vanban.org

Bản án 15/2018/HNGĐ-ST — Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình

Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Về hôn nhân: Cho ly hôn giữa chị Vũ Thị M và anh Lê Xuân Đ.

Về nuôi con chung: Chị Vũ Thị M được trực tiếp nuôi dưỡng con chung là cháu Lê Thị T, sinh ngày 03/4/2005. Anh Lê Xuân Đ không phải có nghĩa vụ cấp dưỡng nuôi con chung cho chị M. Anh Lê Xuân Đ có quyền thăm nom con chung, không ai được cản trở quyền này. Về án phí: Chị Vũ Thị M phải nộp 300.000đ ( … Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình — án hôn nhân và gia đình — "Ly hôn giữa chị M và anh Đ"
  • Tòa quyết gì? Về hôn nhân: Cho ly hôn giữa chị Vũ Thị M và anh Lê Xuân Đ.
  • Căn cứ chính? Điều 28 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 35 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 56 Luật Hôn nhân và gia đình
TOÀ ÁN NHÂN DÂN
HUYỆN NAM TRỰC
TỈNH NAM ĐỊNH

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 15/2018/HNGĐ-ST
Ngày 24 - 5 - 2018
V/v ly hôn giữa chị M và anh Đ

NHÂN DANH

NƢỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN NAM TRỰC, TỈNH NAM ĐỊNH

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có: Thẩm phán – Chủ toạ phiên toà: Ông Nguyễn Văn Thịnh. Các Hội thẩm nhân dân:

1. Ông Trần Xuân Bút.

2. Bà Bùi Thị Hạnh -Thư ký phiên tòa: Bà Trịnh Thị Hằng, Thư ký tòa án nhân dân huyện Nam Trực.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Nam Trực tham gia phiên tòa: Ông Đặng Xuân Tự - Kiểm sát viên.

Ngày 24 tháng 5 năm 2018, tại trụ sở Toà án nhân dân huyện Nam Trực, tỉnh Nam Định, xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số 18/2018/TLST-HNGĐ ngày 09 tháng 3 năm 2018 về việc "ly hôn, tranh chấp về nuôi con ” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 12/2018/QĐXX- HNGĐ ngày 3 tháng 5 năm 2018 giữa các đương sự:

- Nguyên đơn: Chị Vũ Thị M, sinh năm 1986 ( có mặt). Địa chỉ: Xóm 15, thôn L, xã S, huyện T, tỉnh Nam Định.

- Bị đơn: Anh Lê Xuân Đ, sinh năm 1981 (vắng mặt). Địa chỉ: Xóm 20, thôn L, xã S, huyện T, tỉnh Nam Định.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Tại đơn khởi kiện ngày 08 tháng 02 năm 2018 và trong quá trình xét xử nguyên đơn chị Vũ Thị M trình bày:

Về hôn nhân: Chị M và anh Lê Xuân Đ kết hôn và đăng ký kết hôn tại UBND xã S vào tháng 3 năm 2004, trên cơ sở tự nguyện. Sau kết hôn, vợ chồng chung sống được một thời gian ngắn thì phát sinh mâu thuẫn. Nguyên nhân là do anh Đ chơi bời, không tu chí làm ăn, không quan tâm đến chị M và con chung. Chị M và anh Đ đã sống ly thân từ giữa năm 2005 cho đến nay. Chị M xác định tình cảm vợ chồng không còn, nên xin được ly hôn anh Đ.

Về nuôi con chung: Chị M và anh Đ có 01 con chung là Lê Thị T, sinh ngày 03/4/2005. Hiện nay chị M đang trực tiếp nuôi dưỡng. Sau ly hôn, chị M đề nghị được trực tiếp nuôi dưỡng con chung và không yêu cầu anh Đ có nghĩa vụ cấp dưỡng nuôi con chung.

Về tài sản, công nợ chung: Chị M không yêu cầu Tòa án xem xét giải quyết.

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Nam Trực, tỉnh Nam Định tham gia phiên tòa phát biểu ý kiến:

Về thủ tục tố tụng: Việc thu thập các tài liệu có trong hồ sơ vụ án của Thẩm phán và hoạt động tố tụng tại phiên tòa của Hội đồng xét xử, đã tuân thủ đúng quy định của Bộ luật tố tụng dân sự.

Về nội dung:

- Đề nghị xử ly hôn giữa chị Vũ Thị M và anh Lê Xuân Đ.

- Về nuôi con chung: Chấp nhận yêu cầu của chị Vũ Thị M được trực tiếp nuôi dưỡng cháu là Lê Thị T, sinh ngày 03/4/2005, anh Đ không phải có nghĩa vụ cấp dưỡng nuôi con chung cho chị M.

- Về án phí: Chị Vũ Thị M phải nộp theo quy định của pháp luật.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Sau khi nghiên cứu các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án đã được xem xét tại phiên toà và căn cứ kết quả tranh tụng, Hội đồng xét xử nhận định:

Về thủ tục tố tụng: Anh Lê Xuân Đ là bị đơn đã được Tòa án triệu tập hợp lệ lần thứ hai nhưng vẫn vắng mặt không vì sự kiện bất khả kháng hoặc trở ngại khách quan. Theo quy định tại Điểm b khoản 2 Điều 227; khoản 3 Điều 228 Bộ luật Tố tụng dân sự, Tòa án vẫn tiến hành xét xử vụ án vắng mặt anh Lê Xuân Đ.

Về hôn nhân: Chị Vũ Thị M và anh Lê Xuân Đ kết hôn có đủ điều kiện theo quy định của pháp luật nên đây là hôn nhân hợp pháp. Mâu thuẫn vợ chồng phát sinh từ năm 2005, nguyên nhân là do anh Đ không tu chí làm ăn và không quan tâm đến gia đình. Chị M và anh Đ đã sống ly thân từ giữa năm 2005 đến nay, điều đó thể hiện tình cảm vợ chồng giữa chị M và anh Đ không còn, mục đích hôn nhân không đạt được, nên yêu cầu xin ly hôn của chị M có căn cứ chấp nhận theo quy định tại Điều 56 của Luật Hôn nhân và gia đình.

Về nuôi con chung: Chị M và anh Đ có 01 con chung, hiện nay đang do chị M trực tiếp nuôi dưỡng. Để đảm bảo quyền lợi mọi mặt của con chung nên tiếp tục giao 01 con chung cho chị M nuôi dưỡng. Chấp nhận sự tự nguyện của chị M, không yêu cầu anh Đ phải có nghĩa vụ cấp dưỡng nuôi con chung là phù hợp với quy định tại Điều 81, Điều 82 và Điều 83 Luật hôn nhân và gia đình.

Về tài sản, công nợ chung: Trong quá trình Tòa án giải quyết vụ án các đương sự không có yêu cầu, nên Tòa án không đặt ra xem xét giải quyết.

Về án phí: Chị M phải phải nộp án phí ly hôn theo quy định của của pháp luật.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ vào Điều 28, Điều 35 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 56, Điều 81, 82 Điều 83 Luật Hôn nhân và gia đình; Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH ngày 30-12-2016 quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.

1.Về hôn nhân: Cho ly hôn giữa chị Vũ Thị M và anh Lê Xuân Đ.

2.Về nuôi con chung: Chị Vũ Thị M được trực tiếp nuôi dưỡng con chung là cháu Lê Thị T, sinh ngày 03/4/2005. Anh Lê Xuân Đ không phải có nghĩa vụ cấp dưỡng nuôi con chung cho chị M. Anh Lê Xuân Đ có quyền thăm nom con chung, không ai được cản trở quyền này.

3.Về án phí: Chị Vũ Thị M phải nộp 300.000đ ( ba trăm nghìn đồng) án phí ly hôn, được trừ vào số tiền tạm ứng án phí 300.000 đồng chị M đã nộp theo Biên lai số 0001953 ngày 09 tháng 3 năm 2018 của Chi cục Thi hành án dân sự huyện Nam Trực.

4. Quyền kháng cáo: Chị Vũ Thị M có quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án. Anh Lê Xuân Đ có quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc kể từ ngày được tống đạt hợp lệ.

Trong trường hợp bản án được thi hành theo quy định tại điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì đương sự có quyền tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án. Thời hạn thi hành án được thực hiện theo quy định tại điều 30 Luật Thi hành án dân sự.

Cỡ chữ