vanban.org

Bản án 15/2018/HNGĐ-ST — Vụ án ly hôn về bạo lực gia đình

Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Công nhận sự thuận tình ly hôn giữa chị Ngô Thị T và anh Bùi Đạt N.

Công nhận sự thỏa thuận của các đương sự cụ thể như sau: Về con chung: Giao con tên Bùi Ngô Phương N (sinh ngày 15/02/2014) cho chị Ngô Thị T tiếp tục nuôi dưỡng, anh Bùi Đạt N cấp dưỡng nuôi con 500.000đồng/tháng cho đến khi con đủ 18 tuổi. Anh Bùi Đạt N được quyền thăm nom, chăm sóc và giáo dục co… Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? Vụ án ly hôn về bạo lực gia đình — án hôn nhân và gia đình — "Ngô Thị T-Bùi Đạt N"
  • Tòa quyết gì? Công nhận sự thuận tình ly hôn giữa chị Ngô Thị T và anh Bùi Đạt N.
  • Căn cứ chính? Điều 147 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 51 Luật Hôn nhân và gia đình; Điều 28 Bộ luật Tố tụng dân sự
TÒA ÁN NHÂN DÂN
HUYỆN BẮC BÌNH
TỈNH BÌNH THUẬN

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 15/2018/HNGĐ-ST
Ngày 21-5-2018
V/v tranh chấp ly hôn

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN BẮC BÌNH, TỈNH BÌNH THUẬN

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán-Chủ tọa phiên tòa: Ông Nguyễn Hồng Thái

Các Hội thẩm nhân dân:

1-Ông Nguyễn Ngọc Thi

2-Ông Nguyễn Hữu Duy

- Thư ký phiên tòa: Ông Tsằn Cóng Mềnh-Thư ký Tòa án nhân dân huyện Bắc Bình

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Bắc Bình tham gia phiên tòa: Ông Trần Thông-Kiểm sát viên

Ngày 21 tháng 5 năm 2018, tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Bắc Bình xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số 263/2017/TLST-HNGĐ ngày 18 tháng 10 năm 2017, về tranh chấp ly hôn theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 18/2018/QĐXXST-HNGĐ ngày 18 tháng 4 năm 2018, giữa các đương sự:

- Nguyên đơn: chị Ngô Thị T, sinh năm 1995

- Bị đơn: anh Bùi Đạt N, sinh năm 1992

Cùng địa chỉ: Thôn TH, xã HT, huyện B, tỉnh Bình Thuận

Tất cả các đương sự có mặt.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Tại đơn khởi kiện và biên bản lấy lời khai, hòa giải, nguyên đơn-chị Ngô Thị T trình bày: Sau thời gian tìm hiểu yêu thương nhau, được sự chấp thuận của hai bên gia đình, chị và anh Bùi Đạt N cưới nhau và đăng ký kết hôn tại UBND xã HT vào ngày 22/5/2014. Thời gian đầu chung sống hạnh phúc và sinh được 01 con chung tên Bùi Ngô Phương N (sinh ngày 15/02/2014), nhưng đến khoảng tháng 3/2016 thì vợ chồng phát sinh mâu thuẫn và sống ly thân nhau từ đó đến nay. Nguyên nhân mâu thuẫn là do trong cuộc sống, anh N thường hay kiếm chuyện đánh đập chị vô cớ. Nay xét thấy tình cảm vợ chồng không còn, chị làm đơn khởi kiện yêu cầu Tòa án giải quyết:

- Về hôn nhân: yêu cầu được ly hôn với anh Bùi Đạt N.

- Về con chung: yêu cầu được nuôi con và không yêu cầu anh N cấp dưỡng nuôi con.

- Về tài sản chung và nợ chung: không yêu cầu Tòa án giải quyết. Quá trình lấy lời khai, hòa giải, bị đơn-anh Bùi Đạt N trình bày: Anh thống nhất với lời khai của chị Ngô Thị T về thời gian cưới nhau, đăng ký kết hôn và về con chung. Đối với yêu cầu khởi kiện của chị Ngô Thị T, anh không đồng ý, vì còn thương yêu vợ con. Tại phiên tòa hôm nay, Kiểm sát viên đề nghị áp dụng khoản 1 Điều 28, điểm a khoản 1 Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 39, Điều 147 Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015; các Điều 51, 55, 81, 82 và 83 Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014; Đề nghị Hội đồng xét xử tuyên xử:

- Về hôn nhân: Công nhận thuận tình ly hôn giữa chị Ngô Thị T và anh Bùi Đạt N.

- Về con chung: Giao con tên Bùi Ngô Phương N (sinh ngày 15/02/2014) cho chị Ngô Thị T tiếp tục nuôi dưỡng, anh Bùi Đạt N cấp dưỡng nuôi con 500.000đồng/tháng cho đến khi con trưởng thành.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phiên tòa, xét yêu cầu và ý kiến của các bên đương sự; ý kiến của Kiểm sát viên, Hội đồng xét xử nhận định: [1] Sau thời gian tìm hiểu yêu thương nhau, được sự chấp thuận của hai bên gia đình, chị Ngô Thị T và anh Bùi Đạt N cưới nhau và đăng ký kết hôn tại UBND xã HT vào ngày 22/5/2014. Thời gian đầu chung sống hạnh phúc và sinh được 01 con chung, nhưng đến khoảng tháng 3/2016 thì vợ chồng phát sinh mâu thuẫn và sống ly thân nhau từ đó đến nay. Nguyên nhân mâu thuẫn theo chị T là do trong cuộc sống, anh N thường hay kiếm chuyện đánh đập chị vô cớ. Quá trình xác minh, thu thập chứng cứ và hòa giải, anh Bùi Đạt N không đồng ý ly hôn, vì còn thương yêu vợ con và mâu thuẫn vợ chồng không có gì lớn. Tuy nhiên, quá trình hỏi và tranh tụng tại phiên tòa, chị Ngô Thị T và anh Bùi Đạt N thống nhất thỏa thuận:

- Về hôn nhân: chị Ngô Thị T và anh Bùi Đạt N thuận tình ly hôn.

- Về con chung: Giao con tên Bùi Ngô Phương N (sinh ngày 15/02/2014) cho chị Ngô Thị T tiếp tục nuôi dưỡng, anh Bùi Đạt N cấp dưỡng nuôi con 500.000đồng/tháng cho đến khi con đủ 18 tuổi.

- Về án phí: chị Ngô Thị T chịu 300.000đồng án phí dân sự sơ thẩm (đối với yêu cầu ly hôn), anh Bùi Đạt N chịu 300.000đồng án phí dân sự sơ thẩm (đối với yêu cầu cấp dưỡng nuôi con).

Xét thấy việc thuận tình ly hôn và thỏa thuận của các đương sự là hoàn toàn tự nguyện và không vi phạm điều cấm của luật, không trái đạo đức xã hội, nên Hội đống xét xử công nhận.

Về tài sản chung và nợ chung: Do không có ai yêu cầu giải quyết nên Hội đồng xét xử không xem xét giải quyết theo quy định tại Điều 5 Bộ luật tố tụng dân sự.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

- Căn cứ vào: khoản 1 Điều 28, điểm a khoản 1 Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 39, khoản 4 Điều 147 Bộ luật Tố tụng dân sự; khoản 1 Điều 51, Điều 55, Điều 81, Điều 82 và Điều 83 Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014;

- Tuyên xử:

1. Công nhận sự thuận tình ly hôn giữa chị Ngô Thị T và anh Bùi Đạt N.

2. Công nhận sự thỏa thuận của các đương sự cụ thể như sau:

- Về con chung: Giao con tên Bùi Ngô Phương N (sinh ngày 15/02/2014) cho chị Ngô Thị T tiếp tục nuôi dưỡng, anh Bùi Đạt N cấp dưỡng nuôi con 500.000đồng/tháng cho đến khi con đủ 18 tuổi. Anh Bùi Đạt N được quyền thăm nom, chăm sóc và giáo dục con chung.

- Về án phí:

+ Chị Ngô Thị T chịu 300.000đồng án phí dân sự sơ thẩm (đối với yêu cầu ly hôn), nhưng được khấu trừ 300.000đồng tiền tạm ứng án phí đã nộp theo biên lai thu số 0015453 ngày 18/10/2017 của Chi cục Thi hành án dân sự huyện Bắc Bình, chị Ngô Thị T đã nộp đủ án phí dân sự sơ thẩm.

+ Anh Bùi Đạt N chịu 300.000đồng án phí dân sự sơ thẩm (đối với yêu cầu cấp dưỡng nuôi con).

n xử sơ thẩm công khai, các đương sự có mặt tại phiên tòa, được quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án (21/5/2018).

Trường hợp bản án được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7 và 9 Luật Thi hành án dân sự; Thời hiệu thi hành án dân sự được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật Thi hành án dân sự.

Cỡ chữ