vanban.org

Bản án 15/2017/DS-ST — Đòi bồi thường thiệt hại ngoài hợp đồng về sức khỏe, tính mạng

Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

147 Bộ luật tố tụng dân sự 2015; Nghị quyết 326 UBTVQH 14, ngày 30-12-2016

c ủa Ủy ban thường vụ Quốc hội về án phí lệ phí Tòa án. Tuyên xử: Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của bà Đỗ Thị Kim H đối với ông Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? Đòi bồi thường thiệt hại ngoài hợp đồng về sức khỏe, tính mạng — án dân sự — "Tranh chấp bồi thường thiệt hại ngoài hợp đồng"
  • Tòa quyết gì? 147 Bộ luật tố tụng dân sự 2015; Nghị quyết 326 UBTVQH 14, ngày 30-12-2016
  • Căn cứ chính? Điều 147 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 232 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 590 Bộ luật Dân sự

TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN N

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Số: 15/2017/DS-ST

Ngày: 21/08/2017

HUYỆN N Độc lập – Tự do – Hạnh phúc V/v tranh chấp: "Bồi thường thiệt hại do sức khỏe bị xâm phạm".

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ H ỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN N

Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩ m gồm có: Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Đoàn Sửu Các Hội thẩm nhân dân: Ông Phạm Ngọc Minh Ông Lê Quang Chính Thư ký tòa án ghi biên bản phiên tòa: Ông Trương Quen - cán bộ Tòa án n hân d ân huyện N Ngày 21 tháng 8 năm 2017 tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện N xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số 54/2017/TLST-DS ngày 25 tháng 7 năm 2017, về việc tranh chấp “Bồi thường thiệt hại do sức khỏe bị xâm phạm” theo Quyết định đưa v ụ án r a xét xử số 19/2017/QĐST- DS, ngày 31-7-2017 giữa các đương sự: Nguyên đơn: Bà Đỗ Thị Kim H, sinh năm: 1966. Địa chỉ: Thôn N, xã P, huyện N, tỉnh N (có mặt) Bị đơn: Ông Trương Văn T, sinh năm: 1970. Địa chỉ: Thôn N, xã P, huyện N, tỉnh N (có mặt)

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Tại đơn khởi kiện, biên bản ghi lời khai và tại phiên tòa hôm nay bà Đỗ Thị Kim H trình bày: Vào ngày 9-4-2017 bà với ông Trương Văn T có xảy ra cải vã, xô xát nhau; ông T túm tóc bà đánh nhiều cái vào bả vai và nhiều chổ trên thân thể bà gây thương tích bà phải nhập viện vào ngày 9-4-2017 cho đến ngày 13-4-2017 bà xuất viện. Qua sự việc trên bà H có yêu cầu Ban quản lý nhân dân thôn N giải quyết, công an xã P giải quyết thương lượng bồi thường thương tích cho bà; nhưng ông T không đồng ý bồi thường; nay bà yêu cầu Tòa án giải quyết buộc ông T bồi thường cho bà các khoản cụ thể sau: Chi phí điều trị ngoại khoa số tiền 1.430.233đ; tiền thuốc ngày 13-4-21017 số tiền 417.770đ; tiền thuốc ngày 18-4-2017 số tiền 372.362đ; chi phí khám chữa bệnh ngoại trú số tiền 100.000đ; chi phí chữa bệnh

nội trú số tiền 15.000đ; tiền công lao động 200.000đ/1 ngày x 2 người x 5 ngày = 2.000.000đ; chi phí đi lại 100.000đ/1 lượt x 4 lượt = 400.000đ; chi phí ăn uống 50.000đ/1 ngày x 2 người x 5 ngày = 500.000đ; tổn thất về tinh thần 3.000.000đ . Tổng cộng: 8.235.365đ. Theo Trương Văn T là bị đơn trình bày: vào ngày nào ông không nhớ, ông nhớ khoảng tháng 4-2017 do bà H nhổ cỏ và cây bắp con của nhà ông nên hai bên có xảy ra cải vã, xô xát nhau ông có quơ tay đánh trúng bà H và ông thừa nhận khi xảy ra xô xát chỉ có ông với bà H chứ không có người nào khác tham gia việc xô xát và ông thừa nhận thương tích của bà H là do ông gây nên; nhưng ông cho rằng thương tích ông gây nên cho bà H chỉ là thương tích nhẹ chứ không có trọng thương như bà H khai; nên ông không đồng ý bồi thường theo yêu cầu của bà H. Nay ông yêu cầu Tòa án xem xét giải quyết theo pháp luật.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Về quan hệ tranh chấp: Hội đồng xét xử xét thấy tranh chấp trong vụ kiện này là tranh chấp "bồi thường thiệt hại do sức khỏe bị xâm phạm". Nội dung pháp luật áp dụng: Điều 590 Bộ luật dân sự 2015; Bộ luật tố tụng dân sự 2015. Về tố tụng: Tòa án nhân dân huyện N có gởi Quyết định đưa vụ án ra xét xử cho Viện kiểm sát nhân dân N biết; tại phiên tòa đại diện Viện kiểm sát không có mặt; căn cứ khoản 1 Điều 232 Bộ luật tố tụng dân sự 2015 Tòa án đưa ra xét xử theo luật định. Tại phiên tòa bà Đỗ Thị Kim H khẳng định vào ngày 9-4-2017 bà với ông Trương Văn T có xảy ra cải vã, xô xát nhau; ông T túm tóc bà đánh nhiều cái vào bả vai và nhiều chổ trên thân thể bà gây thương tích bà phải nhập viện vào ngày 9- 4-2017 cho đến ngày 13-4-2017 bà xuất viện; nay bà yêu cầu ông T bồi thường cho bà các khoản cụ thể sau: Chi phí điều trị ngoại khoa số tiền 1.430.233đ; tiền thuốc ngày 13-4-21017 số tiền 417.770đ; tiền thuốc ngày 18-4-2017 số tiền 372.362đ; chi phí khám chữa bệnh ngoại trú số tiền 100.000đ; chi phí chữa bệnh nội trú số tiền 15.000đ; tiền công lao động 200.000đ/1 ngày x 2 người x 5 ngày = 2.000.000đ; chi phí đi lại 100.000đ/1 lượt x 4 lượt = 400.000đ; chi phí ăn uống 50.000đ/1 ngày x 2 người x 5 ngày = 500.000đ; tổn thất về tinh thần 3.000.000đ . Tổng cộng: 8.235.365đ. Ông Trương Văn T thừa nhận giữa ông với bà H có xảy ra cải vã, xô xát với nhau ông có quơ tay đánh trúng bà H và ông thừa nhận khi xảy ra xô xát chỉ có ông với bà H chứ không có người nào khác tham gia trong việc xô xát và ông T thừa nhận thương tích của bà H là ông gây nên; nhưng ông cho rằng thương tích ông gây nên cho bà H chỉ là thương tích nhẹ chứ không có trọng thương như bà H khai; nên ông không đồng ý bồi thường theo yêu cầu của bà H và ông yêu cầu Tòa án giải quyết theo pháp luật.

Mặc dù toàn bộ thương tích trên thân thể của bà H ông T không thừa nhận, nhưng ông T đã thừa nhận việc xảy ra ấu đã, xô xát nhau chỉ có ông với bà H chứ không có một người nào khác tham gia, khi bà H xảy ra thương tích bà H đã nhập viện trong ngày 9-4-2017 và xuất viện ngày 13-4-2017, hơn nữa ông T không chứng minh được thương tích của bà H là do một người nào khác gây nên; theo giấy chứng thương số: 1700539 - GCT/CN của bệnh viện tỉnh N cho biết thương tích của bà Đỗ Thị Kim H như sau: chấn thương đầu mặt + đa vết thương xay xát, sưng nề mí mắt phải 03 x 04cm, xây xát da cẳng tay phải dài 03 cm, xây xát da cẳng chân phải dài 07 cm, sưng nề vai trái 02 x 03cm. Vì vậy đủ cơ sở chứng minh toàn bộ thương tích trên thân thể của bà Đỗ Thị Kim H là do ông Trương Văn T gây nên và buộc ông Trương Văn T phải bồi thường chi phí hợp lệ cho bà Đỗ Thị Kim H theo qui định pháp luật, cụ thể các khoản sau: Tàu xe nhập viện ngày 9-4-2017: 50.000đ; tàu xe xuất viện 13-4-2017: 50.000đ; chi phí điều trị ngoại khoa chấn thương ngày 13-4-2017: 1.430.233đ; hóa đơn thuốc ngày 13-4-2017: 471.770đ; tàu xe tái khám vòng đi 18-4-2017: 50.000đ; tàu xe tái khám vòng về ngày 18-4-2017: 50.000đ; hóa đơn thuốc ngày 18/4/2017: 372.362đ; chi phí chữa trị ngoại trú 18-4-2017: 115.000đ; tiền công lao động người bệnh: 01 người x 5 ngày x 100.000đ = 500.000đ; tiền công lao động người nuôi bệnh: 01 người x 5 ngày x 100.000đ = 500.000đ. Tổng cộng: 3.589.365 đồng (ba triệu, năm trăm tám mươi chín ngàn, ba trăm sáu mươi lăm đồng); còn các khoản khác bà H yêu cầu chưa phù hợp theo pháp luật nên Hội đồng xét xử không xem xét. Về án phí: Buộc ông Trương Văn T phải chịu 300.000 đồng án phí dân sự sơ t hẩm. Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH

Căn cứ Điều 590 Bộ luật dân sự năm 2015, khoản 1 Điều 232, khoản 1 Điều 147 Bộ luật tố tụng dân sự 2015; Nghị quyết 326 UBTVQH 14, ngày 30-12-2016 c ủa Ủy ban thường vụ Quốc hội về án phí lệ phí Tòa án. Tuyên xử: Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của bà Đỗ Thị Kim H đối với ông Trương Văn T về yêu cầu ông Trương Văn T phải bồi thường thương tích cho bà. Buộc ông Trương Văn T phải bồi thường cho bà Đỗ Thị Kim H số tiền 3.589.365 đồng (ba triệu, năm trăm tám mươi chín ngàn, ba trăm sáu mươi lăm đồng chẳn). Kể từ ngày có đơn yêu cầu thi hành án của người được thi hành án (đối với các khoản tiền phải trả cho người được thi hành án) cho đến khi thi hành án xong tất cả các khoản tiền, hàng tháng bên phải thi hành án phải chịu khoản tiền lăi của số tiền còn phải thi hành án theo mức lãi suất quy định tại khoản 2 Điều 468 Bộ luật dân sự năm 2015. Về án phí: Buộc ông Trương Văn T chịu 300.000 đồng án phí dân sự sơ thẩm.

Án xử công khai sơ thẩm có mặt nguyên đơn, bị đơn. Báo cho biết quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày, kể từ ngày tuyên án. "...trong trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7 và 9 Luật thi hành án dân sự, thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật thi hành án dân sự".

Cỡ chữ