vanban.org

Bản án 15/2018/DS-ST — Tranh chấp hợp đồng vay tài sản

Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn – bà Nguyễn Thị Kim Q về việc “Tranh chấp hợp đồng vay tài sản” đối với bị đơn – ông Trần Thanh Đ.

Buộc bị đơn - ông Trần Thanh Đ phải có nghĩa vụ trả cho nguyên đơn – bà Nguyễn Thị Kim Q số tiền nợ gốc là 500.000.000đ (Năm trăm triệu đồng); Kể từ ngày nguyên đơn có đơn yêu cầu thi hành án, nếu bị đơn không trả số tiền nợ nêu trên thì còn phải trả cho nguyên đơn khoản tiền lãi do chậm thực hiện n… Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? Tranh chấp hợp đồng vay tài sản — án dân sự — "Nguyễn Thị Kim Q-Trần Thanh Đ"
  • Tòa quyết gì? Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn – bà Nguyễn Thị Kim Q về việc “Tranh chấp hợp đồng vay tài sản” đối với bị đơn – ông Trần Thanh Đ.
  • Căn cứ chính? Điều 91 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 93 Bộ luật Tố tụng dân sự; NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…
TÒA ÁN NHÂN DÂN
THÀNH PHỐ RẠCH GIÁ
TỈNH KIÊN GIANG

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 15/2018/DS-ST.
Ngày: 30-3-2018.
V/v Tranh chấp hợp đồng vay tài sản.

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ RẠCH GIÁ

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Huỳnh Tất Ngọc Trân.

Các Hội thẩm nhân dân: 1. Bà Lê Thị Mỹ;

2. Bà Trần Thị Lệ.

- Thư ký phiên tòa: Bà Lê Thị Tú – Thư ký của Tòa án nhân dân thành phố Rạch Giá.

Trong ngày 30 tháng 3 năm 2018, tại trụ sở Tòa án nhân dân thành phố Rạch Giá, xét xử sơ thẩm công khai vụ án dân sự thụ lý số 20/2018/TLST-DS ngày 08 tháng 01 năm 2018 về việc “Tranh chấp hợp đồng vay tài sản” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 10/2018/QĐXXST-DS ngày 26 tháng 02 năm 2018, Quyết định hoãn phiên tòa số 13/2018/QĐST-DS ngày 12/3/2018 giữa các đương sự: 1. Nguyên đơn: Bà Nguyễn Thị Kim Quang, sinh năm: 1938 (vắng mặt)

Địa chỉ: Số 79 đường Đ, phường V, thành phố G, tỉnh Kiên Giang.

Đại diện ủy quyền của nguyên đơn: Ông Đặng Ngọc T, sinh năm 1959. Địa chỉ: Số 21 đường H, khu phố 5, phường V, thành phố G, tỉnh Kiên Giang theo Văn bản ủy quyền được Công chứng ngày 28/12/2017 tại Ủy ban nhân dân phường V, tỉnh Kiên Giang (có mặt).

2. Bị đơn: Ông Trần Thanh Đ, sinh năm: 1954 (có mặt)

Địa chỉ: Số 46-47 Lô A1 đường H, khu phố 5, phường B, thành phố G, tỉnh Kiên Giang.

3. Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan: Ông Đặng Ngọc T, sinh năm 1959 (có mặt)

Địa chỉ: Số 21 đường H, khu phố 5, phường V, thành phố G, tỉnh Kiên Giang.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

* Tại đơn khởi kiện và các lời khai tại Tòa ông Đặng Ngọc T là đại diện ủy quyền của nguyên đơn, đồng thời là người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan trong vụ kiện trình bày: Tôi và ông Đ là bạn bè thân thiết nên vào khoảng thời gian từ trước năm 2013 đến ngày 03/11/2013, tôi đã nhiều lần trực tiếp đưa tiền cho ông Đ vay, nguồn tiền cho vay là của mẹ vợ tôi bà Nguyễn Thị Kim Q đưa. Tổng số tiền ông Đ vay là 500.000.000đ (Năm trăm triệu đồng) theo biên nhận nợ đề ngày 01/8/2013. Thời điểm vay tôi và ông Đ có thỏa thuận lãi hàng tháng. Tuy nhiên, tôi không nhớ số tiền lãi ông Đ đã trả là bao nhiêu vì tin tưởng bạn bè nên không lập sổ sách theo dõi.

Nay, chúng tôi yêu cầu ông Đ trả số tiền gốc còn nợ là 500.000.000đ (Năm trăm triệu đồng) và tự nguyện không yêu cầu tính lãi. Ngoài ra, chúng tôi không còn yêu cầu nào khác.

* Tại bản tự khai đề ngày 01/3/2018 và các lời khai tại Tòa bị đơn – ông Trần Thanh Đ trình bày: Tôi thừa nhận vào khoảng thời gian từ năm 2006 đến tháng 11/2013, tôi có trực tiếp nhận tiền từ ông Đặng Ngọc T nhiều lần với tổng số tiền vay gốc là 500.000.000đ (Năm trăm triệu đồng), ông T nói nguồn tiền cho vay là của mẹ vợ - bà Nguyễn Thị Kim Q. Thời điểm vay hai bên có thỏa thuận lãi suất hàng tháng. Tuy nhiên, tôi cũng không nhớ chính xác số tiền lãi đã trả cho ông T là bao nhiêu và tôi cũng tự nguyện không yêu cầu Tòa án xem xét lại khoản tiền lãi đã trả cho ông T.

Nay tôi đồng ý trả nợ theo yêu cầu của nguyên đơn nhưng do đang gặp khó khăn nên tôi xin trả dần số tiền gốc 6.000.000đ/năm đến khi hết nợ và xin không tính tiền lãi nữa.

* Tại phiên tòa:

- Ông Đặng Ngọc T là đại diện ủy quyền của nguyên đơn, đồng thời là người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan trong vụ kiện xác định giữ nguyên yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn. Yêu cầu ông Trần Thanh Đ phải trả số tiền nợ vay gốc là 500.000.000đ (Năm trăm triệu đồng), nguyên đơn tự nguyện không yêu cầu tính lãi.

- Bị đơn: Ông Trần Thanh Đ đồng ý yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn, nhưng xin trả dần. Tự nguyện không yêu cầu xem xét lại phần tiền lãi đã đóng cho nguyên đơn.

Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án, được thẩm tra tại phiên tòa, căn cứ vào kết quả tranh luận tại phiên tòa, Hội đồng xét xử

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Về thủ tục tố tụng:

Yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn, theo quy định tại khoản 3 Điều 26 và điểm a khoản 1 Điều 35 Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015, là thuộc thẩm quyền của Toà án nhân dân thành phố Rạch Giá, tỉnh Kiên Giang.

Nguyên đơn xác định đây là quan hệ tranh chấp vay tài sản của cá nhân ông Trần Thanh Đ nên không yêu cầu đưa vợ ông Đ - bà Đoàn Thị Y vào tham gia tố tụng với tư cách là người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan cũng như không yêu cầu xem xét trách nhiệm liên đới trả nợ phát sinh từ giao dịch dân sự của ông Đ.

Về nội dung vụ án:

Ông Đặng Ngọc T và ông Trần Thanh Đ thống nhất thừa nhận: Xuất phát từ quan hệ bạn bè quen biết nên trong khoảng thời gian từ trước năm 2013 đến tháng 11/2013, ông T đã nhiều lần đưa tiền cho ông Đ vay, nguồn tiền cho vay là của mẹ vợ ông T bà Nguyễn Thị Kim Q đưa. Tổng số tiền ông Đ vay là 500.000.000đ (Năm trăm triệu đồng). Xét việc các đương sự giao kết giao dịch dân sự là tự nguyện phù hợp khoản 1 Điều 122, khoản 1 Điều 124 Bộ luật dân sự năm 2005. Do đó, việc nguyên đơn khởi kiện yêu cầu ông Đ phải trả số tiền nợ gốc 500.000.000đ (Năm trăm triệu đồng) theo biên nhân nợ đề ngày 01/8/2013 là có căn cứ.

Về tiền lãi hàng tháng: Hai bên thống nhất thời điểm cho vay có thỏa thuận lãi tuy nhiên cả ông T và ông Đ đều không nhớ chính xác số tiền lãi đã giao nhận là bao nhiêu. Nay, để tạo điều kiện cho bị đơn trả nợ, nguyên đơn tự nguyện chỉ yêu cầu trả số tiền nợ gốc mà không yêu cầu tính lãi đối với bị đơn. Mặt khác, ông Trần Thanh Đ cũng tự nguyện không yêu cầu Tòa án xem xét lại khoản tiền lãi đã trả cho ông T vì không nhớ và cũng không có lập sổ sách theo dõi việc trả tiền. Xét sự tự nguyện trên là có lợi cho bị đơn nên Hội đồng xét xử thống nhất ghi nhận.

Từ cơ sở nhận định trên, căn cứ vào Điều 91, Điều 93 Bộ luật tố tụng dân năm 2015 quy định về chứng cứ và nghĩa vụ chứng minh; và áp dụng Điều 471, Điều 474 của Bộ luật dân sự 2005 quy định về hợp đồng vay và nghĩa vụ trả nợ của bên vay, Hội đồng xét xử thống nhất chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn – bà Nguyễn Thị Kim Q, buộc bị đơn – ông Trần Thanh Đ phải trả số tiền nợ gốc là 500.000.000đ (Năm trăm triệu đồng) theo biên nhận lập ngày 01/08/2013 do nguyên đơn cung cấp.

Đối với yêu cầu xin trả nợ dần của bị đơn: Trong quá trình giải quyết vụ kiện cũng như tại phiên tòa, bị đơn – ông Trần Thanh Đ thừa nhận số tiền vay gốc và đồng ý trả nợ theo yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn nhưng do điều kiện đang gặp khó khăn nên xin được trả dần. Tuy nhiên nguyên đơn không đồng ý mà yêu cầu bị đơn phải thực hiện nghĩa vụ trả nợ một lần hết số nợ gốc nêu trên, do đó Hội đồng xét xử không có cơ sở để ghi nhận. Mặt khác, yêu cầu này của các bên không thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án theo hướng dẫn tại Mục 1 Phần III Thông tư liên tịch số 01/TTLT ngày 19/6/1997 của TANDTC-VKSNDTC-BTP-BTC hướng dẫn việc xét xử và thi hành án.

Về án phí dân sự có giá ngạch:

- Bị đơn – ông Trần Thanh Đ phải chịu án phí sơ thẩm là: 20.000.000đ + 4%(500.000.000đ – 400.000.000đ) = 24.000.000đ (Hai mươi bốn triệu đồng);

- Nguyên đơn – bà Nguyễn Thị Kim Q được hoàn trả tạm ứng án phí số tiền 6.000.000đ (Sáu triệu đồng) theo biên lai thu số 0001742 ngày 02/01/2018 của Chi cục Thi hành án dân sự thành phố Rạch Giá.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

- Căn cứ khoản 3 Điều 26, điểm a khoản 1 Điều 35, Điều 91, Điều 93, Điều 147, Điều 273 Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015;

- Áp dụng Điều 471, Điều 474 của Bộ luật dân sự năm 2005; Khoản 2 Điều 26, điểm A mục 1.4 Danh mục án phí, lệ phí Tòa án theo Nghị quyết số 326/2016/ UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy Ban Thường Vụ Quốc Hội;

Xử :

1. Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn – bà Nguyễn Thị Kim Q về việc “Tranh chấp hợp đồng vay tài sản” đối với bị đơn – ông Trần Thanh Đ.

2. Buộc bị đơn - ông Trần Thanh Đ phải có nghĩa vụ trả cho nguyên đơn – bà Nguyễn Thị Kim Q số tiền nợ gốc là 500.000.000đ (Năm trăm triệu đồng);

Kể từ ngày nguyên đơn có đơn yêu cầu thi hành án, nếu bị đơn không trả số tiền nợ nêu trên thì còn phải trả cho nguyên đơn khoản tiền lãi do chậm thực hiện nghĩa vụ trên số tiền cần phải thi hành án theo mức lãi suất quy định tại khoản 2 Điều 468 của Bộ luật Dân sự năm 2015 tương ứng với thời gian chưa thi hành án.

3. Án phí sơ thẩm:

- Bị đơn – ông Trần Thanh Đ phải chịu án phí sơ thẩm là 24.000.000đ (Hai mươi bốn triệu đồng);

- Nguyên đơn – bà Nguyễn Thị Kim Q được hoàn trả tạm ứng án phí số tiền là 6.000.000đ (Sáu triệu đồng) theo biên lai thu số 0001742 ngày 02/01/2018 của Chi cục Thi hành án dân sự thành phố Rạch Giá.

Các đương sự có quyền làm đơn kháng cáo trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án, đương sự vắng mặt tại phiên tòa hoặc không có mặt khi tuyên án mà có lý do chính đáng thì thời hạn kháng cáo tính từ ngày nhận được bản án hoặc được tống đạt hợp lệ.

Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án Dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7 và 9 Luật Thi hành án Dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật Thi hành án Dân sự.

Cỡ chữ