂN
HUYỆN GÒ DẦU
TỈNH TÂY NINH

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 15/2018/HS-ST
Ngày 13-03-2018

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN GÒ DẦU, TỈNH TÂY NINH

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên toà: Ông Nguyễn Thanh Quãng

Các Hội thẩm nhân dân:

1. Ông Nguyễn Văn Trọn

2. Ông Nguyễn Tuyễn

- Thư ký phiên tòa: Ông Lê Đình Văn – Thư ký T a án nh n d n huyện G Dầu, tỉnh T y Ninh.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Gò Dầu tham gia phiên tòa: Ông Trần Anh Minh – Kiểm sát viên.

Ngày 13 tháng 03 năm 2018 tại trụ sở T a án nh n d n huyện G Dầu, xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số: 26/2018/TLST-HS ngày 26/02/2018 đối với bị cáo:

- Đoàn Thị Tuyết N (D); sinh năm 1986, tỉnh T y Ninh; Nơi cư trú: ấp T, xã L, huyện B, tỉnh T y Ninh; Nghề nghiệp: Bán vé số; trình độ văn hóa: 4/12; dân tộc: kinh; giới tính: nữ; tôn giáo: không; Q tịch: Việt Nam; con ông Đoàn Văn Q (chết) và bà Nguyễn Thị B; tiền án; tiền sự: không; Bị cáo tại ngoại có mặt.

- Bị hại: Anh Huỳnh Minh H, sinh năm 1983.

Địa chỉ: ấp Tr m Vàng 1, xã Thanh Phước, huyện G Dầu, tỉnh T y Ninh. Có mặt.

- Người làm chứng:

1/ Ông Nguyễn Văn H1, sinh năm 1962.

2/ Anh Đinh Văn H1, sinh năm 1971 (vắng mặt).

3/ Anh Huỳnh Kiến Q, sinh năm 1979.

Cùng địa chỉ: ấp T, xã TP, huyện G, tỉnh T y Ninh.

4/ Ông Lê Văn C, sinh năm 1962 (vắng mặt).

Địa chỉ: ấp X, xã TP, huyện G, tỉnh T y Ninh.

NỘI D VỤ ÁN

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên t a, nội D vụ án được tóm tắt như sau:

Khoảng 16 giờ ngày 07/11/2017, ông Nguyễn Văn H1 tổ chức uống rượu cùng với Đoàn Thị Tuyết N, anh Huỳnh Kiến Q là bạn trai của N, anh Huỳnh Minh H, ông Đinh Văn H1 và ông Lê Văn C tại chòi lá của ông Nguyễn Văn H1 ở ấp Tr m Vàng 1, xã Thanh Phước, huyện Gò Dầu. Sau khi uống hết khoảng 17.000 đồng rượu, ông Đinh Văn H1 đi mua rượu tiếp. Lúc này, anh Q, ông C và ông Nguyễn Văn H1 đánh bạc ăn thua bằng tiền mỗi ván 10.000 đồng, còn N và anh H ngồi xem. Trong lúc đánh bạc, anh H cho rằng anh Q gian lận nên anh H và anh Q xảy ra xô xát và ôm vật nhau tại cửa sau chòi của ông H1.

Thấy vậy, N cầm cây dao dài 33cm đi đến chém 03 cái trúng vào vùng cổ bên phải, cánh tay trái, mũi bên phải và môi trên bên phải của anh H. Thấy anh H chảy nhiều máu, ông C đến can ngăn và dùng tay phải che mặt của anh H thì bị N cầm cây dao chém 01 cái trúng vào ngón 2, 3 bàn tay phải của ông C. Thấy ông C bị thương, N ném cây dao, rồi đi vào trong ch i. Thấy anh H và anh Q vẫn còn vật nhau, N tiếp tục lấy cái vá đánh 02 cái trúng vào trán của anh H thì anh H và anh Q buông nhau ra. Sau đó, anh H đến báo Công an xã Thanh Phước và đến Trung tâm Y tế huyện Gò Dầu khâu vết thương.

Theo Bản kết luận giám định pháp y về thương tích số 235 ngày 20/12/2017 của Trung tâm Pháp y thuộc Sở Y tế tỉnh Tây Ninh kết luận: Tỷ lệ tổn thương cơ thể của Huỳnh Minh H do thương tích gây nên hiện tại là 12%.

- Vật chứng thu giữ gồm: 01 cây dao dài 33cm, cán bằng c y, lưỡi bằng kim dài 20cm, rộng 5,5cm, loại 1 cạnh sắc, lưỡi dao bị cong; 01 cái vá bằng kim loại dài 37cm, rộng 10cm, lưỡi vá bị cong.

Về bồi thường thiệt hại: Ông C không yêu cầu xử lý N và không yêu cầu bồi thường. Anh H yêu cầu bồi thường 2.000.000 đồng tiền điều trị thương tích và có đơn xin giảm nhẹ hình phạt cho N.

Đối với hành vi đánh nhau của anh Q và anh H, Cơ quan điều tra chuyển xử lý hành chính. Đối với hành vi đánh bạc của ông H1, ông C và anh Q, Cơ quan điều tra chuyển xử lý hành chính.

Tại bản cáo trạng số: 26/CT-VKSGD ngày 22/02/2018 của Viện kiểm sát nhân d n huyện G Dầu, tỉnh T y Ninh đã truy tố các bị cáo Đoàn Thị Tuyết N (D) về tội “Cố ý g y thương tích” theo quy định tại điểm đ khoản 2 Điều 134 Bộ luật hình sự năm 2015, sửa đổi bổ sung năm 2017.

Đại diện Viện kiểm sát giữ quyền công tố tại phiên t a vẫn giữ nguyên quan điểm truy tố hành vi của bị cáo N về tội “Cố ý g y thương tích”, đồng thời đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng điểm đ khoản 2 Điều 134; điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51 Bộ luật hình sự năm 2015, sửa đổi bổ sung năm 2017: Xử phạt bị cáo Đoàn Thị Tuyết N từ 02 (hai) năm đến 03 (ba) năm tù.

Trách nhiệm d n sự: Ghi nhận bị cáo đồng ý bồi thường cho bị hại 2.000.000 đồng, xử lý vật chứng tịch thu và tiêu hủy theo quy định. Bị cáo không có gì bào chữa.

Ý kiến của người bị hại: Anh H có đơn xin giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo N.

Ý kiến của người làm chứng:

- Ông Nguyễn Văn H1 thấy anh Q và anh H ôm vật nhau sau đó N cầm c y dao đến chém anh H, ông có dùng tay phải che mặt anh H lại thì bị N chém trúng vào bàn tay phải của ông.

- Anh Huỳnh Kiến Q không thấy N chém anh H, vì lúc đó anh đã say rượu cho nên N chém anh H anh không biết.

Lời nói sau cùng của bị cáo: Đề nghị Hội đồng xét xử xem xét xử phạt bị cáo mức án thấp hơn mức án do Kiểm sát viên đề nghị.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN

Trên cơ sở nội D vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên t a, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra, Điều tra viên, Viện kiểm sát, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên t a bị cáo, người bị hại và những người liên quan khác không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.

Về hành vi của bị cáo thực hiện: Khoảng 16 giờ ngày 07-01-2017, tại ấp Tr m Vàng 1, xã Thanh Phước, huyện G Dầu, tỉnh T y Ninh, chỉ vì m u thuẩn nhỏ trong chuyện đánh bạc ăn thua bằng tiền mà anh Q và anh H đã xảy ra xô xát với nhau, Đoàn Thị Tuyết N bênh vực bạn trai của mình là anh Q đã dùng c y dao và cái vá là hung khí nguy hiểm chém, đánh anh Huỳnh Minh H gây thương tích 12%. Lời khai của bị cáo tại phiên t a phù hợp với kết luận giám định, lời khai của người bị hại, người làm chứng, biên bản khám nghiệm hiện trường, nhận dạng, cùng các tài liệu chứng cứ khác có trong hồ sơ vụ án đủ căn cứ kết luận hành vi của bị cáo có đủ yếu tố cấu thành tội “Cố ý g y thương tích” tội phạm và hình phạt được quy định tại điểm đ khoản 2 Điều 134 Bộ luật hình sự năm 2015, sửa đổi bổ sung năm 2017.

Vụ án mang tính chất nghiêm trọng, hành vi phạm tội của bị cáo là rất nguy hiểm cho xã hội, đã dùng hung khí nguy hiểm, x m phạm đến sức khỏe của người khác, làm mất trật tự trị an tại địa phương, g y ảnh hưởng xấu trong quần chúng nhân dân. Do đó cần xử phạt tù mới đủ để răn đe, cải tạo, giáo dục bị cáo thành công d n tốt, có ý thức chấp hành pháp luật khi h a nhập cộng đồng, nhằm đạt được mục đích giáo dục riêng và ph ng ngừa chung cho xã hội. Tuy nhiên có xem xét tính chất, mức độ hành vi phạm tội của bị cáo:

Xét đề nghị của đại diện Viện kiểm sát là tương xứng với tính chất, mức độ nh n th n của bị cáo phù hợp với nhận định của Hội đồng xét xử nên chấp nhận.

Về tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ cho bị cáo thì thấy: Sau khi phạm tội bị cáo thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải; không có tiền án tiền sự; bị hại có đơn xin giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo. Từ những ph n tích trên cần xem xét để giảm nhẹ cho bị cáo một phần hình phạt mà lẽ ra bị cáo phải chịu theo quy định tại điểm s khoản 1 và khoản 2 Điều 51 Bộ luật hình sự năm 2015, sửa đổi bổ sung năm 2017.

Về bồi thường thiệt hại: Anh Huỳnh Minh H yêu cầu bị cáo bồi thường chi phí điều trị thương tích 2.000.000 đồng. Tại phiên tòa bị cáo đồng ý bồi thường số tiền nêu trên nên Hội đồng xét xử ghi nhận.

Đối với anh Huỳnh Minh H và anh Huỳnh Kiến Q đã thực hiện hành vi đánh nhau nhưng không g y ra thương tích cho nhau. Xét thấy, Công an huyện G Dầu đã ra Quyết định xử phạt vi phạm hành chính đối với anh H, anh Q theo quy định tại điểm a khoản 2 Điều 5 Nghị định số 167/2013/NĐ-CP ngày 12/11/2013 là đúng quy định của pháp luật, nên Hội đồng xét xử không xem xét giải quyết.

Đối với anh Huỳnh Kiến Q, ông Lê Văn C, anh Nguyễn Văn H1 đã thực hiện hành vi đánh bạc trái phép nhưng chưa đủ để xử lý hình sự. Xét thấy, Công an huyện G Dầu đã ra Quyết định xử phạt vi phạm hành chính đối với anh anh Q, ông C, anh H1 theo quy định tại điểm a khoản 2 Điều 26 Nghị định số 167/2013/NĐ-CP ngày 12/11/2013 là đúng quy định của pháp luật, nên Hội đồng xét xử không xem xét giải quyết.

Xử lý vật chứng: 01 cây dao dày 33cm, cán bằng c y, lưỡi bằng kim dài 20cm, rộng 5,5cm, loại 1 cạnh sắc, lưỡi dao bị cong; 01 cái vá bằng kim loại dài 37cm, rộng 10cm, lưỡi vá bị cong. Hội đồng xét xử xét thấy công cụ dùng vào việc phạm tội và không có giá trị nên cần tịch thu, tiêu hủy.

Bị cáo phải chịu án phí hình sự và d n sự sơ thẩm theo quy định tại Điều 23 của Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban Thường Vụ Q Hội.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH

1. Tuyên bố: Bị cáo Đoàn Thị Tuyết N (D) phạm tội: “Cố ý g y thương tích”.

Áp dụng điểm đ khoản 2 Điều 134, điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51 Bộ luật hình sự năm 2015, sửa đổi bổ sung năm 2017.

Xử phạt bị cáo Đoàn Thị Tuyết N (D) 02 (hai) năm tù. Thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày bị bắt đi thi hành án.

2. Biện pháp tư pháp: Căn cứ Điều 47 Bộ luật hình sự; Điều 590 Bộ luật d n sự.

Tịch thu tiêu hủy: 01 cây dao dày 33cm, cán bằng c y, lưỡi bằng kim dài 20cm, rộng 5,5cm, loại 1 cạnh sắc, lưỡi dao bị cong; 01 cái vá bằng kim loại dài 37cm, rộng 10cm, lưỡi vá bị cong. (Hiện Chi cục thi hành án d n sự huyện G Dầu đang quản lý).

Buộc bị cáo Đoàn Thị Tuyết N phải bồi thường cho anh Huỳnh Minh H số tiền 2.000.000 đồng (hai triệu đồng).

Kể từ ngày anh H có đơn yêu cầu thi hành án, nếu bị cáo không trả số tiền trên, thì hàng tháng bị cáo c n phải trả cho anh H số tiền lãi đối với số tiền chậm trả tương ứng với thời gian chậm trả theo quy định tại khoản 2 Điều 468 Bộ luật d n sự năm 2015.

3. Án phí: Căn cứ Điều 23 của Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban Thường vụ Q Hội.

Buộc bị cáo phải chịu 200.000 đồng (Hai trăm ngàn đồng) tiền án phí hình sự sơ thẩm và phải chịu 300.000 đồng (ba trăm ngàn đồng) tiền án phí d n sự sơ thẩm.

Trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án, bị cáo và bị hại có quyền kháng cáo lên T a án nh n d n tỉnh T y Ninh.

Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án d n sự, thì người được thi hành án d n sự, người phải thi hành án d n sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các điều 6, 7 và 9 Luật Thi hành án d n sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại điều 30 Luật thi hành án d n sự.

TM. HỘI Đ NG X T X S TH M

Cỡ chữ