vanban.org

Bản án 15/2018/HNGĐ-ST — Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình

Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Về quan hệ hôn nhân: Cho ly hôn giữa chị Lê Ngọc T và anh Lê Thanh K.

Về con chung: Giao cháu Lê Thanh K1, sinh ngày 19 tháng 11 năm 2012 cho chị Lê Ngọc T nuôi dưỡng. Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình — án hôn nhân và gia đình — "Lê Ngọc T - Lê Thanh K"
  • Tòa quyết gì? Về quan hệ hôn nhân: Cho ly hôn giữa chị Lê Ngọc T và anh Lê Thanh K.
  • Căn cứ chính? Điều 227 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 228 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 82 Luật Hôn nhân và gia đình
TÒA ÁN NHÂN DÂN
HUYỆN MỸ TÚ
TỈNH SÓC TRĂNG

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 15/2018/HNGĐ-ST
Ngày 02-7-2018
V/v ly hôn và tranh chấp về nuôi con

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN MỸ TÚ, TỈNH SÓC TRĂNG

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Nguyễn Hoàng Lâm.

Các Hội thẩm nhân dân:

Ông Trần Văn Lâm;

Ông Huỳnh Văn Miên;

- Thư ký phiên tòa: Ông Tô Văn Thừa - Thư ký Tòa án nhân dân huyện Mỹ Tú, tỉnh Sóc Trăng.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Mỹ Tú, tỉnh Sóc Trăng tham gia phiên tòa: Bà Triệu Thị Mộng Lý - Kiểm sát viên.

Ngày 02 tháng 7 năm 2018, tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Mỹ Tú, tỉnh Sóc Trăng, xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số: 39/2018/TLST-HNGĐ ngày 20 tháng 3 năm 2018, về ly hôn và tranh chấp về nuôi con, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 34/2018/QĐXXST-HNGĐ ngày 28 tháng 5 năm 2018, giữa các đương sự:

- Nguyên đơn: Chị Lê Ngọc T;

Địa chỉ cư trú: Ấp H, xã X, huyện K, tỉnh Sóc Trăng. (có đơn đề nghị xét xử vắng mặt)

- Bị đơn: Anh Lê Thanh K;

Địa chỉ cư trú: Ấp M, thị trấn H, huyện M, tỉnh Sóc Trăng. (vắng mặt)

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo đơn khởi kiện đề ngày 13 tháng 3 năm 2018 và các lời khai trong quá trình giải quyết vụ án, nguyên đơn chị Lê Ngọc T đều trình bày:

Về quan hệ hôn nhân: Chị và anh Lê Thanh K quen biết, tìm hiểu nhau, sau đó tự nguyện tổ chức lễ cưới với nhau vào năm 2011 và có đi đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân thị trấn H, huyện M, tỉnh Sóc Trăng, được Ủy ban nhân dân thị trấn cấp giấy chứng nhận kết hôn số 77 ngày 13 tháng 9 năm 2012. Sau khi kết hôn, vợ chồng chị về sống chung với gia đình anh K, ở ấp M, thị trấn H, huyện M, tỉnh Sóc Trăng. Vợ chồng chị chung sống hạnh phúc được một thời gian, đến khoảng tháng 02 năm 2016 thì phát sinh mâu thuẫn, do bất đồng quan điểm trong việc chi tiêu tiền bạc, dẫn đến cãi nhau nên cả hai không còn sống chung với nhau từ khoảng năm 2016 cho đến nay. Nay chị cảm thấy tình cảm vợ chồng không còn, không thể hàn gắn được nên chị yêu cầu Tòa án giải quyết cho chị được ly hôn với anh K.

Về con chung: Vợ chồng chị chung sống với nhau có được 01 đứa con chung, tên là Lê Thanh K1, sinh ngày 19 tháng 11 năm 2012. Hiện nay, con đang sống chung với chị. Khi ly hôn, chị yêu cầu được nuôi con đến tuổi trưởng thành và không yêu cầu anh K cấp dưỡng nuôi con.

Về tài sản chung và nợ chung: Vợ chồng chị không có nên chị không yêu cầu giải quyết.

Đối với bị đơn anh Lê Thanh K:

Sau khi thụ lý vụ án, Tòa án đã tống đạt hợp lệ thông báo thụ lý vụ án cho anh K biết, nhưng anh không có ý kiến gì đối với yêu cầu khởi kiện của chị T. Tòa án cũng đã triệu tập hợp lệ anh K hai lần để tham gia phiên họp kiểm tra việc giao nộp, tiếp cận công khai chứng cứ và hòa giải, nhưng anh vẫn vắng mặt không có lý do. Vì vậy, Tòa án đã lập biên bản về việc không tiến hành hòa giải được và mở phiên họp kiểm tra việc giao nộp, tiếp cận, công khai chứng cứ, sau đó đã thông báo cho anh biết kết quả phiên họp. Đồng thời, Tòa án cũng ra quyết định đưa vụ án ra xét xử. Anh K cũng đã được Tòa án triệu tập hợp lệ lần thứ hai để tham gia phiên tòa sơ thẩm nhưng vẫn vắng mặt không có lý do.

Ý kiến của Kiểm sát viên tại phiên tòa sơ thẩm:

Trong quá trình giải quyết vụ án kể từ khi thụ lý cho đến trước thời điểm Hội đồng xét xử nghị án, Thẩm phán, Hội đồng xét xử, Thư ký phiên tòa và chị T đều thực hiện đúng theo quy định của pháp luật tố tụng dân sự, còn anh K vắng mặt không có lý do, không thực hiện đúng theo quy định của pháp luật tố tụng dân sự. Đối với các yêu cầu khởi kiện của chị T, về việc xin ly hôn với anh K, yêu cầu được nuôi con chung, không yêu cầu anh K cấp dưỡng nuôi con là có căn cứ nên đề nghị Hội đồng xét xử chấp nhận, còn về tài sản chung và nợ chung, trong quá trình giải quyết vụ án, chị T không yêu cầu giải quyết và anh K cũng không có ý kiến gì nên đề nghị Hội đồng xét xử không đặt ra xem xét.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Về thủ tục tố tụng: Nguyên đơn chị Lê Ngọc T, bị đơn anh Lê Thanh K đã được Tòa án triệu tập hợp lệ lần thứ hai để tham gia phiên tòa sơ thẩm nhưng vắng mặt. Hội đồng xét xử thấy, đối với nguyên đơn là chị T có đơn đề nghị Tòa án xét xử vắng mặt, còn bị đơn là anh K vắng mặt không vì sự kiện bất khả kháng hoặc trở ngại khách quan. Do đó, theo quy định tại điểm a, b khoản 2 Điều 227 và khoản 1, khoản 3 Điều 228 Bộ luật Tố tụng dân sự, Hội đồng xét xử tiến hành xét xử vắng mặt đối với chị T và anh K.

Về quan hệ hôn nhân: Chị T và anh K kết hôn với nhau là trên cơ sở tự nguyện, không ai ép buộc, được Ủy ban nhân dân thị trấn H, huyện M, tỉnh Sóc Trăng cấp giấy chứng nhận kết hôn số 77 ngày 13 tháng 9 năm 2012, nên quan hệ hôn nhân giữa chị T và anh K là hợp pháp. Khoản 1 Điều 51 Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014 quy định: “Vợ, chồng hoặc cả hai người có quyền yêu cầu Tòa án giải quyết ly hôn”. Như vậy, chị T có quyền yêu cầu Tòa án giải quyết ly hôn với anh K.

Xét yêu cầu xin ly hôn của chị T, Hội đồng xét xử nhận thấy, sau khi kết hôn, chị T và anh K cũng có thời gian chung sống hạnh phúc bên nhau. Tuy nhiên, đến khoảng tháng 02 năm 2016, hai người bắt đầu phát sinh mâu thuẫn do bất đồng quan điểm trong việc chi tiêu tiền bạc, dẫn đến cãi nhau, làm cho cuộc sống vợ chồng không được hạnh phúc nên hai người không còn sống chung với nhau từ năm 2016 cho đến nay. Tòa án đã triệu tập anh K nhiều lần để hòa giải, động viên hàn gắn, đoàn tụ nhưng anh đều không đến, chứng tỏ anh không có ý muốn tiếp tục duy trì cuộc hôn nhân này. Như vậy, chị T và anh K đã vi phạm nghiêm trọng ngh a vụ của vợ chồng, đó là không thương yêu, tôn trọng, quan tâm, chăm sóc, giúp đỡ nhau; làm cho hôn nhân lâm vào tình trạng trầm trọng, đời sống chung không thể kéo dài và mục đích của hôn nhân cũng không đạt được. Khoản 1 Điều 56 Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014 có quy định: “Khi vợ hoặc chồng yêu cầu ly hôn mà hòa giải tại Tòa án không thành thì Tòa án giải quyết cho ly hôn nếu có căn cứ về việc vợ, chồng có hành vi bạo lực gia đình hoặc vi phạm nghiêm trọng quyền, nghĩa vụ của vợ, chồng làm cho hôn nhân lâm vào tình trạng trầm trọng, đời sống chung không thể kéo dài, mục đích của hôn nhân không đạt được”. Do đó, yêu cầu xin ly hôn của chị T là có căn cứ, Hội đồng xét xử chấp nhận cho chị T ly hôn với anh K.

Về con chung: Xét yêu cầu của chị T xin được nuôi dưỡng con chung tên là Lê Thanh K1, sinh ngày 19 tháng 11 năm 2012 đến tuổi trưởng thành, Hội đồng xét xử thấy, khoản 2 Điều 81 Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014 có quy định: “Vợ, chồng thỏa thuận về người trực tiếp nuôi con, quyền, nghĩa vụ của mỗi bên sau khi ly hôn đối với con; trường hợp không thỏa thuận được thì Tòa án giải quyết giao con cho một bên trực tiếp nuôi căn cứ vào quyền lợi mọi mặt của con; nếu con từ đủ 07 tuổi trở lên thì phải xem xét nguyện vọng của con”. Đến ngày xét xử sơ thẩm, cháu K1 chưa đủ 07 tuổi; từ khi chị T và anh K ly thân đến nay thì cháu K1 do chị T chăm sóc, nuôi dưỡng, chị T và anh K không có thỏa thuận người trực tiếp nuôi con; trong quá trình giải quyết vụ án, anh K cũng không có gửi cho Tòa án văn bản nêu ý kiến của mình về vấn đề này. Do đó, sau khi xem xét điều kiện kinh tế của chị T, đồng thời để đảm bảo quyền lợi mọi mặt cho cháu K1, Hội đồng xét xử chấp nhận yêu cầu của chị T, giao cháu K1 cho chị T tiếp tục nuôi dưỡng sau khi ly hôn.

Về cấp dưỡng nuôi con: Khoản 2 Điều 82 Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014 quy định: “Cha, mẹ không trực tiếp nuôi con có nghĩa vụ cấp dưỡng nuôi con”. Đáng lẽ ra, anh K là người không trực tiếp nuôi con thì phải có ngh a vụ cấp dưỡng nuôi con, nhưng chị T không yêu cầu. Do đó, Hội đồng xét xử không đặt ra xem xét.

Ngoài ra, khoản 3 Điều 82 Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014 còn quy định: “Sau khi ly hôn, người không trực tiếp nuôi con có quyền, nghĩa vụ thăm nom con mà không ai được cản trở”. Như vậy, anh K là người không trực tiếp nuôi con nên có quyền, ngh a vụ thăm nom con mà không ai được cản trở.

Về tài sản chung và nợ chung: Chị T không có yêu cầu giải quyết nên Hội đồng xét xử không đặt ra xem xét.

Như vậy, tại phiên tòa sơ thẩm, Kiểm sát viên đề nghị Hội đồng xét xử chấp nhận các yêu cầu khởi kiện của chị T là có căn cứ.

Về án phí sơ thẩm: Hội đồng xét xử thấy, khoản 4 Điều 147 Bộ luật Tố tụng dân sự và điểm a khoản 5 Điều 27 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội, quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án đều quy định: “Trong vụ án ly hôn thì nguyên đơn phải chịu án phí sơ thẩm, không phụ thuộc vào việc Tòa án chấp nhận hay không chấp nhận yêu cầu của nguyên đơn”. Như vậy, chị T là người xin ly hôn nên chị phải chịu 300.000 đồng án phí hôn nhân và được khấu trừ vào số tiền tạm ứng án phí đã nộp.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ vào khoản 1 Điều 28, điểm a khoản 1 Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 39, khoản 4 Điều 147, điểm a, b khoản 2 Điều 227, khoản 1 và khoản 3 Điều 228 Bộ luật Tố tụng dân sự; khoản 1 Điều 51, khoản 1 Điều 56, khoản 2 Điều 81, khoản 2 và khoản 3 Điều 82 Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014; điểm a khoản 5 Điều 27 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội, quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.

Tuyên xử:

1. Về quan hệ hôn nhân: Cho ly hôn giữa chị Lê Ngọc T và anh Lê Thanh K.

2. Về con chung:

- Giao cháu Lê Thanh K1, sinh ngày 19 tháng 11 năm 2012 cho chị Lê Ngọc T nuôi dưỡng.

- Anh Lê Thanh K không phải cấp dưỡng nuôi con.

- Anh Lê Thanh K có quyền, ngh a vụ thăm nom con, không ai được cản trở.

3. Về tài sản chung và nợ chung: Chị Lê Ngọc T không yêu cầu nên không đặt ra xem xét.

4. Về án phí sơ thẩm: Chị Lê Ngọc T phải chịu 300.000 đồng (Ba trăm nghìn đồng) án phí hôn nhân; được khấu trừ vào số tiền tạm ứng án phí đã nộp 300.000 đồng (Ba trăm nghìn đồng), theo biên lai thu tạm ứng án phí, lệ phí Tòa án số 0007427 ngày 13 tháng 3 năm 2018 của Chi cục Thi hành án dân sự huyện Mỹ Tú, tỉnh Sóc Trăng và như vậy chị đã nộp đủ án phí sơ thẩm.

5. Về quyền kháng cáo: Các đương sự có quyền làm đơn kháng cáo bản án này trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc được tống đạt hợp lệ.

6. Trường hợp bản án được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự được sửa đổi, bổ sung năm 2014 thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7, 7a và 9 Luật Thi hành án dân sự được sửa đổi, bổ sung năm 2014; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật Thi hành án dân sự được sửa đổi, bổ sung năm 2014.

Cỡ chữ