vanban.org

Bản án 149/2025/HNGĐ-ST — Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình

Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Chấp nhận yêu cầu khởi kiện về việc "Ly hôn, tranh chấp nuôi con chung" của bà Lê Thị Thanh P đối với ông Ngô Văn T.

Về quan hệ hôn nhân: Cho bà Lê Thị Thanh P được ly hôn đối với ông Ngô Văn T. Do chấp nhận yêu cầu ly hôn của bà Lê Thị Thanh P đối với ông Ngô Văn T nên giấy chứng nhận kết hôn số 74 do UBND phường Hoà Quý, quận Ngũ Hành Sơn, Tp Đà Nẵng (nay là phường Ngũ Hành Sơn, Tp Đà Nẵng) cấp cho bà Lê Thị Tha… Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình — án hôn nhân và gia đình — "Lê Thị Thanh Phương- Ngô Văn Thanh"
  • Tòa quyết gì? Chấp nhận yêu cầu khởi kiện về việc "Ly hôn, tranh chấp nuôi con chung" của bà Lê Thị Thanh P đối với ông Ngô Văn T.
  • Căn cứ chính? NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…; Luật tố tụng hành chính; Luật phá sản
TÒA ÁN NHÂN DÂN
KHU VỰC 2 - ĐÀ NẴNG

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 149/2025/HNGĐ-ST
Ngày: 05/9/2025
V/v: “Ly hôn, tranh chấp nuôi con chung”

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN KHU VỰC 2 - ĐÀ NẴNG

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà: Bà Nguyễn Thị Trâm

Các Hội thẩm nhân dân: Ông Huỳnh Bá Tiến

Ông Nguyễn Tuấn Ngọc

- Thư ký phiên tòa: Bà Hoàng Thị Mỹ Thương- Thư ký TAND Khu vực 2 - Đà Nẵng.

- Đại diện Viện Kiểm sát nhân dân Khu vực 2 – Đà Nẵng tham gia phiên tòa: Bà Trịnh Ngọc Thuỳ Trang- Kiểm sát viên.

Ngày 05/9/2025, tại trụ sở Tòa án nhân dân Khu vực 2- Đà Nẵng xét xử sơ thẩm công khai vụ án hôn nhân gia đình thụ lý số 38/2025/TLST-HNGĐ ngày 24 tháng 6 năm 2025 về tranh chấp: “Ly hôn, tranh chấp nuôi con chung” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 38/2025/QĐXXST-HNGĐ ngày 14/8/2025 và Quyết định hoãn phiên toà số 38-01/2025/QĐST-HNGĐ ngày 28/8/2025 giữa các đương sự:

1. Nguyên đơn: Bà Lê Thị Thanh P- Sinh năm: 1986- Số CCCD: xxxxxxxxxxxx do Cục CSQLHC về TTXH cấp ngày 09/8/2021 – Địa chỉ: Thôn T, phường Đ, huyện Đ, tỉnh Quảng Nam. (Nay là khối phố T, phường Đ, Tp Đà Nẵng). (Có đơn xin xét xử vắng mặt).

2. Bị đơn: Ông Ngô Văn T - Sinh năm: 1978- Số CCCD: xxxxxxxxxxxx do Cục CSQLHC về TTXH cấp ngày 06/8/2023 – Địa chỉ: 316 đường B, tổ 21 phường H, quận N, thành phố Đà Nẵng. (Nay là phường N, Tp Đà Nẵng). Vắng mặt.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

* Theo đơn khởi kiện, tại bản tự khai và quá trình tố tụng tại Tòa án, nguyên đơn bà Lê Thị Thanh P trình bày:

- Về quan hệ hôn nhân: Bà Lê Thị Thanh P và ông Ngô Văn T xây dựng gia đình với nhau vào năm 2004. Hôn nhân tự nguyện, có thời gian tìm hiểu nhau, có đăng ký kết hôn tại UBND phường Hoà Quý, quận Ngũ Hành Sơn, Tp Đà Nẵng. Sau khi kết hôn, vợ chồng bà chung sống tại của cha mẹ bà thuộc Thôn Tứ Câu, phường Điện Ngọc, huyện Điện Bàn, tỉnh Quảng Nam. (Nay là khối phố Tứ Câu, phường Điện Bàn Đông, Tp Đà Nẵng). Chung sống được một thời gian thì đến năm 2010 giữa vợ chồng bà phát sinh mâu thuẫn, nguyên nhân là do bất đồng với nhau về quan điểm sống, không tìm được tiếng nói chung dẫn đến thường xuyên cãi vả, to tiếng với nhau. Mâu thuẫn kéo dài không thể hàn gắn được, ông bà đã sống ly thân từ năm 2010 cho đến nay, không ai quan tâm gì đến ai. Nay xét thấy mục đích hôn nhân không đạt được, tình cảm của bà P đối với ông Ngô Văn T không còn, do đó bà xin được ly hôn với ông Ngô Văn T.

- Về quan hệ con chung: Bà Lê Thị Thanh P xác định bà và ông Ngô Văn T có 03 con chung là: Ngô Văn M- Sinh ngày: 16/11/2004; Ngô Văn T1- Sinh ngày: 09/4/2008 và Ngô Thị Quý L- Sinh ngày: 04/8/2010. Từ khi ly thân đến nay các con chung đều do bà trực tiếp chăm sóc và dạy dỗ, mọi chi phí ăn uống và học tập đều một tay bà gánh vác. Nay ly hôn, bà Lê Thị Thanh P có nguyện vọng được trực tiếp nuôi dưỡng 02 con Ngô Văn T1 và Ngô Thị Quý L cho đến khi con đủ 18 tuổi, bà P không yêu cầu ông T phải cấp dưỡng nuôi con chung. Đối với con Ngô Văn Mạnh đã đủ 18 tuổi và phát tiển bình thường nên không yêu cầu Toà án giải quyết.

- Về quan hệ tài sản chung: Bà Lê Thị Thanh P xác định không có.

- Về nợ chung: Bà Lê Thị Thanh P xác định không có.

* Đối với bị đơn – ông Ngô Văn T: Mặc dù đã được Tòa án đã giao hợp lệ thông báo thụ lý vụ án, các thông báo về phiên họp kiểm tra việc giao nộp, tiếp cận, công khai chứng cứ và hòa giải cũng như Quyết định đưa vụ án ra xét xử, Quyết định hoãn phiên tòa nhưng ông Ngô Văn T đều vắng mặt và không có ý kiến phản hồi nên không ghi nhận được ý kiến của ông về yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn.

* Tại phiên tòa, đại diện Viện kiểm sát nhân dân Khu vực 2- Đà Nẵng phát biểu ý kiến về việc tuân theo pháp luật tố tụng trong quá trình giải quyết vụ án của Thẩm phán, Hội đồng xét xử, Thư ký phiên tòa việc chấp hành pháp luật của người tham gia tố tụng dân sự kể từ khi thụ lý vụ án cho đến trước thời điểm Hội đồng xét xử nghị án và phát biểu ý kiến về việc giải quyết vụ án. Theo đó, Thẩm phán, Hội đồng xét xử, thư ký phiên tòa và nguyên đơn đã tuân thủ đúng pháp luật, riêng bị đơn ông Ngô Văn T không chấp hành triệu tập của Tòa án, chưa thực hiện đầy đủ quyền và nghĩa vụ của mình theo quy định của pháp luật. Về nội dung vụ án, đại diện Viện kiểm sát nhân dân Khu vực 2 – Đà Nẵng đề nghị Hội đồng xét xử: Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn về việc ly hôn, tranh chấp nuôi con chung.

- Về quan hệ hôn nhân: Áp dụng điều 51, 56 Luật Hôn nhân và gia đình đề nghị xử cho bà Lê Thị Thanh P được ly hôn ông Ngô Văn T.

- Về quan hệ con chung: Áp dụng điều 81, 82, 83 Luật Hôn nhân và gia đình đề nghị xử: Giao con chung Ngô Văn T1- Sinh ngày: 09/4/2008 và Ngô Thị Quý L- Sinh ngày: 04/8/2010 cho bà Lê Thị Thanh P được trực tiếp nuôi dưỡng cho đến khi các con đủ 18 tuổi, ông Ngô Văn T không cấp dưỡng nuôi con chung. Đối với con Ngô Văn M- Sinh ngày: 16/11/2004 đã đủ 18 tuổi và phát triển bình thường nên không đề cập đến.

- Về tài sản chung: Bà Lê Thị Thanh P xác định không có.

- Về nợ chung: Bà Lê Thị Thanh P xác định không có.

Tại phiên tòa ông Ngô Văn T vắng mặt nên để đảm bảo quyền lợi cho các bên đương sự đề nghị HĐXX không xem xét giải quyết về tài sản chung và nợ chung trong vụ án này, nếu có tranh chấp các đương sự được quyền khởi kiện bằng vụ án dân sự khác.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phiên toà, sau khi nghe các đương sự trình bày ý kiến; sau khi nghe đại diện Viện kiểm sát phát biểu quan điểm về vụ án, sau khi thảo luận và nghị án, HĐXX nhận định:

Về thủ tục: Đơn khởi kiện của bà Lê Thị Thanh P nộp tại Tòa án là đúng thủ tục và thẩm quyền được quy định tại khoản 1 Điều 28, điểm a khoản 1 Điều 35 và điểm a khoản 1 Điều 39 của Bộ luật tố tụng dân sự; Khoản 2 Điều 1 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Bộ luật tố tụng dân sự, Luật tố tụng hành chính, Luật tư pháp người chưa thành niên, Luật phá sản và Luật hòa giải, đối thoại tại Toà án năm 2025

Bà Lê Thị Thanh P là nguyên đơn trong vụ án, có đơn xin xét xử vắng mặt; bị đơn ông Ngô Văn T đã được Tòa án triệu tập hợp lệ để tham gia phiên tòa lần thứ hai nhưng ông T vẫn vắng mặt. Hội đồng xét xử căn cứ điều 227, 228 Bộ luật tố tụng dân sự để xét xử vắng mặt các đương sự.

Về nội dung:

Về quan hệ hôn nhân: Bà Lê Thị Thanh P và ông Ngô Văn T đăng ký kết hôn vào năm 2004 tại UBND phường Hoà Quý, quận Ngũ Hành Sơn, Tp Đà Nẵng theo giấy chứng nhận kết hôn số: 74 cấp ngày 29/4/2004. Hôn nhân tự nguyện, có thời gian tìm hiểu nhau. Đây là cuộc hôn nhân hợp pháp nên được pháp luật công nhận và bảo vệ.

Sau khi kết hôn, vợ chồng bà chung sống tại của cha mẹ bà thuộc Thôn Tứ Câu, phường Điện Ngọc, huyện Điện Bàn, tỉnh Quảng Nam. (Nay là khối phố Tứ Câu, phường Điện Bàn Đông, Tp Đà Nẵng). Chung sống được một thời gian thì đến năm 2010 giữa vợ chồng bà phát sinh mâu thuẫn, nguyên nhân là do bất đồng với nhau về quan điểm sống, không tìm được tiếng nói chung dẫn đến thường xuyên cãi vả, to tiếng với nhau. Mâu thuẫn kéo dài không thể hàn gắn được, ông bà đã sống ly thân từ năm 2010 cho đến nay, không ai quan tâm gì đến ai. Nay xét thấy mục đích hôn nhân không đạt được, tình cảm của bà P đối với ông Ngô Văn T không còn, do đó bà xin được ly hôn với ông Ngô Văn T.

Xét yêu cầu xin ly hôn của bà Lê Thị Thanh P đối với ông Ngô Văn T thì thấy: Hạnh phúc gia đình chỉ thật sự có được dựa trên sự yêu thương, chung thủy, tôn trọng, quan tâm, chăm sóc, giúp đỡ lẫn nhau, thế nhưng giữa bà P và ông T lại không làm được điều này. Khi mâu thuẫn xảy ra hai bên không tìm được cách giải quyết đề hàn gắn và xây dựng gia đình mà để mâu thuẫn kéo dài, bỏ mặc. Qua xác minh tại địa phương thì được biết hiện tại bà P và ông T không còn chung sống với nhau. Về phía ông Ngô Văn T, Tòa án đã tạo điều kiện nhiều lần để vợ chồng hòa giải mâu thuẫn, trở về đoàn tụ chung sống với nhau nhưng ông Ngô Văn T đều vắng mặt tại các phiên hòa giải. Việc này cho thấy ông Ngô Văn T không tôn trọng Tòa án và thờ ơ với việc hàn gắn hạnh phúc gia đình, không có thiện chí níu kéo mối quan hệ hôn nhân của mình. Xét thấy, mâu thuẫn của bà Lê Thị Thanh P và ông Ngô Văn T đã đến mức trầm trọng, đời sống chung không thể kéo dài, mục đích hôn nhân không đạt được, nên HĐXX chấp nhận yêu cầu ly hôn của bà Lê Thị Thanh P đối với ông Ngô Văn T là phù hợp quy định tại Điều 51, 56 Luật hôn nhân và gia đình.

Về con chung: Bà Lê Thị Thanh P xác định có 03 con chung là: Ngô Văn M- Sinh ngày: 16/11/2004; Ngô Văn T1- Sinh ngày: 09/4/2008 và Ngô Thị Quý L- Sinh ngày: 04/8/2010. Ly hôn, bà Lê Thị Thanh P có nguyện vọng được trực tiếp nuôi dưỡng 02 con Ngô Văn Tài và Ngô Thị Quý Lộc cho đến khi các con đủ 18 tuổi, bà P không yêu cầu ông T phải cấp dưỡng nuôi con chung. Đối với con Ngô Văn M đã đủ 18 tuổi và phát tiển bình thường nên không yêu cầu Toà án giải quyết.

Xét yêu cầu của bà P về việc nuôi con chung thì thấy: Việc giao con cho ai trông nom, nuôi dưỡng đều phải dựa vào quyền lợi mọi mặt của con, đảm bảo được sự phát triển của con cả về thể chất lẫn tinh thần. Từ khi ông bà ly thân cho đến nay, các con chung đều được bà P chăm sóc, nuôi dưỡng. Do vậy cần giao con chung Ngô Văn T- Sinh ngày: 09/4/2008 và Ngô Thị Quý L- Sinh ngày: 04/8/2010 cho bà P được trực tiếp nuôi dưỡng cho đến khi các con chung đủ 18 tuổi là phù hợp với tình hình thực tế, phù hợp với nguyện vọng của các con và phù hợp với quy định tại các Điều 81, 82, 83 của Luật Hôn nhân và gia đình. Đối với con Ngô Văn M đã đủ 18 tuổi và phát tiển bình thường nên không đề cập đến.

Đối với việc cấp dưỡng nuôi con: Do bà P không yêu cầu nên HĐXX không xem xét giải quyết.

Về tài sản chung: Bà Lê Thị Thanh P xác định không có.

Về nợ chung: Bà Lê Thị Thanh P xác định không có.

Ông Ngô Văn T vắng mặt nên không ghi nhận được kiến của ông về tài sản chung và nợ chung. Do vậy, để đảm bảo quyền lợi cho các bên đương sự, HĐXX không xem xét giải quyết trong vụ án này. Nếu các đương sự có tranh chấp về tài sản chung và nợ chung thì sẽ giải quyết bằng một vụ án dân sự khác.

Án phí HNGĐ sơ thẩm: Bà Lê Thị Thanh P phải chịu theo quy định của pháp luật.

Vì các lẽ trên;

QUYẾT ĐỊNH:

- Căn cứ: Khoản 1 Điều 28, điểm a khoản 1 Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 39, Điều 227, Điều 228 Bộ luật tố tụng dân sự;

- Căn cứ Khoản 2 Điều 1 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Bộ luật tố tụng dân sự, Luật tố tụng hành chính, Luật tư pháp người chưa thành niên, Luật phá sản và Luật hòa giải, đối thoại tại Toà án năm 2025;

- Căn cứ Điều 51, 56, 81, 82, 83, 84 Luật hôn nhân và gia đình;

- Căn cứ Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án;

Chấp nhận yêu cầu khởi kiện về việc "Ly hôn, tranh chấp nuôi con chung" của bà Lê Thị Thanh P đối với ông Ngô Văn T.

Xử:

1. Về quan hệ hôn nhân: Cho bà Lê Thị Thanh P được ly hôn đối với ông Ngô Văn T.

Do chấp nhận yêu cầu ly hôn của bà Lê Thị Thanh P đối với ông Ngô Văn T nên giấy chứng nhận kết hôn số 74 do UBND phường Hoà Quý, quận Ngũ Hành Sơn, Tp Đà Nẵng (nay là phường Ngũ Hành Sơn, Tp Đà Nẵng) cấp cho bà Lê Thị Thanh P và ông Ngô Văn T ngày 29/4/2004 không còn giá trị pháp lý.

2. Về quan hệ con chung: Xử: Giao con chung Ngô Văn T1- Sinh ngày: 09/4/2008 và Ngô Thị Quý L- Sinh ngày: 04/8/2010 cho bà Lê Thị Thanh P được trực tiếp nuôi dưỡng cho đến khi các con đủ 18 tuổi, ông Ngô Văn T không cấp dưỡng nuôi con chung. Đối với con Ngô Văn M- Sinh ngày: 16/11/2004 do đã trưởng thành và phát triển bình thường nên không xem xét giải quyết.

Bên không trực tiếp nuôi con vẫn được thực hiện mọi quyền và nghĩa vụ đối với con chung, không ai được cản trở. Khi cần thiết vì lợi ích của con chung, các bên đều có quyền yêu cầu giải quyết về việc thay đổi người trực tiếp nuôi con và yêu cầu cấp dưỡng nuôi con chung.

3. Án phí HNGĐ-ST: 300.000 đồng bà Lê Thị Thanh P phải chịu được khấu trừ vào số tiền tạm ứng án phí 300.000 đồng bà Lê Thị Thanh P đã nộp tại biên lai thu số 0010287 ngày 23/6/2025 tại Chi cục Thi hành án dân sự quận Ngũ Hành Sơn, thành phố Đà Nẵng.

Án xử công khai sơ thẩm, các đương sự có quyền làm đơn kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án, đương sự vắng mặt tại phiên tòa hoặc không có mặt khi tuyên án mà có lý do chính đáng thì thời hạn kháng cáo tính từ ngày nhận được bản án hoặc bản sao án hợp lệ.

Trường hợp bản án được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật thi hành án dân sự. người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự, người phải thi hành dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các điều 6, 7 và 9 luật thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại điều 30 Luật thi hành án dân sự.

Cỡ chữ