- Tranh chấp gì? Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình — án hôn nhân và gia đình — "Nguyễn Thị N - Hoàng Anh Đ ly hôn"
- Tòa quyết gì? Về hôn nhân: Cho chị Nguyễn Thị N được ly hôn anh Hoàng Anh Đ.
- Căn cứ chính? Điều 51 Luật Hôn nhân và gia đình; Điều 56 Luật Hôn nhân và gia đình; Điều 57 Luật Hôn nhân và gia đình
| TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN MỸ Đ THÀNH PHỐ HÀ NỘI | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Bản án số: 149/2025/HNGĐ-ST Ngày 22 - 5 - 2025 V/v ly hôn |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN MỸ Đ, THÀNH PHỐ HÀ NỘI
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà: Ông Lã Phi Hùng
Các Hội thẩm nhân dân: Ông Phan Mạnh Tưởng và ông Nguyễn Tiến Bộ
- Thư ký phiên toà: Bà Đinh Thị Thuỳ Linh, Thư ký Tòa án nhân dân huyện Mỹ Đ, Thành phố Hà Nội.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Mỹ Đ, Thành phố Hà Nội tham gia phiên tòa: Ông Nguyễn Duy Luân - Kiểm sát viên
Trong ngày 22 tháng 5 năm 2025 tại trụ sở TAND huyện Mỹ Đ xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số 51/2025/TLST-HNGĐ ngày 28 tháng 02 năm 2025, về việc kiện ly hôn, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 20/ 2025/ QĐXX - ST ngày 15 tháng 4 năm 2025 và Quyết định hoãn phiên tòa số 24/2025/QĐST - DS ngày 05/5/2025 giữa các đương sự:
Nguyên đơn: Chị Nguyễn Thị N, sinh năm 1980
Bị đơn: Anh Hoàng Anh Đ, sinh năm 1982
Đều có HKTT: Đội 3, tổ dân phố V, thị trấn Đ, huyện M, Thành phố H.
Chị N có mặt, anh Đ vắng mặt.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo đơn xin ly hôn và những buổi làm việc tại Toà, nguyên đơn chị Nguyễn Thị N trình bày:
- Về hôn nhân: Chị N và anh Hoàng Anh Đ tự nguyện kết hôn vào ngày 21/4/2003, có đăng ký kết hôn tại UBND xã Thái Niên, huyện Bảo Thắng, tỉnh Lào Cai. Sau khi cưới vợ chồng chung sống với nhau tại thị trấn Đại Nghĩa, huyện Mỹ Đ, Thành phố Hà Nội. Cuộc sống vợ chồng hạnh phúc được một thời gian thì phát sinh mâu thuẫn. Nguyên nhân mâu thuẫn do tính tình không hợp, mỗi người có một quan điểm lối sống khác nhau, vợ chồng luôn bất đồng quan điểm sống, hơn nữa anh Đ không quan tâm đến gia đình. Vợ chồng đã ly thân nhiều năm nay không còn quan hệ gì. Nhận thấy tình cảm không còn, hạnh phúc không có, chị N đề nghị được ly hôn với anh Đ.
- Về con chung: Vợ chồng có 02 con chung là cháu Hoàng Quốc V, sinh ngày 01/8/2004, cháu Hoàng Đ Huy, sinh ngày 27/5/2014, hiện nay cả hai con chung đang ở với chị N. Ly hôn chị N xin được nuôi dưỡng, chăm sóc cháu Hoàng Đ H, không yêu cầu anh Đ phải cấp dưỡng phải tổn nuôi con chung. Đối với cháu Hoàng Quốc V hiện nay đã trưởng thành, nên không yêu cầu Toà giải quyết.
- Về tài sản chung: Không yêu cầu Tòa án giải quyết.
- Về công nợ: Không nợ lần gì ai.
Về phía anh Hoàng Anh Đ:
Quá trình giải quyết vụ án, anh Đ không đến Tòa làm việc, nên Tòa án kết hợp với UBND thị Trấn Đại Nghĩa đến tận nhà anh Đ tống đạt và niêm yết, Thông báo về việc thụ lý vụ án, Thông báo về phiên họp kiểm tra việc giao nộp, tiếp cận, công khai chứng cứ và hòa giải, quyết định đưa vụ án ra xét xử nhưng anh Đ vẫn không đến tòa làm việc.
Mặc dù đã được Tòa án tống đạt các văn bản tố tụng hợp lệ, nhưng anh Đ cố tình không đến Tòa làm việc, nên không rõ quan điểm của anh Đ.
Đại diện VKSND huyện Mỹ Đ tham gia phiên toà phát biểu về việc giải quyết vụ án:
Về tố tụng: Thẩm phán, Hội đồng xét xử đã tuân thủ đúng các quy định về thủ tục tố tụng của Pháp luật TTDS trong quá trình giải quyết vụ án. Nguyên đơn đã chấp hành đầy đủ nghĩa vụ tố tụng, bị đơn chưa chấp hành đầy đủ nghĩa vụ tố tụng của mình.
Về nội dung: Đề nghị HĐXX chấp nhận yêu cầu xin ly hôn của chị Nguyễn Thị N, cho chị N được ly hôn với anh Hoàng Anh Đ; giao cháu Hoàng Đ Huy, sinh ngày 27/5/2014 cho chị N trực tiếp, nuôi dưỡng, chăm sóc; tạm hoãn việc góp phí tổn nuôi con cho anh Đ. Đối với cháu Hoàng Quốc V, sinh ngày 01/8/2004, hiện nay đã trưởng thành, nên không đề nghị Toà giải quyết và không xem xét quan hệ tài sản chung vợ chồng do chị N không yêu cầu.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Về tố tụng: Mặc dù vào thời điểm Tòa án tiến hành giải quyết vụ án, anh Hoàng Anh Đ vẫn có hộ khẩu thường trú tại thị trấn Đại Nghĩa, huyện Mỹ Đ, Thành phố Hà Nội nhưng không đến tòa làm việc, nên Tòa án đã tiến hành giao các văn bản tố tụng theo quy định của pháp luật, nhưng vẫn không thấy anh Đ đến Tòa làm việc, nên bị coi là trường hợp bị đơn cố tình không đến Tòa làm việc; vì vậy, không cần sự có mặt của anh Đ, Tòa án vẫn tiến hành đưa vụ án ra xét xử theo quy định của pháp luật.
Về hôn nhân: Xét quan hệ hôn nhân giữa chị Nguyễn Thị N và anh Hoàng Anh Đ, tuy là cuộc hôn nhân tự nguyện, tiến bộ có đăng ký kết hôn tại UBND xã Thái Niên, huyện Bảo Thắng, tỉnh Lào Cai, thời gian chung sống hạnh phúc chẳng được bao nhiêu, sau đó cả hai không chung sống với nhau nữa và đã ly thân nhiều năm nay là một bằng chứng nói lên quan hệ hôn nhân giữa chị N và anh Đ tuy không rõ nguyên nhân từ đâu, song đã ẩn chứa những mâu thuẫn, bất đồng hết sức nghiêm trọng.
Do thời gian ly thân đã lâu, mọi níu kéo trở nên vô vọng, tình cảm vợ chồng không còn, phía chị N quyết định xin ly hôn anh Đ. Quá trình tố tụng, việc anh Đ cố tình không chịu đến tòa làm việc không chỉ thể hiện thái độ không tôn trọng cơ quan tố tụng mà ở một góc độ khác còn thể hiện ý thức không mong muốn hòa giải đoàn tụ vợ chồng. Xác minh tại nơi cư trú, chính quyền địa phương cũng xác nhận, mâu thuẫn giữa các bên là không thể hàn gắn và trên thực tế quan hệ hôn nhân thực sự chấm dứt đã nhiều năm nay.
Xét mâu thuẫn vợ chồng giữa chị N và anh Đ đã thực sự trầm trọng, tình cảm vợ chồng không còn, mục đích hôn nhân không đạt được, hôn nhân tồn tại chỉ là hình thức, không còn ý nghĩa. Vì vậy, yêu cầu của chị N xin ly hôn anh Đ là có cơ sở, nên áp dụng các quy định tại các Điều 51, 56, 57 Luật hôn nhân và gia đình; Điều 39 của BLDS chấp nhận yêu cầu xin ly hôn của chị Nguyễn Thị N, cho chị N được ly hôn với anh Hoàng Anh Đ.
Về con chung: Vợ chồng có 02 con chung là cháu Hoàng Quốc V, sinh ngày 01/8/2004, cháu Hoàng Đ Huy, sinh ngày 27/5/2014. Quá trình giải quyết chị N nguyện vọng xin được nuôi dưỡng, chăm sóc cháu Huy, cháu Huy cũng có nguyện vọng được ở với chị N; hơn nữa anh Đ không đến Tòa làm việc, không biết được quan điểm của anh Đ, nên giao cháu Hoàng Đ Huy cho chị N được nuôi dưỡng, chăm sóc và tạm hoãn nghĩa vụ cấp dưỡng nuôi con chung cho anh Đ. Đối với cháu Hoàng Quốc V, sinh ngày 03/8/2004, hiện nay đã trưởng thành, nên Toà không giải quyết.
Về tài sản chung: Do chị N không yêu cầu giải quyết; quá trình giải quyết vụ án, anh Đ không đến Tòa làm việc, nên chưa có đầy đủ căn cứ xác định được tài sản chung, công nợ chung của vợ chồng. Để bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của đương sự vắng mặt nên phần tài sản, công nợ của vợ chồng, cần tách ra chưa xét trong vụ án này và sẽ được giải quyết trong vụ án khác nếu có tranh chấp phát sinh .
Về án phí: Chị Nguyễn Thị N phải chịu án phí ly hôn sơ thẩm theo quy định của pháp luật.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ vào các Điều 51, 56, 57, 81, 82, 83 Luật Hôn nhân và gia đình. Điều 39 BLDS; Điều 147 Bộ luật TTDS và Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu án phí, lệ phí Tòa án, tạm ứng án phí, tạm ứng lệ phí Tòa án tuyên xử:
1. Về hôn nhân: Cho chị Nguyễn Thị N được ly hôn anh Hoàng Anh Đ.
2. Về con chung: Giao chị Nguyễn Thị N trực tiếp nuôi dưỡng, chăm sóc cháu Hoàng Đ Huy, sinh ngày 27/5/2014. Tạm hoãn việc góp phí tổn nuôi con cho anh Đ đến khi chị N có yêu cầu hoặc có sự thay đổi theo quy định của pháp luật. Anh Đ có quyền, nghĩa vụ thăm nom con mà không ai được cản trở. Đối với cháu Hoàng Quốc V, sinh ngày 01/8/2004, hiện nay đã trưởng thành, nên Toà không giải quyết.
3. Về án phí: Chị Nguyễn Thị N phải chịu 300.000 đồng (Ba trăm nghìn đồng) án phí ly hôn sơ thẩm, được đối trừ vào khoản tiền 300.000 đồng (Ba trăm nghìn đồng) đã nộp tại biên thu tạm ứng án phí số 0077079 ngày 28/02/2025 tại Chi cục Thi hành án dân sự huyện Mỹ Đ. Chị N đã nộp đủ án phí án phí ly hôn sơ thẩm.
Án xử công khai sơ thẩm, đương sự có mặt có quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án. Đương sự vắng mặt có quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kÓ tõ ngµy nhận được bản án hoặc ngày bản án được niêm yết theo quy định của pháp luật.
| Nơi nhận: - TAND Thành phố; - VKSND Thành phố, huyện; - Chi cục THADS huyện; - Các đương sự; - UBND xã Thái Niên; - Lưu hồ sơ + VP. THÀNH VIÊN HỘI ĐỒNG XÉT XỬ | TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN - CHỦ TOẠ PHIÊN TOÀ Lã Phi Hùng THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA |