vanban.org

Bản án 149/2026/HS-ST — Hình sự

Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Tuyên bố bị cáo Trương Phú S phạm tội “Cướp tài sản” và tội “Trộm cắp tài sản”.

Xử phạt bị cáo Trương Phú S 08 (Tám) tháng tù về tội “Trộm cắp tài sản”; Xử phạt bị cáo Trương Phú S 07 (Bảy) năm tù về tội “Cướp tài sản”; Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? án hình sự — "Trương Phú S - cướp tài sản (điều 168 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS năm 2015)"
  • Tòa quyết gì? Tuyên bố bị cáo Trương Phú S phạm tội “Cướp tài sản” và tội “Trộm cắp tài sản”.
  • Căn cứ chính? Điều 51 Bộ luật Hình sự; Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 168 Bộ luật Hình sự
TÒA ÁN NHÂN DÂN
KHU VỰC 1 – ĐỒNG NAI

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 149/2026/HS-ST
Ngày: 19 - 3 - 2026

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN KHU VỰC 1 – ĐỒNG NAI

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Nguyễn Hữu Học

Các Hội thẩm nhân dân:

Bà Hoàng Thị Mai

Bà Trần Thị Hồng Ngọc

- Thư ký phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Bích Ngọc – Thư ký Tòa án nhân dân khu vực 1 – Đồng Nai.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân khu vực 1 – Đồng Nai, tham gia phiên tòa: Bà Bùi Thị Thu Thảo - Kiểm sát viên.

Ngày 19 tháng 3 năm 2026, tại trụ sở Tòa án nhân dân khu vực 1 – Đồng Nai xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số: 112/2026/HSST ngày 12/02/2026, theo quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 107/2026/QĐXXST-HS ngày 27/02/2026, đối với bị cáo:

Trương Phú S, sinh năm 1986, tại Thanh Hóa; nơi cư trú: Tổ 23, khu phố Hương Phước, phường Phước Tân, tỉnh Đồng Nai; nghề nghiệp: Tự do; trình độ học vấn: 12/12; dân tộc: Kinh; giới tính: Nam; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Trương Phú T, sinh năm 1943 (đã chết) và bà Lê Thị K, sinh năm 1945 (đã chết); gia đình có 07 chị em, bị cáo là con thứ năm; có vợ Nguyễn Thị A, sinh năm 1985; có 03 con, con lớn nhất sinh năm 2011, con nhỏ nhất sinh năm 2019; tiền án, tiền sự: Không; bị cáo bị tạm giữ từ ngày 04/10/2025, chuyển tạm giam theo lệnh số 4879/LTG-VPCQCSĐT ngày 13/10/2025; bị cáo hiện đang tạm giam tại Phân trại tạm giam Tân Triều - Trại tạm giam số 1 Công an tỉnh Đồng Nai; có mặt tại phiên tòa.

- Bị hại:

1. Ông Trần Đình L, sinh năm 1968, địa chỉ: 43HV, tổ 8, khu phố 5, phường Long Hưng, tỉnh Đồng Nai; vắng mặt tại phiên tòa.

2. Anh Trần Anh Q, sinh năm 2003, địa chỉ: Khu phố 2A, phường Trảng Dài, tỉnh Đồng Nai; vắng mặt tại phiên tòa.

3. Anh Nguyễn Thanh D, sinh năm 1991, địa chỉ: 3/E3, tổ 12, khu phố 5, phường Long Hưng, tỉnh Đồng Nai; vắng mặt tại phiên tòa.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Vào khoảng 16 giờ ngày 03/10/2025, Trương Phú S điều khiển xe mô tô biển số 60C1-960.66 đi làm về thì gặp một người đàn ông giống với người tên “Tèo” mà Song quen biết trước đây đang đứng trước công trình nhà ở địa chỉ số 4N3, Quốc Lộ 51, khu phố 5, phường Long Hưng, tỉnh Đồng Nai do ông Trần Đình L (sinh năm 1968, thường trú tại địa chỉ số 43HV, tổ 8, khu phố 5, phường Long Hưng, tỉnh Đồng Nai) làm quản lý công trình. Do Tèo không trả tiền công khi Song làm thợ sơn nước cho Tèo nên Song nảy sinh ý định trộm cắp tài sản ở công trình để bán lấy tiền.

Thực hiện ý định trên, khoảng 01 giờ ngày 04/10/2025, Song mang theo 01 cái xà beng dài 01m, đường kính 02cm, có một đầu nhọn, một đầu dẹp và 01 con dao nhọn, loại dao Thái lan cán nhựa màu đen, phần lưỡi dài khoảng 15cm rồi điều khiển xe môtô hiệu Honda Wave, biển số 60C1-960.66 đến căn nhà số 4N3, Quốc Lộ 51, khu phố 5, phường Long Hưng, tỉnh Đồng Nai để trộm cắp tài sản.

Khi tới căn nhà trên, S thấy cổng nhà được làm bằng khung sắt hàn lưới sắt B40 có khóa cửa nên sử dụng xà beng mang theo để phá ổ khóa rồi dắt xe mô tô của Song vào trong sân nhà, sau đó tiếp tục dùng xà beng nâng cửa cuốn để vào nhà. Khi vào trong nhà, Song thấy các tài sản, gồm: 01 máy cắt nhôm màu xanh đen, hiệu BIY COOPER, số serial: CP255MS230040; 01 máy cắt cầm tay màu xanh đen, hiệu MAKITA, số serial: PA6-GF30; 01 máy cắt cầm tay màu xanh đen, hiệu DCA, không có số serial của anh Trần Anh Q (sinh năm 2003, ngụ tại: Khu phố 2A, phường Trảng Dài, tỉnh Đồng Nai) và 01 máy đục bê-tông màu xanh đen, hiệu JY-37K, số serial: 2021SJK09; 01 máy đầm rung bê tông màu đỏ hiệu: SUMIKURA, số serial: SU6351; 01 máy bàn cắt gạch men; 01 máy hàn màu xanh hiệu CLASSIC, số serial: ZX7-210CL của ông Trần Đình L (sinh năm 1968, thường trú tại: Khu phố 5, phường Long Hưng, tỉnh Đồng Nai) nên đã lấy hết số tài sản trên và mang ra đặt lên xe mô tô biển số 60C1-960.66, dùng dây bằng cao su buộc, cố định các máy móc trên rồi dắt bộ xe mô tô ra ngoài vỉa hè.

Khi S chuẩn bị lên xe đề nổ máy để chạy đi thì lúc này anh Nguyễn Thanh D (sinh năm 1991, thường trú tại: Khu phố 5, phường Long Hưng, tỉnh Đồng Nai) là lực lượng An ninh trật tự cơ sở của phường Long Hưng phát hiện nên lại gần, áp sát xe của Song và dùng tay rút chìa khóa xe mô tô của S. S biết hành vi trộm cắp của mình đã bị phát hiện nên lấy 01 con dao, loại dao Thái Lan đã chuẩn bị từ trước, chỉa mũi dao về phía anh D và có hành vi đâm nhiều nhát về phía trước hù dọa để anh D bỏ chìa khóa ra. Anh D lùi lại, không dám tiến về phía trước nên Song tính điều khiển xe mô tô của Song bỏ chạy, nhưng không có chìa khóa xe, đồng thời Song phát hiện chiếc xe mô tô hiệu Honda Wave RSX FI màu đỏ đen, biển số 67L1-612.75 của anh D đang dựng song song với xe của S, có cắm sẵn chìa khóa trên xe nên S bỏ xe biển số 60C1-960.66 cùng tài sản đã trộm cắp và leo lên xe của anh D đề máy bỏ chạy về hướng khu dân cư khu phố 5, phường Long Hưng, tỉnh Đồng Nai.

Trên đường bỏ chạy, S suy nghĩ hành vi của mình vi phạm pháp luật, sợ bị bắt nên đã điều khiển xe mô tô biển số 67L1-612.75 đến trụ sở Công an phường Phước Tân và để xe tại đây. Đến 08 giờ 30 phút ngày 04/10/2025, Song biết không thể trốn thoát được nên đã đến Công an phường Long Hưng đầu thú về hành vi phạm tội. Công an phường Long Hưng lập biên bản tiếp nhận người phạm tội ra đầu thú, xử lý theo quy định.

Tại Cơ quan Cảnh sát điều tra, Trương Phú S khai nhận hành vi phạm tội như trên.

Vật chứng của vụ án:

- 01 máy cắt nhôm màu xanh đen, hiệu BIY COOPER, số serial: CP255MS230040; 01 máy cắt cầm tay màu xanh đen, hiệu MAKITA, số serial: PA6-GF30; 01 máy cắt cầm tay màu xanh đen, hiệu DCA, không có số serial, là tài sản của anh Trần Anh Q nên Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an tỉnh Đồng Nai đã thu hồi trả cho anh Quân;

- 01 máy đục bê-tông màu xanh đen, hiệu JY-37K, số serial: 2021SJK09; 01 máy đầm rung bê tông màu đỏ hiệu: SUMIKURA, số serial: SU6351; 01 máy bàn cắt gạch men; 01 máy hàn màu xanh hiệu CLASSIC, số serial: ZX7-210CL, là tài sản của ông Trần Đình L nên Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an tỉnh Đồng Nai đã thu hồi trả cho ông L;

- 01 chiếc xe mô tô hiệu Honda Wave RSX F1, biển số 67L1-612.75, số khung: 067639, số máy: 0067777, là tài sản của anh Nguyễn Thanh D nên Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an tỉnh Đồng Nai đã thu hồi trả cho anh D.

- 01 thanh sắt đặc, hình trụ (xà beng) dài 01m, đường kính 02cm, có 01 đầu nhọn và 01 đầu dẹp, là công cụ bị cáo Song sử dụng vào việc phạm tội;

- 01 chiếc xe mô tô hiệu Honda Wave màu đỏ đen bạc, biển số 60C1-960.66, có dung tích xi lanh 109cm3, số khung: RLHJA 3902 HY 298960, số máy: JA 39E 0298993, là phương tiện bị cáo Song sử dụng vào việc phạm tội;

- 01 con dao nhọn, loại dao Thái lan cán nhựa màu đen, phần lưỡi dài khoảng 15cm, là công cụ bị cáo Song dùng để thực hiện hành vi phạm tội. S khai trong lúc bỏ chạy, con dao bị rơi trên đường, không xác định được vị trí rơi nên Cơ quan cảnh sát điều tra Công an tỉnh Đồng Nai không thu hồi được;

- 01 chiếc áo thun màu đen có hoa văn sặc sỡ, Song dùng để che biển số xe mô tô biển số 60C1-960.66;

- 01 áo thun dài tay, màu xanh, in dòng chữ Grab ở tay áo bên phải; 01 quần dài 02 ống, loại vải rằn ri màu xanh đậm, là tài sản của bị cáo Song không liên quan đến việc phạm tội.

Tại Kết luận định giá tài sản số 02/KL-HĐĐGTS ngày 11/12/2025 của Hội đồng định giá tài sản trong tố tụng hình sự, kết luận: “01 máy cắt nhôm màu xanh đen, hiệu BIY COOPER, số serial: CP255MS230040, giá trị 1.290.000 đồng; 01 máy cắt cầm tay màu xanh đen, hiệu MAKITA, số serial: PA6-GF30, gía trị: 737.000 đồng; 01 máy cắt cầm tay màu xanh đen, hiệu DCA, không có số serial, giá trị 750.000 đồng; 01 máy đục bê-tông màu xanh đen, hiệu JY-37K, số serial: 2021SJK09, giá trị: 1.780.000 đồng; 01 máy đầm rung bê tông màu đỏ hiệu: SUMIKURA, số serial: SU6351, giá trị 677.000 đồng; 01 bàn cắt gạch men, giá trị: 1.434.000 đồng; 01 máy hàn màu xanh hiệu CLASSIC, số serial: ZX7-210C, giá trị: 1.667.000 đồng; Có tổng giá trị định giá là 8.335.000đ (Tám triệu ba trăm ba mươi lăm nghìn đồng).”

Tại Kết luận định giá tài sản số 04/KL-HĐĐGTS ngày 19/12/2025 của Hội đồng định giá tài sản trong tố tụng hình sự, kết luận: “01 chiếc xe mô tô hiệu Honda Wave RXS F1 màu đỏ đen, biển số 67L1-612.75, xe đã qua sử dụng, có giá trị định giá là 3.300.000đ (Ba triệu ba trăm nghìn đồng).”

Về trách nhiệm dân sự: Quá trình điều tra, các bị hại anh Trần Anh Q, ông Trần Đình L và anh Nguyễn Thanh D đã nhận lại tài sản nên không có yêu cầu bồi thường và có đơn xin giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo Trương Phú Song.

Tại Cáo trạng số: 257/CT-VKSKV1 ngày 03/02/2026, Viện kiểm sát nhân dân khu vực 1 – Đồng Nai đã truy tố bị cáo Trương Phú S về các tội “Cướp tài sản” và “Trộm cắp tài sản”, quy định tại điểm d khoản 2 Điều 168 và khoản 1 Điều 173 Bộ luật Hình sự.

Tại phiên tòa, đại diện Viện kiểm sát nhân dân khu vực 1 – Đồng Nai giữ nguyên Cáo trạng truy tố bị cáo về tội danh, điều luật áp dụng nói trên và đề nghị Hội đồng xét xử: Áp dụng điểm d khoản 2 Điều 168, khoản 1 Điều 173; điểm h, s khoản 1, khoản 2 Điều 51 Bộ luật Hình sự; xử phạt bị cáo Trương Phú S từ 10 đến 12 tháng tù về tội “Trộm cắp tài sản” và từ 07 năm đến 07 năm 06 tháng tù về tội “Cướp tài sản”.

Tại phiên tòa, bị cáo thừa nhận toàn bộ hành vi phạm tội.

Căn cứ vào các chứng cứ và tài liệu đã được thẩm tra tại phiên tòa; căn cứ vào kết quả tranh luận tại phiên tòa trên cơ sở xem xét đầy đủ, toàn diện chứng cứ, ý kiến của Kiểm sát viên, lời khai của bị cáo, lời khai của những người tham gia tố tụng khác có trong hồ sơ vụ án;

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Về hành vi, quyết định tố tụng của Điều tra viên, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.

Tại phiên tòa, bị cáo đã khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội. Lời khai nhận của bị cáo phù hợp với các tài liệu, chứng cứ khác có tại hồ sơ vụ án. Từ đó, có đủ cơ sở kết luận:

Vào khoảng 01 giờ 15 phút ngày 04/10/2025 tại công trình nhà ở có địa chỉ số 4N3, Quốc Lộ 51, khu phố 5, phường Long Hưng, tỉnh Đồng Nai, Trương Phú S có hành vi trộm cắp các tài sản, gồm: 01 (một) máy cắt nhôm màu xanh đen, hiệu BIY COOPER, số serial: CP255MS230040; 01 (một) máy cắt cầm tay màu xanh đen, hiệu MAKITA, số serial: PA6-GF30; 01 (một) máy cắt cầm tay màu xanh đen, hiệu DCA, không có số serial; 01 (một) máy đục bê-tông màu xanh đen, hiệu JY-37K, số serial: 2021SJK09; 01 (một) máy đầm rung bê-tông màu đỏ hiệu: SUMIKURA, số serial: SU6351; 01 (một) bàn cắt gạch men; 01 (một) máy hàn màu xanh hiệu CLASSIC, số serial: ZX7-210CL; có tổng giá trị định giá là 8.335.000đ (Tám triệu ba trăm ba mươi lăm nghìn đồng).

Sau khi trộm cắp những tài sản trên, S mang ra đặt lên xe mô tô biển số 60C1-960.66 định bỏ chạy thì bị anh Nguyễn Thanh D (lực lượng tuần tra của Công an phường Long Hưng) đang điều khiển xe mô tô hiệu Honda Wave RSX FI, biển số 67L1-612.75 đi tuần tra phát hiện nên Song cầm 01 con dao loại Thái lan, cán nhựa màu đen, lưỡi dao dài khoảng 15cm hù dọa và cướp chiếc xe mô tô biển số 67L1-612.75 có giá trị định giá 3.300.000đ (Ba triệu ba trăm nghìn đồng) của anh D chạy tẩu thoát. Sau đó, S bị phát hiện, khởi tố điều tra xử lý.

Với hành vi trên, Hội đồng xét xử có đủ căn cứ để kết luận bị cáo Trương Phú S phạm tội “Cướp tài sản” và “Trộm cắp tài sản” theo quy định tại điểm d khoản 2 Điều 168 và khoản 1 Điều 173 Bộ luật Hình sự. Việc truy tố của Viện kiểm sát nhân dân khu vực 1 – Đồng Nai là có căn cứ, đúng người, đúng tội và đúng pháp luật.

Tính chất và mức độ nguy hiểm cho xã hội của hành vi phạm tội: Hành vi của bị cáo là rất nguy hiểm cho xã hội, đã xâm phạm đến quyền sở hữu tài sản của người khác được pháp luật bảo vệ. Vì vậy, cần có hình phạt nghiêm để cải tạo, giáo dục bị cáo có ý thức tôn trọng pháp luật, phòng ngừa chung cho xã hội.

Tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự: Không.

Tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: Bị cáo thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải; sau khi phạm tội bị cáo ra đầu thú; bị hại có đơn xin giảm nhẹ hình phạt; bị cáo có mẹ là người có công với cách mạng; đối với hành vi trộm cắp tài sản, bị cáo phạm tội nhưng chưa gây thiệt hại. Do vậy, áp dụng các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự theo quy định tại điểm h, s khoản 1, khoản 2 Điều 51 Bộ luật Hình sự.

Xét tính chất và mức độ nguy hiểm cho xã hội của hành vi phạm tội, nhân thân, tình tiết giảm nhẹ và tăng nặng trách nhiệm hình sự nêu trên, Hội đồng xét xử xét thấy cần thiết phải áp dụng hình phạt tù đối với bị cáo, cách ly bị cáo ra khỏi xã hội một thời gian để cải tạo và phòng ngừa chung cho xã hội.

Về trách nhiệm dân sự: Các bị hại đã nhận lại tài sản và không yêu cầu gì thêm nên không đặt ra xem xét, giải quyết.

Về xử lý vật chứng: Căn cứ Điều 47 Bộ luật Hình sự, Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự:

- Tịch thu sung công quỹ nhà nước: 01 chiếc xe mô tô hiệu Honda Wave màu đỏ đen bạc, biển số 60C1-960.66, có dung tích xi lanh 109cm3, số khung: RLHJA 3902 HY 298960, số máy: JA 39E 0298993, là phương tiện bị cáo Song sử dụng vào việc phạm tội;

- Tịch thu tiêu hủy: 01 thanh sắt đặc, hình trụ (xà beng) dài 01m, đường kính 02cm, có 01 đầu nhọn và 01 đầu dẹp; 01 chiếc áo thun màu đen có hoa văn sặc sỡ, Song dùng vào việc phạm tội;

- Trả cho bị cáo S: 01 áo thun dài tay, màu xanh, in dòng chữ Grab ở tay áo bên phải; 01 quần dài 02 ống, loại vải rằn ri màu xanh đậm, do không liên quan đến vụ án.

Về án phí: Áp dụng Nghị quyết số 326/2016/NQ-UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội về án phí và lệ phí Tòa án. Buộc bị cáo phải chịu 200.000 đồng (Hai trăm nghìn đồng) án phí hình sự sơ thẩm.

Quan điểm của đại diện Viện kiểm sát phù hợp với nhận định của Hội đồng xét xử, quy định pháp luật nên chấp nhận.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Tuyên bố bị cáo Trương Phú S phạm tội “Cướp tài sản” và tội “Trộm cắp tài sản”.

1. Áp dụng điểm d khoản 2 Điều 168, khoản 1 Điều 173; điểm h, s khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 38, Điều 55 Bộ luật Hình sự;

Xử phạt bị cáo Trương Phú S 08 (Tám) tháng tù về tội “Trộm cắp tài sản”;

Xử phạt bị cáo Trương Phú S 07 (Bảy) năm tù về tội “Cướp tài sản”;

Tổng hợp hình phạt buộc bị cáo Trương Phú S phải chấp hành hình phạt chung của hai tội là 07 (Bảy) năm 08 (Tám) tháng tù. Thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày 04/10/2025.

2. Về xử lý vật chứng:

- Tịch thu sung công quỹ nhà nước: 01 chiếc xe mô tô hiệu Honda Wave màu đỏ đen bạc, biển số 60C1-960.66, có dung tích xi lanh 109cm3, số khung: RLHJA 3902 HY 298960, số máy: JA 39E 0298993;

- Tịch thu tiêu hủy: 01 thanh sắt đặc, hình trụ (xà beng) dài 01m, đường kính 02cm, có 01 đầu nhọn và 01 đầu dẹp; 01 chiếc áo thun màu đen có hoa văn sặc sỡ;

- Trả cho Trương Phú S: 01 áo thun dài tay, loại vải thun, màu xanh, in dòng chữ Grab ở tay áo bên phải; 01 quần dài 02 ống, loại vải rằn ri màu xanh đậm.

Theo biên bản giao nhận vật chứng tài sản ngày 12/02/2026 giữa Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an tỉnh Đồng Nai và Phòng thi hành án dân sự khu vực 1 – Đồng Nai.

3. Về án phí: Buộc bị cáo Trương Phú S phải nộp 200.000 đồng (Hai trăm nghìn đồng) án phí hình sự sơ thẩm.

4. Quyền kháng cáo: Bị cáo được quyền kháng cáo bản án sơ thẩm trong hạn 15 (mười lăm) ngày kể từ ngày tuyên án. Bị hại được quyền kháng cáo bản án sơ thẩm trong hạn 15 (mười lăm) ngày kể từ ngày nhận được hoặc ngày niêm yết theo quy định của pháp luật./.

Cỡ chữ