- Tranh chấp gì? án hình sự — "Phạm Công M - chế tạo, tàng trữ, vận chuyển, sử dụng, mua bán trái phép hoặc chiếm đoạt vũ khí quân dụng, phương tiện kỹ thuật quân sự (điều…"
- Tòa quyết gì? [1]. Tuyên bố: Bị cáo Phạm Công M phạm tội “Sử dụng trái phép vũ khí quân dụng”.
- Căn cứ chính? Điều 51 Bộ luật Hình sự; Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 23 NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…
| TOÀ ÁN NHÂN DÂN TỈNH ĐẮK LẮK | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Bản án số: 149/2026/HS-ST Ngày: 27 - 8 - 2026 |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TOÀ ÁN NHÂN DÂN TỈNH ĐẮK LẮK
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Lê Trúc Lâm
Các Hội thẩm nhân dân: 1. Bà Trần Thị Hoài Nam
2. Ông Phan Đắc Hoan
- Thư ký phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Duyên - Thư ký Tòa án nhân dân tỉnh Đắk Lắk.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Đắk Lắk tham gia phiên tòa: Ông Dương Hoàng Long - Kiểm sát viên.
Ngày 27 tháng 8 năm 2026, tại trụ sở Tòa án nhân dân tỉnh Đắk Lắk, xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số: 145/2026/TLST-HS ngày 22/7/2026, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 165/2026/QĐXXST-HS ngày 13/8/2026, đối với bị cáo:
Họ và tên: Phạm Công M, sinh ngày 25/3/2003, tại tỉnh Đắk Lắk; Nơi cư trú: Thôn I E, xã E, tỉnh Đắk Lắk; nghề ngiệp: Lao động tự do; trình độ học vấn: 07/12; giới tính: Nam; dân tộc: Kinh; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Phạm Công B và bà Nguyễn Thị B1; bị cáo chưa có vợ con; tiền án, tiền sự: Không;
Nhân thân: Ngày 05/02/2026 Phạm Công M có hành vi sử dụng trái phép chất ma tuý nên ngày 08/3/2026 Trưởng Công an xã E, tỉnh Đắk Lắk ra Quyết định xử phạt vi phạm hành chính về hành vi nêu trên (tại Quyết định xử phạt vi phạm hành chính số 17/QĐ-XPHC), hình thức xử phạt: Phạt tiền 1.500.000 đồng, Phạm Công M đã chấp hành xong.
Bị cáo bị áp dụng biện pháp ngăn chặn cấm đi khỏi nơi cư trú từ ngày 03/4/2026, hiện bị cáo đang tại ngoại, có mặt tại phiên toà.
- Nguyên đơn dân sự: Ông Đinh Tiến H, sinh năm 2002, địa chỉ: Thôn C, xã E, tỉnh Đắk Lắk, vắng mặt.
- Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan: Ông Phạm Công B, sinh năm 1981; địa chỉ: Thôn I E, xã E, tỉnh Đắk Lắk, vắng mặt.
- Người làm chứng:
+ Ông Phan Tấn P, sinh năm 2002, địa chỉ: Thôn E E, xã E, tỉnh Đắk Lắk, vắng mặt;
+ Ông Đinh Thanh X, sinh năm 2002, địa chỉ: Thôn C, xã E, tỉnh Đắk Lắk, vắng mặt;
+ Bà Trần Thị H1, sinh năm 1975; địa chỉ: Thôn B, xã E, tỉnh Đắk Lắk, vắng mặt.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Khoảng 20 giờ ngày 08/02/2026, Phạm Công M điều khiển xe mô tô biển số 47AB-986.68 đi ngang qua quán C địa chỉ thôn G E, xã E, tỉnh Đắk Lắk thì nhìn thấy anh Đinh Tiến H đang ngồi uống nước. Do có mâu thuẫn với H nên khi nhìn thấy H, M nảy sinh ý định quay về nhà lấy hung khí để gây thương tích cho H. M điều khiển xe mô tô quay về nhà tại thôn I E, xã E đi vào đầu giường ngủ của mình, lấy một con dao dài 54cm, cán dao dài 16cm, ngoài cán dao được cuốn băng keo màu đen, phần còn lại là lưỡi dao bằng kim loại, chỗ rộng nhất 04cm, mũi dao nhọn, lưỡi dao sắc, trên thân lưỡi dao có 06 lỗ giấu vào ống tay áo khoác bên trái, rồi tiếp tục điều khiển xe quay lại quán cà phê với mục đích tìm H để chém gây thương tích. Khi đến nơi, M dừng xe, dùng tay phải rút dao ra khỏi vỏ rồi lao nhanh về phía H, khi cách H khoảng 01m, M vung dao chém hướng từ trên xuống dưới về phía H. Phát hiện M cầm dao chém mình, H đứng dậy bỏ chạy lùi ra phía ngoài, đồng thời dùng ghế của quán giơ lên để chống đỡ. M tiếp tục đuổi theo và liên tiếp vung dao chém nhiều nhát nhưng không trúng do H chống đỡ và né tránh. Trong quá trình bỏ chạy, H bị vấp vào xe mô tô dựng trước quán và ngã xuống nền. Lúc này, Minh T đến gần, đứng khom người và tiếp tục dùng dao chém xuống nhưng H kịp lùi người nên không trúng. M tiếp tục lao tới, cách H khoảng 01m, M đứng khom người, dùng tay phải vung dao chém thêm một nhát theo hướng từ trên xuống thì H giơ chân phải lên đỡ, M chém trúng vào vùng bắp chân phải của H và dùng chân phải đạp một cái trúng vào vùng bụng của H. Sau khi bị chém trúng, H đứng dậy bỏ chạy ra phía đường. M không tiếp tục truy đuổi, quay lại khu vực gần quán, bỏ dao vào vỏ rồi vứt lại tại gốc cây gần đó và lên xe mô tô rời khỏi hiện trường. Sau đó, H được chở đi đến trạm y tế xã E sơ cứu vết thương và được người nhà đưa đi cấp cứu tại bệnh viện Đ.
Tại Bản kết luận số: 591/KL-KTHS ngày 25/3/2026 của Phòng kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Đắk Lắk kết luận: 01 (một) con dao dài 54cm bằng kim loại không có số hiệu (ký hiệu A) do Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an tỉnh Đắk Lắk gửi đến giám định (ảnh 5) là “dao sắc, nhọn” thuộc Phụ lục 5 “Danh mục dao có tính sát thương cao” theo Thông tư 75/2024/TT-BCA ngày 15/11/2024 của Bộ Công an.
Tại Bản kết luận giám định tổn thương cơ thể trên người sống số 155/KLTTCT-PY01, ngày 05/3/2026 của Trung tâm pháp y tỉnh Đắk Lắk, kết luận:
2
Xác định tỷ lệ phần trăm tổn thương cơ thể của Đinh Tiến H tại thời điểm giám định là: 2%; Vật tác động: Vật sắc; Cơ chế hình thành thương tích: vết thương để lại sẹo nằm dọc, kéo dài từ mặt sau ngoài 1/3 trên cẳng chân đến 1/3 giữa cẳng chân phải, bờ nham nhở; rách cân cơ, đứt dọc một phần cơ mác dài là do tác động trực tiếp của vật sắc hướng từ trên xuống dưới, từ phải qua trái.
Bản Cáo trạng số: 117/CT-VKSDLK-P1 ngày 16/7/2026 của Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Đắk Lắk đã truy tố bị cáo Phạm Công M về tội “Sử dụng trái phép vũ khí quân dụng” quy định tại khoản 1 Điều 304 Bộ luật Hình sự.
Tại phiên tòa sơ thẩm, đại diện Viện kiểm sát giữ quyền công tố, luận tội và tranh luận: Đã phân tích, đánh giá tính chất, mức độ hành vi phạm tội của bị cáo, giữ nguyên quyết định truy tố như Cáo trạng và khẳng định hành vi của bị cáo Phạm Công M thực hiện đã phạm tội “Sử dụng trái phép vũ khí quân dụng” quy định tại khoản 1 Điều 304 Bộ luật Hình sự.
Đề nghị Hội đồng xét xử:
- Tuyên bố bị cáo Phạm Công M phạm tội “Sử dụng trái phép vũ khí quân dụng”. Áp dụng khoản 1 Điều 304; điểm b, s khoản 1 Điều 51 Bộ luật Hình sự; đề nghị xử phạt bị cáo 01 năm 03 tháng đến 01 năm 06 tháng tù.
- Về trách nhiệm dân sự: Bị cáo và ông Đinh Tiến H đã thoả thuận bồi thường 70.000.000 đồng nên đề nghị ghi nhận.
- Về xử lý vật chứng: Đề nghị tịch thu tiêu hủy 01 con dao và 01 vỏ dao (đã được niêm phong theo quy định).
Bị cáo không tranh luận, không nói lời sau cùng.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các chứng cứ, tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan Cảnh sát điều tra, Điều tra viên, Viện kiểm sát, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.
Xét lời khai của bị cáo tại phiên tòa phù hợp với lời khai của bị cáo trong quá trình điều tra, phù hợp với lời khai của nguyên đơn dân sự, phù hợp với vật chứng thu giữ, kết luận giám định và các tài liệu, chứng cứ khác có trong hồ sơ vụ án. Do đó, có đủ căn cứ xác định: Vào khoảng 20 giờ ngày 08/02/2026 tại quán C
3
thuộc thôn G E, xã E, tỉnh Đắk Lắk, do bực tức vì trước đây có mâu thuẫn với ông Đinh Tiến H nên Phạm Công M đã có hành vi dùng dao chém vào vùng cẳng chân phải của ông Đinh Tiến H, hậu quả làm cho ông H bị thương tích 02%. Kết luận giám định xác định con dao gửi đến giám định là “Dao sắc, nhọn” thuộc Phụ lục 5 “Danh mục dao có tính sát thương cao” theo Thông tư 75/2024/TT/BCA ngày 15/11/2024 của Bộ Công an. Như vậy, bị cáo đã sử dụng “Dao có tính sát thương cao” với mục đích xâm phạm sức khỏe của người khác trái pháp luật, nên theo quy định tại điểm d khoản 2 Điều 2 của Luật Quản lý, sử dụng vũ khí, vật liệu nổ và công cụ hỗ trợ năm 2024 thì dao có tính sát thương cao là vũ khí quân dụng. Do đó, hành vi của bị cáo Phạm Công M đã phạm tội “Sử dụng trái phép vũ khí quân dụng”, theo quy định tại khoản 1 Điều 304 của Bộ luật Hình sự.
Điều 304 Bộ luật hình sự quy định:
1. Người nào chế tạo, tàng trữ, vận chuyển, sử dụng, mua bán trái phép hoặc chiếm đoạt vũ khí quân dụng, phương tiện kỹ thuật quân sự thì bị phạt tù từ 01 năm đến 07 năm.
Bản cáo trạng của Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Đắk Lắk truy tố bị cáo theo tội danh và điều luật đã viện dẫn nêu trên là có căn cứ, đúng pháp luật.
Xét tính chất vụ án do bị cáo Phạm Công M thực hiện là nghiêm trọng. Bị cáo là người có đầy đủ năng lực trách nhiệm hình sự, nhận thức được việc sử dụng trái phép vũ khí quân dụng là hành vi bị pháp luật nghiêm cấm nhưng vì bực tức do trước đó bị cáo với ông H có mâu thuẫn nên bị cáo đã sử dụng dao có tính sát thương cao được xác định là vũ khí quân dụng để tấn công ông H. Hành vi của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, xâm phạm chế độ quản lý độc quyền của Nhà nước đối với vũ khí quân dụng, đồng thời xâm hại đến sức khỏe của người khác, ảnh hưởng xấu đến tình hình an ninh, trật tự tại địa phương. Ngoài ra, trước ngày thực hiện hành vi phạm tội thì bị cáo đã có hành vi sử dụng trái phép chất ma tuý và bị Trưởng Công an xã E, tỉnh Đắk Lắk xử phạt hành chính. Như vậy, thể hiện ý thức coi thường pháp luật của bị cáo do đó bị cáo phải chịu trách nhiệm hình sự tương xứng với tính chất, mức độ hành vi phạm tội đã thực hiện và cần thiết phải áp dụng hình phạt tù, cách ly bị cáo với xã hội một thời gian nhất định để đảm bảo việc cải tạo, giáo dục bị cáo và đảm bảo tác dụng răn đe, phòng ngừa chung trong xã hội.
Về các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm Hình sự:
- Tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự: Không có.
- Về tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: Trong quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải về hành vi phạm tội của mình; đã tự nguyện bồi thường cho ông Đinh Tiến H số tiền 70.000.000 đồng. Đây là các
4
tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại các điểm b, s khoản 1 Điều 51 Bộ luật Hình sự.
Về bồi thường thiệt hại: Bị cáo đã tự nguyện bồi thường cho ông Đinh Tiến H về chi phí điều trị và các khoản chi phí phát sinh khác, số tiền là 70.000.000 đồng. Ông H đã rút yêu cầu khởi tố và không yêu cầu bồi thường gì thêm. Xét thấy, việc thỏa thuận bồi thường giữa bị cáo và nguyên đơn dân sự là tự nguyện, nên Hội đồng xét xử cần ghi nhận.
Về xử lý vật chứng: Quá trình điều tra Cơ quan điều tra thu giữ 01 (một) con dao dài 54cm, cán dao dài 16cm, ngoài cán dao được cuốn băng keo màu đen, phần còn lại là lưỡi dao bằng kim loại, màu trắng, chỗ rộng nhất 04cm, mũi dao nhọn, lưỡi dao sắc, trên thân lưỡi dao có 06 lỗ và 01 (một) vỏ dao bằng nhựa dài 41cm, bản rộng nhất 05cm, bên ngoài cuốn băng keo màu đen, một đầu vỏ dao có khe lỗ để đút lưỡi dao, một đầu bịt kín, vát nhọn một bên (con dao và vỏ dao đã được niêm phong theo quy định). Đây là vật chứng của vụ án không có giá trị sử dụng, nên cần tịch thu tiêu hủy.
Đối với hành vi gây thương tích cho ông Đinh Tiến H, quá trình điều tra xác định hành vi của Phạm Công M có dấu hiệu của tội “Cố ý gây thương tích” quy định tại khoản 1 Điều 134 Bộ luật hình sự. Tuy nhiên, ngày 26/3/2026, ông Đinh Tiến H đã làm đơn bãi nại và rút yêu cầu khởi tố vụ án hình sự nên Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an tỉnh Đắk Lắk không xử lý hình sự đối với Phạm Công M về tội danh nêu trên là phù hợp. Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an tỉnh Đắk Lắk đã chuyển hồ sơ vụ việc đến Công an xã E, tỉnh Đắk Lắk để xử phạt vi phạm hành chính theo quy định pháp luật.
Đối với 01 (một) chiếc xe mô tô biển số 47AB-986.68, nhãn hiệu Honda, loại xe Wave, màu đỏ, đen thuộc quyền sở hữu hợp pháp của ông Phạm Công B, ông B không biết việc bị cáo sử dụng chiếc xe mô tô trên để đi gây thương tích cho ông Đinh Tiến H. Cho nên, ngày 10/4/2026 Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an tỉnh Đắk Lắk ra Quyết định xử lý vật chứng trả lại chiếc xe mô tô nêu trên cho ông Phạm Công B là phù hợp.
Về án phí: Bị cáo Phạm Công M bị tuyên phạm tội, nên phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
[1]. Tuyên bố: Bị cáo Phạm Công M phạm tội “Sử dụng trái phép vũ khí quân dụng”.
[2]. Về hình phạt:
5
Áp dụng: Khoản 1 Điều 304; các điểm b, s khoản 1 Điều 51 của Bộ luật Hình sự. Xử phạt: Bị cáo Phạm Công M 01 (Một) năm 03 (Ba) tháng tù. Thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày đi thi hành án.
[3]. Về xử lý vật chứng: Áp dụng khoản 1 Điều 47 của Bộ luật Hình sự; Điều 106 của Bộ luật Tố tụng hình sự.
Tịch thu tiêu hủy: 01 (một) con dao dài 54cm, cán dao dài 16cm, ngoài cán dao được cuốn băng keo màu đen, phần còn lại là lưỡi dao bằng kim loại, màu trắng, chỗ rộng nhất 04cm, mũi dao nhọn, lưỡi dao sắc, trên thân lưỡi dao có 06 lỗ và 01 (một) vỏ dao bằng nhựa dài 41cm, bản rộng nhất 05cm, bên ngoài cuốn băng keo màu đen, một đầu vỏ dao có khe lỗ để đút lưỡi dao, một đầu bịt kín, vát nhọn một bên (con dao và vỏ dao đã được niêm phong theo quy định)
(Vật chứng có đặc điểm cụ thể theo Biên bản giao, nhận đồ vật, tài liệu, vật chứng ngày 01/6/2026, giữa Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an tỉnh Đắk Lắk và Cơ quan Kho vật chứng phân trại tạm giam E - Trại tạm giam số 1 Công an tỉnh Đắk Lắk).
[4]. Về bồi thường thiệt hại: Áp dụng các Điều 584, 585, 586 và 590 của Bộ luật Dân sự.
Ghi nhận việc bị cáo Phạm Công M đã tự nguyện bồi thường cho ông Đinh Tiến H số tiền 70.000.000 đồng và ông H không yêu cầu gì thêm.
[5] Về án phí: Căn cứ điểm a khoản 1 Điều 23 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.
Bị cáo Phạm Công M phải chịu 200.000 đồng (Hai trăm ngàn đồng) án phí Hình sự sơ thẩm.
[6] Quyền kháng cáo: Bị cáo có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án. Nguyên đơn dân sự, người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan vắng mặt tại phiên tòa được quyền kháng cáo bản án sơ thẩm trong thời hạn là 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết hợp lệ.
| Nơi nhận: - Toà Phúc thẩm TANDTC tại Đà Nẵng; - Viện Phúc thẩm VKSNDTC tại Đà Nẵng; - VKSND tỉnh Đắk Lắk; - THADS tỉnh Đắk Lắk; - Cơ quan CSĐT Công an tỉnh Đắk Lắk; - Phòng HSNV Công an tỉnh Đắk Lắk; - Cơ quan TTHAHS Công an tỉnh Đắk Lắk; - Phòng PV06 Công an tỉnh Đắk Lắk; - Bị cáo; NTGTT; - Lưu hồ sơ. 6 7 | TM/HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA (Đã ký) Lê Trúc Lâm |