- Tranh chấp gì? Vụ án ly hôn do nghiện ma tuý, rượu chè, cờ bạc — án hôn nhân và gia đình — "Ninh Thị Sen - Nguyễn Văn K"
- Tòa quyết gì? Điểm a khoản 1 Điều 35; Điểm a khoản 1 Điều 39; Khoản 4 Điều 147; Điều 227; Điều 271; Khoản 1 Điều 273 Bộ luật tố tụng dân sự.
- Căn cứ chính? Điều 82 Luật Hôn nhân và gia đình; Điều 147 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 227 Bộ luật Tố tụng dân sự
| TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN VỊ XUYÊN TỈNH HÀ GIANG ————— | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Bản án số: 15/2017/HNGĐ-ST Ngày 14-9-2017 V/v Ly hôn và tranh chấp nuôi con |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN VỊ XUYÊN, TỈNH HÀ GIANG
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa: Ông Lâm Anh Luyện.
Các Hội thẩm nhân dân:
1. Bà Trần Thị Hoài.
2. Bà Nông Thị Thúy.
- Thư ký phiên tòa: Ông Nguyễn Việt Cường – Thư ký Tòa án nhân dân huyện Vị Xuyên, tỉnh Hà Giang.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Vị Xuyên tham gia phiên tòa: Ông Nguyễn Hồng Quân – Kiểm sát viên.
Ngày 14 tháng 9 năm 2017 tại Trụ sở Tòa án nhân dân huyện C, tỉnh D xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số: 61/2017/TLST-HNGĐ ngày 20 tháng 6 năm 2017 về việc "Ly hôn và tranh chấp nuôi con" theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 1222/2017/QĐXXST-HNGĐ ngày 28 tháng 8 năm 2017 giữa các đương sự:
1. Nguyên đơn: Chị Ninh Thị S – Sinh năm: 1981.
Nghề nghiệp: Làm ruộng; Dân tộc: Kinh.
Nơi ĐKHKTT: Tổ A, thị trấn B, huyện C, tỉnh D.
Địa chỉ: Thôn E, xã G, huyện H, tỉnh L.
Hôm nay vắng mặt (Có đơn xin giải quyết vắng mặt).
2. Bị đơn: Anh Nguyễn Văn K – Sinh năm: 1982.
Nghề nghiệp: Làm ruộng; Dân tộc: Kinh.
Địa chỉ: Tổ A, thị trấn B, huyện C, tỉnh D.
Hôm nay vắng mặt (Đã được triệu tập hợp lệ 02 lần).
\
NỘI DUNG VỤ ÁN
Trong đơn khởi kiện ngày 20-6-2017 của nguyên đơn và các lời khai tại Tòa án là chị Ninh Thị S trình bày: Chị và anh K trước khi kết hôn có được tìm hiểu nhau và có đăng ký kết hôn ngày 29 tháng 02 năm 2012 tại Ủy ban nhân dân thị trấn B, huyện C, tỉnh D. Sau khi kết hôn, chị và anh K chung sống hạnh phúc với nhau được khoảng 01 năm thì phát sinh mâu thuẫn. Đến năm 2013, thì chị và anh K phát sinh mâu thuẫn. Lý do mâu thuẫn là do cuộc sống gia đình có nhiều điều bất đồng trong làm ăn kinh tế, cuộc sống không hòa thuận, thường xuyên xảy ra cãi vã, anh K thường xuyên đánh đập chị. Chị và anh K đã sống ly thân với nhau từ tháng 6-2013 cho đến nay. Chị S xét thấy tình cảm của vợ, chồng không còn, mâu thuẫn đã đến mức trầm trọng, không thể khắc phục nữa nên có quan điểm yêu cầu Tòa án giải quyết cho chị S ly hôn với anh K để mỗi người có một cuộc sống riêng.
Về con chung: Trong quá trình chung sống, chị S và anh K có một con chung:
Cháu Nguyễn Trọng B – Sinh ngày: 01/5/2012.
Hiện tại, cháu B đang ở với chị S. Chị S có nguyện vọng sau khi ly hôn, chị sẽ nhận trực tiếp trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục cháu B đến khi cháu Btrưởng thành, đủ 18 tuổi. Chị S không yêu cầu anh K phải cấp dưỡng nuôi cháu B.
Về tài sản chung và công nợ: Không yêu cầu Toà án giải quyết.
Toà án đã tiến hành thụ lý vụ án và tiến hành các bước theo quy định của Bộ luật tố tụng dân sự. Tòa án đã triệu tập hợp lệ đối với anh Nguyễn Văn K nhiều lần nhưng anh K không đến Tòa án để làm việc. Ngày 21-6-2017, Tòa án đã tiến hành xác minh tại địa phương đối với bà Trần Thị N – Tổ trưởng Tổ A, thị trấn B, huyện C, tỉnh D. Qua xác minh cho thấy, anh Nguyễn Văn K đã nhận được đầy đủ các văn bản tố tụng của Tòa án và hiện tại vẫn đang có mặt tại địa phương. Mâu thuẫn gia đình chị S và anh K là do anh K lười lao động, không chịu làm ăn, thường xuyên đi uống rượu chè về đánh đập, đuổi vợ con ra khỏi nhà. Tòa án không tiến hành phiên họp kiểm tra việc giao nộp, tiếp cận, công khai chứng cứ và hòa giải được vì các đương sự vắng mặt (Đã được triệu tập hợp lệ 02 lần). Tòa án đưa vụ án ra xét xử.
Tại phiên tòa ngày hôm nay: Chị Ninh Thị S có đơn xin giải quyết vắng mặt ngày 05-6-2017. Chủ tọa phiên tòa thay mặt Hội đồng xét xử công bố toàn bộ nội dung đơn khởi kiện, bản tự khai, biên bản ghi lời khai, đơn xin giải quyết vắng mặt của chị Ninh Thị S và các tài liệu kèm theo. Chị S vẫn giữ nguyên yêu cầu khởi kiện là xin ly hôn với anh K.
Về phần con chung: Chị Ninh Thị S vẫn giữ nguyên yêu cầu và đề nghị Tòa án giao cháu Nguyễn Trọng B cho chị trực tiếp trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục đến khi cháu B trưởng thành, đủ 18 tuổi. Chị S không yêu cầu anh K cấp dưỡng nuôi cháu B.
Về tài sản chung và công nợ: Chị S không yêu cầu Tòa án giải quyết.
Tại phiên tòa ngày hôm nay: Anh Nguyễn Văn K vắng mặt không có lý do (Đã được Tòa án triệu tập hợp lệ 02 lần). Chủ tọa công bố đơn của anh K viết ngày 27-6-2017.
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện C phát biểu quan điểm về việc tuân theo pháp luật tố tụng trong quá trình giải quyết vụ án của Thẩm phán, Hội đồng xét xử, Thư ký là đúng quy định của pháp luật. Việc chấp hành pháp luật của đương sự kể từ khi thụ lý vụ án đến trước thời điểm Hội đồng xét xử nghị án không có gì sai phạm.
Ý kiến quan điểm của Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện C về việc giải quyết vụ án:
1. Chấp nhận yêu cầu khởi kiện về việc Ly hôn và tranh chấp nuôi con của chị Ninh Thị S đối với anh Nguyễn Văn K.
2. Về quan hệ hôn nhân: Xử chị Ninh Thị S và anh Nguyễn Văn K ly hôn.
3. Về con chung: Giao cháu Nguyễn Trọng B – Sinh ngày: 01/5/2012 cho chị Ninh Thị S – Địa chỉ: Thôn E, xã G, huyện H, tỉnh L trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục đến khi cháu Nguyễn Trọng B trưởng thành, đủ 18 tuổi kể từ ngày 14-9-2017.
Anh Nguyễn Văn K không phải cấp dưỡng nuôi cháu B và có quyền thăm nom con sau khi ly hôn.
4. Về án phí, quyền kháng cáo theo quy định.
Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phiên tòa và sau khi nghe đương sự trình bày tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định:
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Về tố tụng dân sự: Chị Ninh Thị S có đơn đề nghị Tòa án nhân dân huyện C giải quyết việc hôn nhân của chị và anh K. Theo quy định tại Điểm a khoản 1 Điều 35; Điểm a khoản 1 Điều 39 của Bộ luật tố tụng dân sự thì vụ án thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân huyện C, tỉnh D. Tòa án đã tiến hành lấy lời khai và tiến hành các thủ tục tố tụng theo quy định của pháp luật. Tòa án tiến hành đưa vụ án ra xét xử.
Về quan hệ hôn nhân: Chị Ninh Thị S và anh Nguyễn Văn K xác lập quan hệ vợ chồng với nhau theo đúng các quy định của pháp luật về điều kiện kết hôn và có đăng ký kết hôn ngày 29-02-2012 tại Ủy ban nhân dân thị trấn B, huyện C, tỉnh D nên đây là hôn nhân hợp pháp. Sau khi về chung sống với nhau, vợ chồng chung sống hạnh phúc được khoảng 01 năm thì phát sinh mâu thuẫn. Lý do mâu thuẫn là do vợ, chồng có nhiều quan điểm bất đồng, trái ngược nhau trong công việc làm ăn kinh tế, cuộc sống không hòa thuận, thường xuyên xảy ra cãi vã nhau. Anh K lười lao động, không chịu làm ăn, thường xuyên đi uống rượu chè về đánh đập, đuổi vợ con ra khỏi nhà. Chị S và anh K đã sống ly thân với nhau từ tháng 6-2013 cho đến nay. Mục đích hôn nhân không đạt được nên chị S có đơn xin ly hôn với anh K. Tòa án nhận thấy về tình trạng hôn nhân giữa chị S và anh K cuộc sống chung không hoà hợp, anh K lười lao động, không chịu làm ăn, thường xuyên đi uống rượu chè về đánh đập, đuổi vợ con ra khỏi nhà, mục đích hôn nhân không đạt được. Nên cần chấp nhận yêu cầu xin ly hôn của chị S đối với anh K là phù hợp.
Về con chung: Chị S có quan điểm đề nghị Tòa án giao cháu Nguyễn Trọng B – Sinh ngày: 01/5/2012 cho chị S nhận trực tiếp trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục cháu B đến khi cháu B trưởng thành, đủ 18 tuổi. Chị S không yêu cầu anh K cấp dưỡng nuôi cháu B.
Tòa án xét thấy nguyện vọng của chị S là phù hợp, để đảm bảo được cuộc sống và điều kiện ăn học cho cháu B cần phải giao cháu Nguyễn Trọng B cho chị Ninh Thị S trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục đến khi cháu Nguyễn Trọng B trưởng thành, đủ 18 tuổi kể từ ngày 14-9-2017.
Chị S không yêu cầu anh K phải cấp dưỡng nuôi cháu B. Anh K có quyền thăm nom con sau khi ly hôn.
Theo quy định tại khoản 1 Điều 81; khoản 1, khoản 3 Điều 82; khoản 2 Điều 83 Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014.
Về tài sản, công nợ: Chị S và anh K không yêu cầu giải quyết nên Tòa án không xem xét giải quyết.
Về án phí: Chị Ninh Thị S là nguyên đơn nên phải chịu án phí ly hôn sơ thẩm theo quy định của pháp luật.
Quyền kháng cáo: Chị Ninh Thị S và anh Nguyễn Văn K được quyền kháng cáo bản án theo quy định của pháp luật.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ vào:
- Khoản 1 Điều 51; Khoản 1 Điều 56; Khoản 1 Điều 81; Khoản 1, khoản 3 Điều 82; Khoản 2 Điểu 83 Luật hôn nhân và gia đình năm 2014;
- Điểm a khoản 1 Điều 35; Điểm a khoản 1 Điều 39; Khoản 4 Điều 147; Điều 227; Điều 271; Khoản 1 Điều 273 Bộ luật tố tụng dân sự.
- Điểm a khoản 1 Điều 24; Điểm a khoản 5 Điều 27 Nghị quyết số: 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 “Quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án”.
Xử:
1. Chấp nhận yêu cầu khởi kiện về việc Ly hôn và tranh chấp nuôi con của chị Ninh Thị S đối với anh Nguyễn Văn K.
2. Về quan hệ hôn nhân: Xử chị Ninh Thị S và anh Nguyễn Văn K ly hôn.
3. Về con chung: Giao cháu Nguyễn Trọng B – Sinh ngày: 01/5/2012 cho chị Ninh Thị S – Địa chỉ: Thôn E, xã G, huyện H, tỉnh L trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục đến khi cháu Nguyễn Trọng B trưởng thành, đủ 18 tuổi kể từ ngày 14-9-2017.
Anh Nguyễn Văn K không phải cấp dưỡng nuôi cháu B và có quyền thăm nom con sau khi ly hôn.
4. Về án phí: Chị Ninh Thị S phải chịu 300.000đ án phí dân sự sơ thẩm ly hôn nhưng được trừ vào số tiền tạm ứng án phí sơ thẩm đã nộp là 300.000đ theo biên lai số 01818 ngày 20 tháng 6 năm 2017 của Chi cục Thi hành án dân sự huyện C, tỉnh D (Chị S đã nộp đủ tiền án phí).
5. Quyền kháng cáo: Báo cho chị Ninh Thị S và anh Nguyễn Văn K có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết.
Trong trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, Điều 7; Điều 7a; Điều 7b và Điều 9 Luật thi hành án dân sự, thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật thi hành án dân sự./.
| Nơi nhận: - Các đương sự; - - VKSND huyện C; - TAND tỉnh; - UBND thị trấn B; - Chi cục Thi hành án dân sự; - Lưu hồ sơ vụ án, lưu vp. Bản án gốc thông qua tại phòng nghị án những nội dung đã thảo luận, các thành viên hội đồng xét xử nhất trí ký tên. Thành viên hội đồng xét xử | TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA (Đã ký) Lâm Anh Luyện Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa |