- Tranh chấp gì? Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình — án hôn nhân và gia đình — "Vũ Thị M xin ly hôn Tạ huy L"
- Tòa quyết gì? Căn cứ Điều 147, khoản 2 Điều 227, Điều 228 Bộ luật tố tụng dân sự;
- Căn cứ chính? Điều 147 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 227 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 228 Bộ luật Tố tụng dân sự
| TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN THUẬN THÀNH TỈNH BẮC NINH | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Bản án số: 15/2017/HNGĐ- ST Ngày: 28/9/2017 V/v: Tranh chấp Hôn nhân gia đình |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN THUẬN THÀNH
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên toà: Bà Nguyễn Thị Minh Thu.
Các Hội thẩm nhân dân: Ông Nguyễn Đình Quế; Bà Nguyễn Thị Sơn.
- Thư ký phiên toà: Ông Trần Văn Vu
- Đại diện Viê ên kiểm sát nhân dân huyện Thuận Thành tham gia phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Hằng - Kiểm sát viên.
Ngày 28 tháng 9 năm 2017 tại trụ sở Toà án nhân dân huyện Thuận xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số: 112/2017/TLST - HNGĐ ngày 11 tháng 7 năm 2017 về tranh chấp Hôn nhân gia đình theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 16/2017/QĐXX- ST ngày 30 tháng 8 năm 2017 giữa các đương sự:
Nguyên đơn: Chị Vu Thị M, sinh năm 1992.
Địa chỉ: Khu phố N 1, phường T, thị xã T, tỉnh B.
(Có mặt)
Bị đơn: Anh Tạ Huy L, sinh năm 1991.
Nơi ĐKHKTT: Thôn K, xã N, huyê ên T, tỉnh B.
Hiện đang cải tạo tại: Trại giam Vĩnh Quang (Địa chỉ: xã Đạo Trù, huyê ên Tam Đảo, tỉnh Vĩnh Phúc).
(Có đơn xin vắng mặt)
NỘI DUNG VỤ ÁN
Theo đơn khởi kiện và lời trình bày của các đương sự tại Toà án thì nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Chị Vu Thị M và anh Tạ Huy L kết hôn ngày14/6/2013, trước khi kết hôn anh chị có được tự do tìm hiểu và đăng ký tại UBND xã Nguyê êt Đức, huyện Thuận Thành, tỉnh Bắc Ninh. Sau khi kết hôn chị Minh, anh L về chung sống cùng nhau ngay.
Chị M trình bày: Vợ chồng chung sống hạnh phúc được khoảng hơn mô êt năm thì phát sinh mâu thuẫn. Nguyên nhân là do anh L mải chơi bời, cờ bạc thường xuyên chửi bới chị, hơn nữa do anh L không chịu làm ăn chân chính dẫn đến vi phạm pháp luâ êt. Năm 2016 anh L bị Tòa án nhân dân huyê ên Gia Lâm, thành phố Hà Nô êi và Tòa án nhân dân huyê ên Tiên Du, tỉnh Bắc Ninh xử phạt về tô êi Trô êm cắp tài sản với mức hình phạt tổng cô êng khoảng 5 năm tù giam. Hiê ên nay anh L đang thi hành án phạt tù tại Trại giam Vĩnh Quang, tỉnh Vĩnh Phúc. Nay chị xác định tình cảm giữa chị và anh L không còn, không thể tiếp tục chung sống cùng nhau được nữa nên chị đề nghị Toà án giải quyết cho chị được ly hôn với anh L.
Về con chung: Quá trình chung sống giữa chị và anh L có mô êt con chung là Tạ Thị Trà M1, sinh ngày 27/11/2013, hiê ên nay đang ở cùng chị. Nếu vợ chồng ly hôn chị đề nghị Toà án giao cho chị chăm sóc và nuôi dưỡng cháu My, chị không yêu cầu anh L phải cấp dưỡng nuôi con.
Về tài sản chung và công nợ: Chị xác nhâ ên giữa chị và anh L không có nên chị không yêu cầu Toà án giải quyết.
Phía bị đơn là anh Tạ Huy L có đơn xin xét xử vắng mă êt. Tại bản tự khai anh trình bày: Anh xác nhận một phần lời khai của chị Minh về thời gian, điều kiện, hoàn cảnh kết hôn và về con chung. Anh xác nhâ ên từ ngày 21/9/2016 đến nay anh đang chấp hành án phạt tù về tô êi Trô êm cắp tài sản tạiTrại giam Vĩnh Quang, tỉnh Vĩnh Phúc. Trong thời gian này giữa anh và Chị M không liên lạc gì với nhau. Nay chị Minh xin ly hôn anh không nhất trí vì tình cảm vợ chồng vẫn còn. Tuy nhiên nếu Chị M vẫn kiên quyết ly hôn thì anh đồng ý.
Về con chung: Quá trình chung sống giữa anh và Chị M có mô êt con chung như Chị M trình bày là đúng, hiê ên nay cháu đang ở cùng Chị M. Nếu vợ chồng ly hôn do hiê ên nay anh đang phải đi cải tạo nên không có điều kiê ên chăm sóc con vì vâ êy anh đồng ý để Chị M nuôi con.
Về tài sản chung, công nợ: Không có.
Trong quá trình giải quyết vụ án do anh L đang phải chấp hành hình phạt tù nên có đơn xin giải quyết vắng mă êt. Do vâ êy Tòa án không thể tiến hành mở phiên họp giao nô êp tiếp câ ên công khai và hòa giải mà giải quyết vụ án vắng mă êt anh L theo quy định của pháp luâ êt.
Tại phiên toà hôm nay chị Minh vẫn giữ nguyên yêu cầu xin được ly hôn với anh L và đề nghị Toà án giao con chung cho chị được nuôi dưỡng và chăm sóc, chị không yêu cầu anh L cấp dưỡng nuôi con.
Tại phiên toà hôm nay Kiểm sát viên phát biểu và kết luận về việc tuân theo pháp luật tố tụng trong quá trình giải quyết vụ án của Thẩm phán, Hội đồng xét xử, Thư ký phiên toà, nguyên đơn, bị đơn là đảm bảo theo đúng quy định của pháp luật. Về việc giải quyết vụ án: Đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng Điều 147, khoản 2 Điều 227, Điều 228 Bộ luật tố tụng dân sự; Điều 56, 81, 82, 83 Luật hôn nhân gia đình; Nghị quyết 326 ngày 30/12/2016 của UBTVQH: Xử
Về quan hệ hôn nhân: Chị Vu Thị M được ly hôn anh Tạ Huy L.
Về con chung: Giao cháu Tạ Thị Trà M1, sinh ngày 27/11/2013 cho Chị M chăm sóc và nuôi dưỡng.
Viê êc cấp dưỡng nuôi con không đă êt ra giải quyết.
Về tài sản chung và công nợ: Không đặt ra xem xét giải quyết.
Về án phí: Chị Minh phải chịu tiền án phí ly hôn sơ thẩm theo quy định của pháp luật.
NHẬN ĐỊNH CỦA TOÀ ÁN
Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phiên toà. Căn cứ vào kết quả tranh luận tại phiên toà. Sau khi nghe ý kiến đại diện Viện kiểm sát về việc tuân theo pháp luật tố tụng dân sự và ý kiến về việc giải quyết vụ án. Hội đồng xét xử nhận định:
Chị Vu Thị M và anh Tạ Huy L kết hôn ngày 14/6/2013, trước khi kết hôn anh chị có được tự do tìm hiểu và đăng ký tại UBND xã Nguyê êt Đức, huyện Thuận Thành, tỉnh Bắc Ninh, xét thấy đây là hôn nhân hợp pháp vì tuân thủ đầy đủ các quy định của pháp luật về kết hôn.
Xét yêu cầu xin ly hôn của chị Vu Thị M, Hội đồng xét xử nhận thấy: Mâu thuẫn vợ chồng giữa Chị M và anh L là có thật và nguyên nhân chủ yếu là từ thời gian nay anh L đang chấp hành án phạt tù tại Trại giam Vĩnh Quang, tỉnh Vĩnh Phúc đến nay giữa anh và Chị M không liên lạc và quan tâm gì đến với nhau. Nay chị Minh xin ly hôn anh L, phía anh L mă êc dù xác định tình cảm vợ chồng vẫn còn nhưng Chị M vẫn kiên quyết xin ly hôn thì anh cung đồng ý. Hội đồng xét xử nhâ ên thấy mâu thuẫn vợ chồng giữa chị Minh và anh L đã đến mức trầm trọng, đời sống chung không thể kéo dài, mục đích của hôn nhân không đạt được. Nên căn cứ Điều 56 Luâ êt hôn nhân gia đình xử cho chị Minh được ly hôn với anh Lợi.
Về con chung: Trong thời gian chung sống Chị M, anh Lợi có mô êt con chung là Tạ Thị Trà M1, sinh ngày 27/11/2013 hiện cháu đang ở với chị Minh, khi ly hôn chị Minh yêu cầu được nuôi cháu My và không yêu cầu anh L phải cấp dưỡng nuôi con chung. Phía anh L cung nhất trí với yêu cầu này của chị Minh nên HĐXX chấp nhâ ên sự tự nguyện này của các bên và giao cho chị Minh tiếp tục chăm sóc, nuôi dưỡng cháu Trà My.
Việc cấp dưỡng nuôi con chung: Do Chị M không yêu cầu nên không đặt ra xem xét giải quyết.
Về tài sản chung, công nợ: Các bên đương sự đều xác nhâ ên không có.
Về án phí: Chị M phải chịu 300.000đ án phí Ly hôn sơ thẩm.
Vì các lẽ trên;
QUYẾT ĐỊNH
Căn cứ Điều 147, khoản 2 Điều 227, Điều 228 Bộ luật tố tụng dân sự;
Căn cứ Điều 56, 81, 82, 83 Luật hôn nhân gia đình;
Căn cứ Nghị quyết 326 ngày 30/12/2016 của UBTVQH xử:
1. Về quan hệ hôn nhân: Chị Vu Thị M được ly hôn anh Tạ Huy L.
2.Về con chung: Giao cháu Tạ Thị Trà M1, sinh ngày 27/11/2013 cho chị Vu Thị M chăm sóc nuôi dưỡng.
Về cấp dưỡng nuôi con không đă êt ra giải quyết.
Sau ly hôn các đương sự có quyền, nghĩa vụ thăm nom con chung mà không ai được cản trở.
3.Về án phí: Chị Vu Thị M phải chịu 300.000đ (Ba trăm nghìn đồng) án phí ly hôn sơ thẩm.(Xác nhận Chị M đã nộp 300.000đ tạm ứng án phí tại biên lai thu tiền tạm ứng án phí số AA/2012/00844 ngày 11/7/2017 của Chi cục thi hành án dân sự huyện Thuận Thành).
Nguyên đơn có mặt được quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án.
Bị đơn vắng mặt được quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày kể từ ngày nhâ ên được tống đạt bản án.
| Nơi nhận: - TAND tỉnh Bắc Ninh; - VKSND huyện Thuận Thành; - THADS huyện Thuận Thành; - Các đương sự. - Lưu hồ sơ. | TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà (Đã ký) Nguyễn Thị Minh Thu |