- Tranh chấp gì? Tranh chấp về xác định cha, mẹ cho con hoặc con cho cha mẹ — án hôn nhân và gia đình — "Tranh chấp xác nhận cha cho con"
- Tòa quyết gì? Xử: Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của chị Vũ Thị T.
- Căn cứ chính? Điều 227 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 101 Luật Hôn nhân và gia đình; Điều 102 Luật Hôn nhân và gia đình
| TOÀ ÁN NHÂN DÂN KHU VỰC 2 - HẢI PHÒNG | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Bản án số: 149/HNGĐ-ST Ngày 30-7-2026 V/v tranh chấp xác định cha cho con |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TOÀ ÁN NHÂN DÂN KHU VỰC 2 - HẢI PHÒNG
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà: Ông Khúc Trọng Quang
Các Hội thẩm nhân dân:
Bà Phạm Thị Vĩnh
Bà Trương Thị An
- Thư ký phiên toà: Bà Đinh Thị Hồng Phương - Thư ký Toà án nhân dân khu vực 2 - Hải Phòng.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân khu vực 2 - Hải Phòng tham gia phiên tòa: Bà Nguyễn Thùy Chi - Kiểm sát viên.
Ngày 30 tháng 7 năm 2026, tại trụ sở Toà án nhân dân khu vực 2 - Hải Phòng xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số 166/TLST-HNGĐ ngày 01 tháng 4 năm 2026 về việc "Tranh chấp xác nhận cha cho con", theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 140/2026/QĐXXST- HNGĐ ngày 13 tháng 7 năm 2026, giữa các đương sự:
- Nguyên đơn: Chị Vũ Thị T, sinh ngày 26/6/1989; căn cước công dân số xxxxxxxxxxxx; Địa chỉ nơi cư trú: Tổ dân phố Đ, phường A, thành phố Hải Phòng; vắng mặt (có đơn đề nghị xét xử vắng mặt).
- Bị đơn: Anh Phạm Văn P, sinh ngày 16/4/1984; căn cước công dân số: xxxxxxxxxxxx; địa chỉ cư trú: Tổ dân phố Đ, phường A, thành phố Hải Phòng; vắng mặt (có đơn đề nghị xét xử vắng mặt).
- Người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan: Anh Hoàng Văn T1, sinh ngày 21/8/1990; căn cước công dân số: xxxxxxxxxxxx; địa chỉ nơi cư trú: Thôn Đ, xã A, thành phố Hải Phòng, vắng mặt (có ý kiến đề nghị xét xử vắng mặt).
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Trong đơn khởi kiện và quá trình tham gia tố tụng tại Tòa án, nguyên đơn là chị Vũ Thị T trình bày: Chị và anh Hoàng Văn T1 trước đây là quan hệ vợ chồng hợp pháp. Do mâu thuẫn vợ chồng nên chị và anh Hoàng Văn T1 sống ly thân từ cuối năm 2018. Trong thời gian sống ly thân, chị T có tình cảm và phát sinh quan hệ với anh Phạm Văn P và mang thai. Đến ngày 24 tháng 12 năm 2019, chị sinh một bé gái dự định đặt tên là Phạm Thị Diệu L tại bệnh viện K, Hải Phòng. Chị T và anh P sống chung với nhau như vợ chồng từ thời gian đó. Sau đó đến ngày 26 tháng 7 năm 2021, chị sinh thêm một bé trai dự kiến đặt tên là Phạm Văn Nam P1 tại Bệnh viện K, Hải Phòng. Cả hai cháu dự định đặt tên Phạm Thị Diệu L và Phạm Văn Nam P1 đều là con chung giữa chị T và anh P.
Năm 2022, chị T và anh Hoàng Văn T1 đã làm thủ tục ly hôn tại Tòa án nhân dân huyện An Lão, thành phố Hải Phòng. Tòa án giải quyết cho ly hôn theo Quyết định công nhận thuận tình ly hôn và sự thỏa thuận của các bên tham gia hòa giải tại Tòa án số 83/2022/QĐCNTTLH ngày 23/6/2022. Tại phần Quyết định: "Về con chung: Chị Vũ Thị T và anh Hoàng Văn T1 không có con chung, không yêu cầu Tòa án giải quyết".
Anh Phạm Văn P và cháu Phạm Thị Diệu L, Phạm Văn Nam P1 đã đề nghị xét nghiệm ADN để xác nhận huyết thống cha con. Tại kết quả xét nghiệm AND của Công ty TNHH C có kết quả cụ thể:
- Kết quả xét nghiệm ADN số 6018H/2024/01 ngày 06/7/2024, thể hiện "anh Phạm Văn P có quan hệ huyết thống cha - con với Phạm Thị Diệu L".
- Kết quả xét nghiệm ADN số: 6018H/2024/02 ngày 06/7/2024 thể hiện "anh Phạm Văn P có quan hệ huyết thống cha - con với Phạm Văn Nam P1"
Nay chị T làm đơn đề nghị Tòa án nhân dân khu vực 2 - Hải Phòng giải quyết:
- Xác định anh Phạm Văn P là cha đẻ của cháu dự định đặt tên là Phạm Thị Diệu L, sinh ngày 24 tháng 12 năm 2019 (theo Giấy chứng sinh số 97, quyển số 37 của Bệnh viện K, thành phố Hải Phòng ngày 24/12/2019) do chị sinh ra.
- Xác định anh Phạm Văn P là cha đẻ của cháu dự định đặt tên là Phạm Văn Nam P1, sinh ngày 26 tháng 7 năm 2021 (theo Giấy chứng sinh số 78, quyển số 27 của Bệnh viện K, thành phố Hải Phòng ngày 26/7/2021) do chị sinh ra.
Theo bản tự khai của bị đơn là anh Phạm Văn P trình bày: Anh thống nhất với lời trình bày của chị Vũ Thị T. Giữa anh và chị T có quan hệ tình cảm và đã có con chung, tuy nhiên do các cháu sinh ra trong thời kỳ hôn nhân giữa chị T và anh Hoàng Văn T1 nên con chung giữa anh với chị T hiện nay chưa làm được thủ tục Giấy khai sinh được. Vì vậy anh đồng ý với yêu cầu của chị T, đề nghị Tòa án giải quyết theo quy định của pháp luật.
Theo bản tự khai bị đơn là anh Hoàng Văn T1 trình bày: Anh thống nhất với lời trình bày của chị Vũ Thị T. Giữa anh và chị T trước kia là vợ chồng, trong thời kỳ hôn nhân không có con chung và không thực hiện làm thủ tục đăng ký giấy khai sinh cho con có tên mẹ đẻ Vũ Thị T và bố đẻ Hoàng Văn T1 theo quy định pháp luật.
Ý kiến phát biểu của đại diện Viện kiểm sát nhân dân khu vực 2 - Hải Phòng: Quá trình tiến hành tố tụng của Tòa án từ khi thụ lý vụ án cho đến trước khi Hội đồng xét xử vào phòng nghị án: Nguyên đơn chấp hành đầy đủ các quy định tại Điều 70, 71 Bộ luật Tố tụng dân sự; bị đơn chấp hành đầy đủ các quy định tại Điều 70, 72 Bộ luật Tố tụng dân sự; người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan cơ bản chấp hành đầy đủ các quy định tại Điều 70, 73 Bộ luật Tố tụng dân sự. Thẩm phán, Thư ký phiên tòa, Hội đồng xét xử về cơ bản đã thực hiện đúng quy định của pháp luật. Về việc giải quyết vụ án: Đề nghị Hội đồng xét xử chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn, xác định anh Phạm Văn P là cha đẻ của cháu dự định đặt tên là Phạm Thị Diệu L, sinh ngày 24 tháng 12 năm 2019 (theo Giấy chứng sinh số 97, quyển số 37 của Bệnh viện K, thành phố Hải Phòng ngày 24/12/2019) do chị Vũ Thị Thủy S ra. Và xác định anh Phạm Văn P là cha đẻ của cháu dự định đặt tên là Phạm Văn Nam P1, sinh ngày 26 tháng 7 năm 2021 (theo Giấy chứng sinh số 78, quyển số 27 của Bệnh viện K, thành phố Hải Phòng ngày 26/7/2021) do chị Vũ Thị Thủy S ra. Về án phí, các đương sự không phải nộp án phí dân sự sơ thẩm.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án đã được thẩm tra tại phiên toà và căn cứ kết quả tranh luận tại phiên toà, Hội đồng xét xử nhận định:
Về quan hệ pháp luật và thẩm quyền thụ lý, giải quyết vụ án: Chị Vũ Thị T có đơn khởi kiện đề nghị xác định anh Phạm Văn P là cha đẻ của hai cháu dự định đặt tên là Phạm Thị Diệu L và Phạm Văn Nam P1. Theo quy định tại khoản 3 Điều 68 Bộ luật Tố tụng dân sự thì anh Phạm Văn P là bị đơn. Anh Phạm Văn P hiện cư trú tại Tổ dân phố Đ, phường A, thành phố Hải Phòng, do đó vụ án thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân khu vực 2 - Hải Phòng theo khoản 4 Điều 28, Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 39 của Bộ luật Tố tụng dân sửa đổi bổ sung năm 2025.
Về sự vắng mặt của các đương sự: Tại phiên toà sơ thẩm, các đương sự đều vắng mặt và đề nghị Toà án xét xử vắng mặt. Căn cứ khoản 1 Điều 227, khoản 1 Điều 228, Điều 238 Bộ luật Tố tụng dân sự sửa đổi bổ sung năm 2025, Toà án tiến hành xét xử vắng mặt các đương sự.
Về yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn:
Ngày 24 tháng 12 năm 2019, chị Vũ Thị T sinh con gái, dự định đặt tên là Phạm Thị Diệu L theo theo Giấy chứng sinh số 97, quyển số 37 của Bệnh viện K, thành phố Hải Phòng ngày 24/12/2019. Kết quả phân tích ADN của Công ty TNHH C số 6018H/2024/01 ngày 06/7/2024 và Công văn số CV.1205. NOVAGEN/2026 của Công ty TNHH C thể hiện Kết quả phân tích ADN ngày 06/7/2024 kết luận "anh Phạm Văn P có quan hệ huyết thống cha - con với Phạm Thị Diệu L, độ tin cậy trên 99,999999%.
Ngày 26 tháng 7 năm 2021, chị Vũ Thị Thủy S con trai, dự định đặt tên là Phạm Văn Nam P1 theo Giấy chứng sinh số 78, quyển số 27 của Bệnh viện K, thành phố Hải Phòng ngày 26/7/2021. Kết quả phân tích ADN của Công ty TNHH C số 6018H/2024/02 ngày 06/7/2024 và Công văn số CV.1205. NOVAGEN/2026 của Công ty TNHH C thể hiện: Kết quả phân tích ADN ngày 06/7/2024 kết luận "anh Phạm Văn P có quan hệ huyết thống cha - con với Phạm Văn Nam P1, độ tin cậy trên 99,999999%.
Quá trình giải quyết vụ án, anh Phạm Văn P thừa nhận hai cháu dự định đặt tên là Phạm Thị Diệu L, sinh ngày 24 tháng 12 năm 2019 và Phạm Văn Nam P1, sinh ngày 26 tháng 7 năm 2021 là con chung của anh và chị Vũ Thị T, do đó có căn cứ chấp nhận yêu cầu khởi kiện của chị Vũ Thị T. Xác định anh Phạm Văn P là cha đẻ của cháu dự định đặt tên là Phạm Thị Diệu L, sinh ngày 24 tháng 12 năm 2019 (theo Giấy chứng sinh số 97, quyển số 37 của Bệnh viện K, thành phố Hải Phòng ngày 24/12/2019) và cháu dự định đặt tên là Phạm Văn Nam P1, sinh ngày 26 tháng 7 năm 2021 (theo Giấy chứng sinh số 78, quyển số 27 của Bệnh viện K, thành phố Hải Phòng ngày 26/7/2021) do chị Vũ Thị Thủy S ra.
Về án phí: Các đương sự không phải chịu tiền án phí dân sự sơ thẩm.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ vào khoản 4 Điều 28, khoản 1 Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 39, Điều 147, điểm a, b khoản 2 Điều 227, khoản 1 Điều 228, Điều 238, Điều 271, Điều 273, Điều 280 Bộ luật Tố tụng dân sự; căn cứ vào khoản 2 Điều 101, Điều 102 Luật Hôn nhân và Gia đình; căn cứ vào khoản 1 Điều 11 Nghị quyết số 01/2024/NQ-HĐTP ngày 16/5/2024 của Hội đồng thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao hướng dẫn áp dụng một số quy định của pháp luật trong giải quyết vụ việc về hôn nhân và gia đình.
Xử: Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của chị Vũ Thị T.
1. Về xác nhận cha cho con:
- Xác định anh Phạm Văn P là cha đẻ của cháu dự định đặt tên là Phạm Thị Diệu L, sinh ngày 24 tháng 12 năm 2019 (theo Giấy chứng sinh số 97, quyển số 37 của Bệnh viện K, thành phố Hải Phòng ngày 24/12/2019) do chị Vũ Thị Thủy S ra.
- Xác định anh Phạm Văn P là cha đẻ của cháu dự định đặt tên là Phạm Văn Nam P1, sinh ngày 26 tháng 7 năm 2021 (theo Giấy chứng sinh số 78, quyển số 27 của Bệnh viện K, thành phố Hải Phòng ngày 26/7/2021) do chị Vũ Thị Thủy S ra.
2. Về án phí: Các đương sự không phải chịu tiền án phí dân sự sơ thẩm.
3. Về quyền kháng cáo: Chị Vũ Thị T, anh Phạm Văn P và anh Hoàng Văn T1 có quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết theo quy định của pháp luật.
Trong trường hợp bản án được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các điều 4, 6 và 7 Luật Thi hành án dân sự. Thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 34 Luật Thi hành án dân sự. CÁC HỘI THẨM NHÂN DÂN
THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Phạm Thị Vĩnh Trương Thị An
Khúc Trọng Quang
.
| Nơi nhận: - TAND thành phố Hải Phòng; - VKSND thành phố Hải Phòng; - VKSND khu vực 2 - Hải Phòng; - Đương sự; - Lưu: VT, hồ sơ vụ án. | TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Khúc Trọng Quang |