- Tranh chấp gì? Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình — án hôn nhân và gia đình — "Chị Nguyễn Thị T xin ly hôn anh Lê Văn N"
- Tòa quyết gì? Về quan hệ hôn nhân: Xử cho chị Nguyễn Thị T ly hôn anh Lê Văn N.
- Căn cứ chính? Điều 147 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 227 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 228 Bộ luật Tố tụng dân sự
| TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN TỨ KỲ - TỈNH HẢI DƯƠNG | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Bản án số: 15/2018/HNGĐ - ST Ngày: 31/7/2018 Về việc: Ly hôn |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN TỨ KỲ - TỈNH HẢI DƯƠNG
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán- Chủ tọa phiên tòa: Ông Nguyễn Văn Tú
Các Hội thẩm nhân dân:
1. Ông Nguyễn Thanh Hải
2. Bà Nguyễn Thị Hồng
- Thư ký phiên tòa: Ông Mai Văn Việt - Thư ký Tòa án nhân dân huyện Tứ Kỳ.
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Tứ Kỳ - tỉnh Hải Dương tham gia phiên tòa: Bà Vũ Thị Hương - Kiểm sát viên.
Ngày 31 tháng 7 năm 2018, tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Tứ Kỳ, tỉnh Hải Dương, mở phiên toà xét xử sơ thẩm công khai vụ án Hôn nhân gia đình thụ lý số 151/2018/TLST - HNGĐ ngày 15/6/2018 về việc “Ly hôn”. Theo quyết định đưa vụ án ra xét xử số 15/2018/QĐXXST - HNGĐ ngày 06 tháng 7 năm 2018; Quyết định hoãn phiên tòa số 27/2018/QĐST - HNGĐ ngày 23 tháng 7 năm 2018 giữa các đương sự:
1. Nguyên đơn: Chị Nguyễn Thị T, sinh năm 1993.
Địa chỉ: Thị tứ Q, xã Q, huyện T, tỉnh Hải Dương. Có mặt.
2. Bị đơn: Anh Lê Văn N, sinh năm 1987.
Địa chỉ: Thôn H, xã C, huyện T, tỉnh Hải Dương. Vắng mặt.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo đơn khởi kiện, bản tự khai và biên bản lấy lời khai chị Nguyễn Thị T là nguyên đơn trình bày:
Chị và anh Lê Văn N trước khi kết hôn có được tự do tìm hiểu và tự nguyện đăng ký kết hôn tại UBND xã C, huyện T, tỉnh Hải Dương ngày 06/02/2017. Sau ngày cưới vợ chồng ăn ở chung với mẹ chồng, chị làm công nhân công ty còn anh N lái xe taxi. Vợ chồng hạnh phúc được khoảng 03 tháng thì phát sinh mâu thuẫn. Nguyên nhân là do bất đồng quan điểm sống, tính cách hai người không hợp nhau, thường hay chơi bời không có trách nhiệm tới gia đình, dẫn tới vợ chồng thường
1 xuyên cãi nhau, chị đã tự bỏ về nhà bố mẹ đẻ ở thị tứ Q, xã Q, huyện T, tỉnh Hải Dương để ở từ tháng 7/2017 cho tới nay. Chị thấy không còn tình cảm với anh Lê Văn N, nên chị đề nghị Tòa án giải quyết cho chị được ly hôn với anh N.
Về quan hệ con chung: Không có.
Về tài sản chung: Không yêu cầu Tòa án giải quyết.
Sau khi thụ lý vụ án, Tòa án đã nhiều lần triệu tập anh Lê Văn N đến Tòa án để giải quyết vụ án nhưng anh N không đến và không nộp văn bản ghi ý kiến của mình đối với yêu cầu khởi kiện của chị Nguyễn Thị T
Bà Đoàn Thị T là mẹ đẻ của anh Lê Văn N trình bày: Vợ chồng chị T, anh N hạnh phúc được gần 03 tháng thì phát sinh mâu thuẫn vợ chồng, do bất đồng quan điểm sống, vợ chồng hay cãi nhau, chị T đã về nhà bố mẹ đẻ ở từ tháng 7 năm 2017 cho tới nay. Chị T xin ly hôn với anh N, Tòa án thông báo và triệu tập anh N đến Tòa án để giải quyết việc ly hôn, bà đã thông báo cho anh N và giao các giấy tờ của Tòa án cho anh N, nay chị T xin ly hôn với anh N đề nghị Tòa án giải quyết theo pháp luật, bà không nợ gì vợ chồng chị T, anh N và vợ chồng cũng không nợ gì bà.
Tại phiên tòa: Chị Nguyễn Thị T giữ nguyên yêu cầu khởi kiện, đề nghị Tòa án giải quyết cho chị được ly hôn với anh N.
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Tứ Kỳ, tỉnh Hải Dương có quan điểm xác định việc Tòa án thụ lý, giải quyết yêu cầu khởi kiện của chị Nguyễn Thị T là hoàn toàn đúng quy định của pháp luật. Quá trình xây dựng hồ sơ, thu thập chứng cứ, Thẩm phán đã thực hiện đúng quy định của BLTTDS. Trong thời hạn giải quyết vụ án, các bên đương sự không tự thỏa thuận được các vấn đề cần giải quyết trong vụ án nên Tòa án nhân dân huyện Tứ Kỳ đưa vụ án ra xét xử. Đối với nguyên đơn đã chấp hành đúng theo quy định tại các điều 70, 71 của BLTTDS; đối với bị đơn không thực hiện đúng quyền và nghĩa vụ của mình theo quy định tại các điều 70, 72 của BLTTDS; đối với người làm chứng đã thực hiện đúng quyền và nghĩa vụ theo quy định tại Điều 78 của BLTTDS. Về việc giải quyết vụ án: đề nghị HĐXX căn cứ các điều: 51, 56 Luật hôn nhân và gia đình; Nghị quyết 326/2016/UBTVQH ngày 30/12/2016 của Uỷ ban Thường vụ Quốc hội quy định về án phí và lệ phí toà án. Về quan hệ hôn nhân: Xử cho chị Nguyễn Thị T ly hôn với anh Lê Văn N; Về án phí: Chị T phải chịu án phí theo quy định của pháp luật.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Sau khi nghiên cứu các tài liệu và chứng cứ có trong hồ sơ vụ án đã được thẩm tra công khai tại phiên toà, Hội đồng xét xử thấy:
2
Về tố tụng: Tòa án đã tiến hành mở phiên họp kiểm tra việc giao nộp, tiếp cận, công khai chứng cứ và hòa giải theo quy định của pháp luật nhưng anh N không tham gia hòa giải nên vụ án không tiến hành hòa giải được.
Bị đơn là anh Lê Văn N đã được triệu tập hợp lệ tham gia tố tụng tại phiên tòa lần thứ nhất và lần thứ hai anh N đều vắng mặt không có lý do. Căn cứ các điều 227, 228 của Bộ luật Tố tụng dân sự, Tòa án tiến hành xét xử vắng mặt anh Lê Văn N.
Về quan hệ hôn nhân: Chị Nguyễn Thị T và anh Lê Văn N kết hôn trên cơ sở tự nguyện, có đăng ký kết hôn tại UBND xã C, huyện T, tỉnh Hải Dương ngày 06/02/2007. Như vậy, quan hệ hôn nhân giữa chị T và anh N là hôn nhân hợp pháp. Vợ chồng hạnh phúc được gần 03 tháng đã xảy ra mâu thuẫn, nguyên nhân do cả hai không hòa hợp về tình cảm, bất đồng trong cuộc sống, chị T đã về nhà bố mẹ đẻ sống từ tháng 7 năm 2017, anh chị sống ly thân không ai quan tâm tới ai, giữa anh chị cũng không có biện pháp gì cải thiện quan hệ tình cảm. Từ những căn cứ trên Hội đồng xét xử xét thấy tình cảm vợ chồng giữa chị T và anh N thực sự không còn, đời sống chung không thể kéo dài, mục đích hôn nhân không đạt được. Nay chị T cương quyết đề nghị Tòa án giải quyết cho chị được ly hôn anh N. Do vậy, căn cứ các điều: 51, 56 Luật Hôn nhân và gia đình, xử cho chị T được ly hôn với anh N là phù hợp.
Về quan hệ con chung: Không có.
Về tài sản chung: Chị T, anh N không yêu cầu nên không phải đặt ra giải quyết.
Về án phí: Chị T khởi kiện xin ly hôn nên phải chịu án phí dân sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật.
Vì các lẽ trên;
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ vào các điều: 51, 56 của Luật hôn nhân và gia đình; khoản 4 Điều 147 của Bộ luật Tố tụng dân sự; điểm a khoản 5 Điều 27 của Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí tòa án.
1. Về quan hệ hôn nhân: Xử cho chị Nguyễn Thị T ly hôn anh Lê Văn N.
2. Về án phí: Chị Nguyễn Thị T phải chịu 300.000 đồng (ba trăm nghìn đồng) án phí dân sơ thẩm (Hôn nhân gia đình), được đối trừ vào số tiền 300.000 đồng (ba trăm nghìn đồng) tạm ứng án phí chị đã nộp theo biên lai số AA/2017/0000568 ngày 15/6/2018 tại Chi cục thi hành án dân sự huyện Tứ Kỳ, tỉnh Hải Dương.
3
4. Về quyền kháng cáo: Nguyên đơn có quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày, kể từ ngày tuyên án sơ thẩm. Bị đơn có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày, kể từ ngày được giao bản án hoặc từ ngày bản án được niêm yết/.
| Nơi nhận: - VKSND huyện Tứ Kỳ; - Các đương sự - UBND xã C; - UBND xã Q, - Chi cục THADS huyện Tứ Kỳ - Lưu hồ sơ vụ án. | TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA (đã ký) Nguyễn Văn Tú 4 |