- Tranh chấp gì? án hình sự — "Bị cáo Huỳnh Công T và Trương Thanh P - phạm tội trộm cắp tài sản (điều 173 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS năm 2015)"
- Tòa quyết gì? Tuyên bố: C c bị c o Huỳnh Công T và Trương Thanh P phạm tội “Trộm cắp tài sản”.
- Căn cứ chính? Điều 51 Bộ luật Hình sự; NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…; Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự
| TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ G TỈNH KIÊN GIANG ----------------- | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Bản án số: 149/2025/HS-ST Ngày: 27 - 05 - 2025 . |
NHÂN DANH
NƢỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ G - TỈNH KIÊN GIANG
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Huỳnh Thị Thùy Linh
Các Hội thẩm nhân dân: 1. Ông Nguyễn Quốc Tiến
2. Bà Trần Thị Lệ
- Thư ký phiên tòa: Ông Nguyễn Ngọc Tuấn - Thư ký Tòa án nhân dân thành phố G, tỉnh Kiên Giang.
- Đại diện Viện Kiểm sát nhân dân thành phố G, tỉnh Kiên Giang tham gia phiên tòa: Bà Thị Tuyết Mai - Kiểm sát viên.
Ngày 27 tháng 05 năm 2025, tại trụ sở Tòa án nhân dân thành phố G, tỉnh Kiên Giang xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số 114/2025/TLST-HS ngày 04 tháng 04 năm 2025 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 144/2025/QĐXXST-HS ngày 05 tháng 05 năm 2025, đối với c c bị cáo:
1. Huỳnh Công T, sinh ngày 24/09/2006. Tại thành phố G, tỉnh Kiên Giang; Nơi đăng ký thường trú và ch ở hi n nay: Số 175B đường Đ, khu phố 4, phường V, thành phố G, tỉnh Kiên Giang; Nghề nghi p: Lao động tự do; Trình độ văn hóa: 11/12; Dân tộc: Kinh; Tôn giáo: Không; Giới tính: Nam; Quốc tịch: Vi t Nam; Con ông Huỳnh Công T2 và bà Âu Kim T3; Vợ, con: Chưa có.
Tiền n, tiền sự: Không.
Bị c o được tại ngoại.
2. Trƣơng Thanh P, sinh ngày 26/05/2003. Tại thành phố G, tỉnh Kiên Giang; Nơi đăng ký thường trú và ch ở hi n nay: Số 173 đường Đ, khu phố 4, phường V, thành phố G, tỉnh Kiên Giang; Nghề nghi p: Lao động tự do; Trình độ văn hóa: 9/12; Dân tộc: Hoa; Tôn gi o: Không; Giới tính: Nam; Quốc tịch: Vi t Nam; Con ông Trương Hoàng H và bà Sầm Thị Bích T4; Vợ, con: Chưa có.
Tiền n, tiền sự: Chưa có.
Bị c o được tại ngoại
C c bị c o có m t tại phiên toà.
* Bị hại: Công ty TNHH thƣơng mại B.
Địa chỉ: Số 07 đường P, phường H1, thành phố G, tỉnh Kiên Giang.
Ngƣời đại diện theo pháp luật: Bà Nguyễn Thị T1, chức vụ: Giám đốc.
Ngƣời đại diện theo uỷ quyền là ông Nguyễn Văn Vũ L, sinh năm 1989. (Có đơn xin vắng mặt)
Địa chỉ: Số 596 đường H2, phường L1, thành phố G, tỉnh Kiên Giang.
* Ngƣời có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan: Ông Huỳnh Công T2, sinh năm 1972 (Vắng mặt)
Địa chỉ: 175B đường Đ, phường V, thành phố G, tỉnh Kiên Giang.
* Người làm chứng: Bà Trần Thị M, sinh năm 1991 (Vắng mặt)
Địa chỉ: Số 805 đường Đ1, phường H3, thành phố G, tỉnh Kiên Giang.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài li u có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên toà, nội dung vụ n được tóm tắt như sau: Huỳnh Công T và Trương Thanh P đều là nhân viên giao hàng của Công ty dịch vụ vận chuyển hàng hóa Best Express nhượng quyền cho Công ty TNHH thương mại B, địa chỉ: Số 596 Phạm Hùng, phường Vĩnh Lạc, thành phố G, tỉnh Kiên Giang do bà Nguyễn Thị T1 làm đại di n. Nhi m vụ của T và P hàng ngày đến địa chỉ số 596 Phạm Hùng, phường Vĩnh Lạc, thành phố G, tỉnh Kiên Giang của Công ty để nhận hàng và đi giao cho những khách hàng mua hàng online ở những địa bàn được phân công phụ trách và thu tiền cuối ngày mang tiền về giao nộp cho kế to n như thường l . Trong quá trình làm vi c T nhận thấy khâu quản lý kho hàng của Công ty còn lỏng lẽo không có người quản lý nên T nảy sinh ý định trộm cắp tài sản là những đơn hàng của Công ty để lấy tiền tiêu xài cá nhân. Vào khoảng 8 giờ ngày 06/10/2024, trong quá trình nhận hàng T thấy có một ki n hàng giao cho khách hàng là bà Trần Thị M ở địa chỉ số 805 Nguyễn Thị Định, phường Vĩnh Hi p, thành phố G, tỉnh Kiên Giang có giá trị là 3.657.000 đồng (đây không phải là địa bàn T phụ trách) nên T đã nói với P lấy ki n hàng đó đi giao cho kh ch nhận tiền xong T và P sẽ chia nhau tiền và P đồng ý. Sau đó, T là người trực tiếp lấy ki n hàng và P đứng trước cửa kho để trông người qua lại thì báo cho T, lấy hàng xong T và P cất dấu vào giỏ hàng trên xe của T. Sau khi T giao hàng xong ở nơi phụ tr ch thì đi đến giao hàng cho khách ở địa chỉ 805 Nguyễn Thị Định, phường Vĩnh Hi p, thành phố G, tỉnh Kiên Giang để lấy tiền tiêu xài. Quá trình kiểm tra camera và quyét vào h thống giám sát ông Nguyễn Văn Vũ Linh là quản lý kho hàng của Công ty phát hi n T và P đã trộm thùng hàng trên nên đã đến Cơ quan Công an phường Vĩnh Lạc trình b o và được thẩm tra xác minh và kiểm tra camera sau đó đã mời anh Huỳnh Công T và Trương Thanh P về làm vi c cả hai thừa nhận hành vi trộm cắp tài sản của mình.
Qua qu trình điều tra x c định ngoài thực hi n hành vi trộm cắp tài sản nêu trên, T và P còn khai nhận từ ngày 15/9/2024 đến ngày 20/9/2024 T còn thực hi n 05 vụ trộm cắp tài sản tại kho hàng của Công ty do bà Thoa làm chủ, ông L làm quản lý, trong đó có 03 vụ T thực hi n cùng với P, cụ thể:
Vụ thứ nhất: Vào ngày 15/9/2024, T thấy kho hàng của Công ty quản lý lỏng lèo, không có người trông coi nên T đã trộm đơn hàng của Công ty đem giao cho kh ch hàng mua hàng online có địa chỉ trên ki n hàng (không nhớ rõ họ tên, địa chỉ) trị gi 1.524.000 đồng, sau đó lấy số tiền trên để tiêu xài cá nhân. (BL 156 đến 157, 1774 đến 177B, 188 đến 191).
Vụ thứ hai: Vào ngày 17/9/2024, T tiếp tục trộm 02 đơn hàng của Công ty đem giao cho kh ch hàng mua hàng online có địa chỉ trên ki n hàng (không nhớ 5 họ tên, địa chỉ) trị gi 2.190.000 đồng, sau đó lấy số tiền trên để tiêu xài cá nhân (BL 156 đến 157, 166 đến 167, 177A đến 177B, 188 đến 191).
Vụ thứ ba: Vào ngày 19/9/2024, T rủ P thực hi n hành vi trộm cắp tài sản và P là người canh cửa còn T thì trộm 02 đơn hàng của Công ty đem giao cho kh ch hàng mua hàng online có địa chỉ trên ki n hàng (không nhớ rõ họ tên, địa chỉ) trị gi 2.175.000 đồng, đến tối T qua nhà P để chia tiền cho P, cả hai dùng số tiền trên để tiêu xài cá nhân (156 đến 157, 177A đến 177B, 188 đến 191).
Vụ thứ tƣ: Vào khoảng 08 giờ ngày 20/9/2024, T tiếp tục rủ P trộm 02 đơn hàng của Công ty đem giao cho kh ch hàng mua hàng online có địa chỉ trên ki n hàng (không nhớ rõ họ tên, địa chỉ) trị gi 1.124.000 đồng, đến tối T qua nhà P để chia tiền cho P, cả hai dùng số tiền trên để tiêu xài cá nhân (bút lục: 156 đến 157, 177A đến 177B, 188 đến 191).
Vụ thứ năm: Vào khoảng 14 giờ ngày 20/9/2024, T tiếp tục rủ P trộm 02 đơn hàng của công ty đem giao cho kh ch hàng mua hàng online có địa chỉ trên ki n hàng (không nhớ rõ họ tên, địa chỉ) trị gi 1.987.000 đồng, đến tối T qua nhà P để chia tiền cho P, cả hai dùng số tiền trên để tiêu xài cá nhân (bút lục: 156 đến 157, 177A đến 177B, 188 đến 191).
Ngày 15/11/2024, Huỳnh Công T và Trương Thanh P bị Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an thành phố G khởi tố bị can, ra L nh cấm đi khỏi nơi cư trú đối với T và P để điều tra.
Tại Cơ quan điều tra c c bị c o đã khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội của mình như đã nêu trên.
Đại di n Vi n Kiểm sát nhân dân thành phố G giữ quyền công tố tại phiên tòa vẫn giữ nguyên quan điểm truy tố hành vi của c c bị c o Huỳnh Công T và Trương Thanh P đủ yếu tố cấu thành tội Trộm cắp tài sản, theo khoản 1 Điều 173 của Bộ luật hình sự.
* Vật chứng trong vụ án:
- 01 (một) thùng giấy bên trong có chứa: 01 (một) hộp thực phẩm bảo v sức khỏe Viva Woman Balance UP; 01 hộp thực phẩm bổ sung Premium Blue Pink Everyday Bluecut 1000; 01 (một) hộp thực phẩm bảo v sức khỏe MAX GOLD SOLUTION; 02 (hai) hộp thực phẩm bổ sung PREMIUM JIN HWANG DAN.
- 01 (một) xe mô tô nhãn hi u Honda, số loại Future, màu đỏ, biển kiểm soát 68AB-08.330, đã qua sử dụng, số máy JC90E0543425, số khung RLHJC7650PY185640.
Tiền Vi t Nam: 3.660.000 (Ba triệu sáu trăm sáu mươi nghìn đồng) bao gồm các m nh giá khác nhau.
- 01 (một) cái giỏ nhựa màu đỏ, kích thước 50 x 60 x 80cm, đã qua sử dụng;
(bút lục: 19, 22A đến 22B).
* Tại Bản Kết luận định giá tài sản số 140/KL-HĐĐGTS, ngày 08/11/2024 của Hội đồng định giá tài sản trong tố tụng hình sự thành phố G, kết luận:
- 01 (một) hộp thực phẩm bổ sung Premium Blue Pink Everyday Bluecut 1000, trọng lượng 300g (10g/gói x 30 gói/hộp), xuất xứ Hàn Quốc, chưa qua sửdụng, thời điểm định giá ngày 06/10/2024 có giá trị là 567.000 đồng/hộp.
- 01 (một) hộp thực phẩm bảo v sức khoẻ Viva Woman Balance UP, quy c ch đóng gói 1000mg/viên, đóng vỉ 6 viên/vỉ, đóng hộp 10 vi/hộp (60 viên), xuất xứ Hàn Quốc, chưa qua sử dụng, thời điểm định giá ngày 06/10/2024 có giá trị là 717.000 đồng/hộp.
- 01 (một) hộp thực phẩm bảo v sức khoẻ MAX GOLD SOLUTION, quy c ch đóng gói 815mg/viên (ruột nang 500mg/viên), đóng vỉ 6 viên, đóng gói 20 vi/hộp (120 viên), xuất xứ Hàn Quốc, chưa qua sử dụng, thời điểm định giá ngày 06/10/2024 có giá trị là 720.000 đồng/hộp.
- 02 (hai) hộp thực phẩm bổ sung PREMIUM JIN HWANG DAN, quy các đóng gói 3,75g/viên, hộp 60 viên, xuất xứ Hàn Quốc, chưa qua sử dụng, thời điểm định giá ngày 06/10/2024 có giá trị là 4.467.000 đồng/hộp x 2 hộp có giá trị là 8.934.000 đồng.
Tổng cộng 10.938.000 đồng (Mười tri u chín trăm ba mươi t m nghìn đồng), (bút lục 35-36).
Tại bản Cáo trạng số: 145/CT-VKSRG, ngày 11 tháng 04 năm 2025, Vi n Kiểm s t nhân dân thành phố G, tỉnh Kiên Giang đã truy tố c c bị c o Huỳnh Công T và Trương Thanh P phạm tội Trộm cắp tài sản theo khoản 1 Điều 173 của Bộ luật hình sự.
Tại phiên tòa, C c bị cáo thừa nhận toàn bộ hành vi phạm tội của c c bị cáo phù hợp với bản kết luận điều tra của Cơ quan điều tra Công an tỉnh Kiên Giang và bản cáo trạng truy tố của Vi n Kiểm sát nhân dân thành phố G, tỉnh Kiên Giang.
Tại phiên tòa, đại di n Vi n Kiểm s t nhân dân thành phố G, tỉnh Kiên Giang vẫn giữ nguyên quan điểm truy tố c c bị c o về tội danh, điều luật p dụng như nội dung bản c o trạng và đề nghị Hội đồng xét xử tuyên bố c c bị c o Huỳnh Công T và Trương Thanh P phạm tội Trộm cắp tài sản theo khoản 1 Điều 173 Bộ luật hình sự;
Áp dụng 1 Điều 173; điểm s, b, i, r khoản 1, khoản 2 Điều 51, điểm g khoản 1 Điều 52; Điều 58; Điều 36 Bộ luật Hình sự năm 2015, sửa đổi bổ sung năm 2017;
Xử phạt: Bị cáo Huỳnh Công T từ 24 (Hai mươi bốn) đến 30 (Ba mươi) th ng cải tạo không giam giữ.
Bị c o Trương Thanh P từ 18 (Mười tám) đến 24 (Hai mươi bốn) th ng cải tạo không giam giữ.
Không p dụng khấu trừ thu nhập đối với c c bị c o.
Hình phạt sổ sung: Đề nghị không p dụng.
Về xử lý vật chứng: Áp dụng khoản 1 Điều 46 Bộ luật hình sự và khoản 3 Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự:
Cơ quan điều tra đã trao trả cho ông Huỳnh Công T2 01 xe mô tô nhãn hi u Honda, số loại Future màu đỏ đen, biển kiểm soát 68AB-083.30, đã qua sử dụng, số máy JC90E0543452, số khung RLHJC7650PY185640.
Cơ quan điều tra đã trao trả cho chủ sở hữu là bà Trần Thị M: 01 (một) hộp thực phẩm bổ sung Premium Blue Pink Everyday Bluecut 1000, trọng lượng 300g (10g/gói x 30 gói/hộp), xuất xứ Hàn Quốc, chưa qua sử dụng; 01 (một) hộp thực phẩm bảo v sức khoẻ Viva Woman Balance UP, quy c ch đóng gói 1000mg/viên, đóng vỉ 6 viên/vỉ, đóng hộp 10 vỉ/hộp (60 viên), xuất xứ Hàn Quốc, chưa qua sử dụng; 01 (một) hộp thực phẩm bảo v sức khoẻ MAX GOLD SOLUTION, quy c ch đóng gói 815mg/viên (ruột nang 500mg/viên), đóng vỉ 6 viên, đóng gói 20 vỉ/hộp (120 viên), xuất xứ Hàn Quốc, chưa qua sử dụng; 02 (hai) hộp thực phẩm bổ sung PREMIUM JIN HWANG DAN, quy c c đóng gói 3,75g/viên, hộp 60 viên, xuất xứ Hàn Quốc, chưa qua sử dụng.
Cơ quan điều tra đã trao trả cho bị hại Công ty TNHH thương mại B (ông Nguyễn Văn Vũ L đại di n uỷ quyền đã nhận): Tiền Vi t Nam 3.660.000 đồng (Ba tri u s u trăm s u mươi nghìn đồng); 01 (một) giỏ nhựa màu đỏ, kích thước 50 x 60 x 80cm, đã qua sử dụng.
Theo quyết định xử lý vật chứng số 4086 ngày 25/11/2024; Số 657, 658, 658A ngày 26/02/2024 của Cơ quan cảnh s t điều tra Công an thành phố G.
Xét thấy, vi c xử lý vật chứng của cơ quan điều tra là phù hợp nên đề nghị HĐXX không xem xét.
Về trách nhiệm dân sự: Bị hại Công ty TNHH thương mại B đã nhận đủ số tiền yêu cầu bồi thường và người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan ông Huỳnh Công T2 không ai yêu cầu gì thêm, đề nghị không xem xét.
Lời nói sau cùng của các bị cáo: C c bị cáo xin Hội đồng xét xử giảm nhẹ hình phạt.
NHẬN ĐỊNH CỦA TOÀ ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ n, căn cứ vào các tài li u trong hồ sơ vụ n đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra, Điều tra viên, Vi n Kiểm sát nhân dân thành phố G, Kiểm s t viên trong qu trình điều tra, truy tố đã thực hi n đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị c o cũng như những người tham gia tố tụng không có ý kiến ho c khiếu nại gì về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, c c hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hi n đều hợp pháp.
Về sự vắng m t của người tham gia tố tụng: Người bị hại có đơn xin xét xử vắng m t và người có quyền lơi nghĩa vụ liên quan nhưng đã có lời khai tại cơ quan điều tra, vi c vắng m t của họ không ảnh hưởng đến nội dung vụ án nên căn cứ vào khoản 1 Điều 292 của Bộ luật Tố tụng hình sự, Hội đồng xét xử tiến hành xét xử vụ án theo thủ tục chung.
Hội đồng xét xử xét thấy, tại phiên toà hôm nay các bị c o đã khai nhận hành vi phạm tội của mình đúng như nội dung bản cáo trạng đã nêu; lời nhận tội trên phù hợp với lời khai của c c bị cáo tại Cơ quan điều tra của những người tham gia tố tụng và phù hợp với các tài li u, chứng cứ khác có trong hồ sơ vụ án, thể hi n: Do thấy khâu quản lý của Công ty dịch vụ vận chuyển hàng hóa Best Express do bà Nguyễn Thị Thoa làm đại di n và ông Nguyễn Văn Vũ L là quả lý kho hàng còn lỏng lẽo. Các bị cáo T và P cần tiền tiêu xài cá nhân nên Huỳnh Công T và Trương Thanh P này sinh ý định trộm cắp tài sản là những đơn hàng của Công ty để lấy tiền tiêu xài cá nhân. Từ ngày 15/9/2024 đến ngày 06/10/2024, T và P đã thực hi n 06 vụ trộm cắp tài sản của Công ty TNHH thương mại B do bà Nguyễn Thị T2 làm đại di n, Trong đó, T cùng P thực hi n 04 vụ, qua định giá với tổng giá trị tài sản là 16.224.000 đồng (Mười sáu triệu hai trăm hai mươi bốn nghìn đồng), cá nhân T thực hi n thêm 02 vụ, qua định giá với tổng giá trị tài sản là 3.714.000 đồng (Ba triệu bảy trăm mười bón nghìn đồng).
Từ những chứng cứ đã nêu trên, có đủ cơ sở để kết luận hành vi của c c bị c o Huỳnh Công T và Trương Thanh P phạm tội Trộm cắp tài sản theo khoản 1 Điều 173 Bộ luật hình sự năm 2015, sửa đổi bổ sung năm 2017 như kết luận của Vi n Kiểm sát nhân dân thành phố G là có căn cứ, đúng người, đúng tội, đúng pháp luật.
Xét về hành vi phạm tội của các bị c o là nguy hiểm cho xã hội, m c dù bị c o ý thức được vi c trộm cắp tài sản của người kh c là vi phạm ph p luật, nhưng vì muốn có tiền tiêu xài c nhân nên các bị c o lợi dụng sự sơ hở của bị hại bất chấp thực hi n hành vi chiếm đoạt tài sản của người kh c một c ch tr i ph p luật. Hành vi phạm tội của các bị c o với l i cố ý trực tiếp xâm phạm đến quyền sở hữu về tài sản của người kh c được ph p luật thừa nhận và bảo v , làm ảnh hưởng xấu đến hoạt động kinh doanh của bị hại, làm mất an ninh, trật tự ở địa phương và gây bất bình trong dư luận quần chúng nhân dân. Tuy nhiên, xét về phía bị hại cũng có một phần l i là do quản lý lỏng lẻo, không ch c chẽ kho hàng từ đó tạo điều ki n cho c c bị c o có cơ hội thực hi n hành vi phạm tội. Trong vụ án này có tính chất đồng phạm nhưng mang tính giản đơn, không có kế hoạch, cấu kết, phân công vai trò nhi m vụ cu thể. Tuy nhiên, T là người rủ rê P và người thực hi n hành vi phạm tội nhiều lần hơn P nên cần xem xét về hình phạt n ng hơn P là phù hợp. Từ những phân tích nêu trên Hội đồng xét xử thống nhất xử phạt c c bị c o mức n tương xứng nhằm giáo dục c c bị c o trở thành một công dân tốt, sống có ích cho xã hội.
Về tình tiết tăng n ng tr ch nhi m hình sự: C c bị c o Huỳnh Công T và Trương Thanh P phạm tội 02 lần trở lên nên phải chịu tình tiết tăng n ng tr ch nhi m hình sự theo quy định tại điểm g khoản 1 Điều 52 Bộ luật hình sự.
Về tình tiết giảm nhẹ tr ch nhi m hình sự: Tại cơ quan điều tra và tại phiên tòa c c bị c o Huỳnh Công T và Trương Thanh P có th i độ thành khẩn khai b o, ăn năn hối cải, phạm tội lần đầu thuộc trường hợp ít nghiêm trọng, c c bị c o tự thú khai ra những lần thực hi n phạm tội trước và c c bị c c đã khắc phục hậu quả toàn bộ số tiền theo yêu cầu của bị hại nên cho bị c o được hưởng tình tiết giảm nhẹ tr ch nhi m hình sự quy định tại điểm s, i , r, b khoản 1 Điều 51 Bộ luật Hình sự. Ngoài ra, Người đại di n bị hại có đơn xin giảm nhẹ hình phạt cho c c bị c o nên có đủ cứ cứ p dụng thêm tính tiết giảm nhẹ tr ch nhi m hình sự theo quy định tại khoản 2 Điều 51 Bộ luật Hình sự.
Qua xem xét, đ nh gi tính chất, mức độ hành vi phạm tội, các tình tiết tăng n ng, giảm nhẹ trách nhi m hình sự; cho thấy bị cáo có nhân thân tốt được thể hi n bị b o chưa có tiền án, tiền sự, có nhiều tình tiết giảm nhẹ và bị c o có nơi cư trú r ràng. Từ những căn cứ trên xét thấy không cần thiết phải cách ly các bị cáo Huỳnh Công T, và Trương Thanh P ra khỏi đời sống xã hội mà giao bị cáo cho Ủy ban nhân dân phường, xã nơi bị c o cư trú để giám sát, giáo dục cũng đủ tính răn đe đối với c c bị cáo. Do đó, có đủ căn cứ để Hội đồng xét xử áp dụng hình phạt cải tạo không giam giữ theo quy định tại Điều 36 Bộ luật Hình sự đối với bị cáo; qua đó cũng thể hi n sự khoan hồng của pháp luật.
Xét thấy các bị cáo không có nghề nghi p, không có thu nhập nên HĐXX miễn khấu trừ thu nhập đối với các bị cáo.
Về xử lý vật chứng: Qu trình điều tra Cơ quan cảnh s t điều tra Công an thành phố G, tỉnh Kiên Giang đã trao trả vật chứng của vụ án là tài sản của ông Huỳnh Công T2 01 (một) xe mô tô nhãn hi u Honda, số loại Future màu đỏ đen, biển kiểm soát 68AB-083.30, đã qua sử dụng, số máy JC90E0543452, số khung RLHJC7650PY185640; Trả cho bà Trần Thị M: 01 (một) hộp thực phẩm bổ sung Premium Blue Pink Everyday Bluecut 1000, trọng lượng 300g (10g/gói x 30 gói/hộp), xuất xứ Hàn Quốc, chưa qua sử dụng; 01 (một) hộp thực phẩm bảo v sức khoẻ Viva Woman Balance UP, quy c ch đóng gói 1000mg/viên, đóng vỉ 6 viên/vỉ, đóng hộp 10 vỉ/hộp (60 viên), xuất xứ Hàn Quốc, chưa qua sử dụng; 01 (một) hộp thực phẩm bảo v sức khoẻ MAX GOLD SOLUTION, quy c ch đóng gói 815mg/viên (ruột nang 500mg/viên), đóng vỉ 6 viên, đóng gói 20 vỉ/hộp (120 viên), xuất xứ Hàn Quốc, chưa qua sử dụng; 02 (hai) hộp thực phẩm bổ sung PREMIUM JIN HWANG DAN, quy c c đóng gói 3,75g/viên, hộp 60 viên, xuất xứ Hàn Quốc, chưa qua sử dụng và trả cho bị hại Công ty TNHH thương mại B (ông Nguyễn Văn Vũ L đại di n uỷ quyền đã nhận) Tiền Vi t Nam 3.660.000 đồng (Ba tri u s u trăm s u mươi nghìn đồng); 01 (một) giỏ nhựa màu đỏ, kích thước 50 x 60 x 80cm, đã qua sử dụng.
Xét thấy, vi c xử lý vật chứng của Cơ quan cảnh sát điều tra Công an thành phố G không ảnh hưởng đến vi c giải quyết vụ án, không có ai khiếu nại về vi c xử lý vật chứng nên Hội đồng xét xử không xem xét.
Về trách nhi m dân sự: Bị hại Công ty TNHH thương mại B yêu cầu các bị cáo bồi thường số tiền 9.000.000 đồng (Chín triệu đồng), các bị c o đã bồi thường, bị hại đã nhận đủ số tiền yêu cầu bồi thường và người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan ông Huỳnh Công T2 không ai yêu cầu gì thêm nên Hội đồng xét xủ không xem xét.
Về hình phạt bổ sung: Theo các tài li u, chứng cứ và lời khai của c c bị cáo tại phiên tòa đã cho thấy c c bị cáo không có nghề nghi p, điều ki n kinh tế gia đình khó khăn. Do đó, Hội đồng xét xử quyết định không áp dụng hình phạt bổ sung là phạt tiền đối với c c bị cáo.
Xét đề nghị của đại di n Vi n Kiểm sát nhân dân thành phố G đề nghị tại bản luận tội đối với c c bị c o là phù hợp nên Hội đồng xét xử ghi nhận.
Về án phí: C c Bị cáo phải nộp n phí theo quy định của pháp luật.
Vì c c lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Tuyên bố: C c bị c o Huỳnh Công T và Trương Thanh P phạm tội “Trộm cắp tài sản”.
Áp dụng khoản 1 Điều 173; điểm s, i, r, b khoản 1, 2 Điều 51; điểm g khoản 1 Điều 52; Điều 17; Điều 58 Điều 36 Bộ luật Hình sự;
Xử phạt: 1. Bị c o Huỳnh Công T mức n 02 (Hai) năm cải tạo không giam giữ.
Thời điểm bắt đầu chấp hành án phạt cải tạo không giam giữ tính từ ngày cơ quan thi hành án hình sự Công an cấp có thẩm quyền, cơ quan thi hành án hình sự cấp quân khu nhận được Quyết định thi hành án. Giao bị cáo Huỳnh Công T cho Ủy ban nhân dân phường Vĩnh Thanh Vân, thành phố Rạch Gi , tỉnh Kiên Giang giám sát, giáo dục bị cáo trong thời gian cải tạo không giam giữ.
2. Bị c o Trương Thanh P mức n 01 (Một) năm 06 (Sáu) tháng cải tạo không giam giữ.
Thời điểm bắt đầu chấp hành án phạt cải tạo không giam giữ tính từ ngày cơ quan thi hành án hình sự Công an cấp có thẩm quyền, cơ quan thi hành án hình sự cấp quân khu nhận được Quyết định thi hành án. Giao bị cáo Trương Thanh P cho Ủy ban nhân dân phường Vĩnh Thanh Vân, thành phố Rạch Gi , tỉnh Kiên Giang giám sát, giáo dục bị cáo trong thời gian cải tạo không giam giữ.
Miễn áp dụng khấu trừ thu nhập đối với các bị cáo.
- Về n phí: Áp dụng khoản 2 Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự; Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016; buộc m i bị cáo phải chịu 200.000 đồng (Hai trăm nghìn đồng) án phí hình sự sơ thẩm.
- Về quyền kháng cáo: C c bị cáo có m t có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên n sơ thẩm (ngày 27/05/2025). Bị hại và người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan vắng m t có quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án ho c được tống đạt hợp l . * Nơi nhận:
| - TAND tỉnh Kiên Giang; - Viện kiểm sát cùng cấp; - Cơ quan THA Dân sự có thẩm quyền; - Công an có thẩm quyền - Bị cáo, người TGTT; - Lưu hồ sơ vụ án. | TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Huỳnh Thị Thùy Linh |