vanban.org

Bản án 149/2024/HS-ST — Hình sự

TAND TP. Thủ Dầu Một, tỉnh Bình Dương Tuyên án 26/07/2024 Hình sự Sơ thẩm
Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

C n cứ vào các Điều 136, 260, 331 và 333 của Bộ luật Tố t ng hình sự;

C n cứ Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường v Quốc Hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu nộp, quản lý và sử d ng án phí, lệ phí Tòa án. Về trách nhiệm hình sự: Tuyên bố các bị cáo Trương Tuấn K, Đặng Nguyễn Quốc H, Nguyễn Thái D và Lê Phúc T3 ph m các tội “Cố ý gây th… Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? án hình sự — "Đặng Nguyễn Quốc H và đồng phạm phạm tội Cố ý gây thương tích và gây rối trật tự công cộng - phạm tội cố ý gây thương tích hoặc gây tổn hại…"
  • Tòa quyết gì? C n cứ vào các Điều 136, 260, 331 và 333 của Bộ luật Tố t ng hình sự;
TÒA ÁN NHÂN DÂN
THÀNH PHỐ THỦ DẦU MỘT
TỈNH BÌNH DƢƠNG

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 149/2024/HS-ST
Ngày: 26-7-2024

NHÂN DANH

NƢỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ THỦ DẦU MỘT, TỈNH BÌNH DƢƠNG

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Nguyễn Thế Vọng.

Các Hội thẩm nhân dân:

1/ Ông Trương Ngọc Điệp - Giáo viên hưu trí;

2/ Bà Huỳnh Thị Thuỳ Dương - Cán bộ hưu trí.

- Thư ký phiên tòa: Bà Trương Thị Kiều Diễm - Thư ký Tòa án nhân dân thành phố Thủ Dầu Một, tỉnh Bình Dương.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Thủ Dầu Một tham gia phiên tòa: Ông Bùi Long Hải - Kiểm sát viên.

Ngày 26 tháng 7 n m 2024, t i tr s Tòa án nhân dân thành phố Thủ Dầu Một, tỉnh Bình Dương, Tòa án nhân dân thành phố Thủ Dầu Một xét xử sơ thẩm công khai v án hình sự th lý số 136/2024/TLST-HS ngày 13 tháng 6 n m 2024, theo Quyết định đưa v án ra xét xử số 156/2024/QĐXXST-HS ngày 12 tháng 7 n m 2024, đối với các bị cáo:

1. Họ và tên: Trƣơng Tuấn K, sinh ngày 18/10/2005, t i tỉnh An Giang; nơi đ ng ký thường trú: Ấp T, xã V, huyện T, tỉnh An Giang; nghề nghiệp: Công nhân; trình độ v n hoá: 9/12; dân tộc: Kinh; giới tính: Nam; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Lê V n S và bà Trương Thị Kim T; chưa có vợ, con; tiền án, tiền sự, nhân thân: Không. Bị cáo bị bắt t m giam ngày 06/3/2024 cho đến nay, có mặt.

2. Họ và tên: Đặng Nguyễn Quốc H (tên gọi khác: Huy C), sinh n m 2004, t i tỉnh Đồng Tháp; nơi đ ng ký thường trú: Ấp B, xã B, huyện T, tỉnh Đồng Tháp; nghề nghiệp: Không; trình độ v n hoá: 8/12; dân tộc: Kinh; giới tính: Nam; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Đặng Bá T1 và bà Nguyễn Thị S1; chưa có vợ, con; tiền án, tiền sự, nhân thân: Không. Bị cáo bị t m giữ từ ngày 18/12/2023, sau đó chuyển sang t m giam cho đến nay, có mặt.

3. Họ và tên: Nguyễn Thái D, sinh ngày 01/4/2005, t i tỉnh Bình Dương; nơi đ ng ký thường trú: Khu phố B, phường T, thị xã (nay là thành phố) B, tỉnh Bình Dương; nghề nghiệp: Công nhân; trình độ v n hoá: 8/12; dân tộc: Kinh; giới tính: Nam; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Nguyễn Hồng P và bà Ngô Thị Ngọc T2; chưa có vợ, con; tiền án, tiền sự: Không. Bị cáo bị t m giữ từ ngày 20/12/2023, sau đó chuyển sang t m giam cho đến nay, có mặt.

4. Họ và tên: Lê Phúc T3, sinh ngày 15/5/2006, t i tỉnh Bình Dương; nơi đ ng ký thường trú: Khu phố C, phường T, thành phố B, tỉnh Bình Dương; nghề nghiệp: Sửa chữa ô tô; trình độ v n hoá: 9/12; dân tộc: Kinh; giới tính: Nam; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Lê Long H1 và bà Hoàng Thị Tư T4; chưa có vợ, con; tiền án, tiền sự: Không. Bị cáo bị t m giữ ngày 18/12/2023, sau đó chuyển qua t m giam, đến ngày 20/3/2024 được thay đổi biện pháp ng n chặn Cấm đi khỏi nơi cư trú. Ngày 12/3/2024, bị Cơ quan cảnh sát điều tra Công an thành phố T ra Quyết định kh i tố bị can trong v án “Cố ý gây thương tích” và “Gây rối trật tự công cộng” khác xảy ra vào ngày 27/5/2023 t i phường Đ, thành phố T và bị t m giam từ ngày 21/3/2024 cho đến nay, có mặt.

Người bào chữa cho bị cáo Lê Phúc T3: Ông Nguyễn Trọng T5 - Trợ giúp viên pháp lý của Trung tâm Trợ giúp pháp lý Nhà nước tỉnh B.

- Bị hại:

+ Anh Ngô Bá Anh K1, sinh ngày 01/7/2006; cư trú t i: Khu phố B, phường T, thành phố B, tỉnh Bình Dương, có mặt.

+ Anh Trương V n K2, sinh ngày 13/9/2007; cư trú t i: Ấp H, xã N, huyện G, tỉnh Kiên Giang, có mặt.

Người đại diện hợp pháp: Ông Trương Vũ K3, sinh n m 1979 (có đơn đề nghị xét xử vắng mặt) và bà Ngô Thị N, sinh n m 1983; cùng cư trú t i: Ấp H, xã N, huyện G, tỉnh Kiên Giang (có mặt); là những người đ i diện theo pháp luật.

- Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đến vụ án:

+ Anh Võ Thiên A, sinh n m 2009; cư trú t i: Khu phố A, phường T, thành phố B, tỉnh Bình Dương, có mặt.

Người đại diện hợp pháp: Ông Võ Nguyễn Quốc M, sinh n m 1978; cư trú t i: Khu phố A, phường T, thành phố B, tỉnh Bình Dương; là người đ i diện theo pháp luật, có đơn đề nghị giải quyết vắng mặt.

+ Bà Trương Thị Kim T, sinh n m 1986; cư trú t i: Ấp T, xã V, huyện T, tỉnh An Giang, có mặt.

+ Ông Lê Long H1, sinh n m 1975; cư trú t i: Khu phố C, phường T, thành phố B, tỉnh Bình Dương, có mặt.

+ Bà Hoàng Thị Tư T4, sinh n m 1982; cư trú t i: Khu phố C, phường T, thành phố B, tỉnh Bình Dương, có mặt.

+ Ông Nguyễn Hồng P, sinh n m 1972; Khu phố B, phường T, thành phố B, tỉnh Bình Dương, có mặt.

+ Bà Nguyễn Thị Thu L, sinh n m 1978; cư trú t i: Khu phố B, phường T, thành phố B, tỉnh Bình Dương, có mặt.

- Người làm chứng: Chị Hồ Lê Phương T6, anh Lê Công T7, chị Võ Thị Ngọc T8 và chị Trần Thanh Ngọc D1, vắng mặt.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Qua các tài liệu có trong hồ sơ v án và quá trình xét hỏi t i phiên tòa, nội dung v án được tóm tắt như sau:

* Về hành vi ph m tội: Khoảng tháng 5/2023, anh Trương V n K2, sinh ngày 13/9/2007, thường trú t i xã N, huyện G, tỉnh Kiên Giang xảy ra mâu thuẫn với Lê Gia B, sinh ngày 01/12/2005, thường trú t i ấp B, xã B, huyện C, tỉnh An Giang và cả hai nhắn tin chửi nhau qua l i trên m ng xã hội Facebook. Đến khoảng 16 giờ 30 phút ngày 15/9/2023, anh K2 được b n là anh Ngô Bá Anh K1, sinh n m 2006, thường trú t i Khu phố B, phường T, thị xã (nay là thành phố) B, tỉnh Bình Dương điều khiển xe mô tô ch đi mua thức n t i đường Đ và khi đi đến đo n qua Khu phố B, phường T, thị xã (nay là thành phố ) B, tỉnh Bình Dương thì anh K2 nhìn thấy B đang ngồi n quán trên vỉa hè nên anh K2 nhặt 01 c c đá bên đường ném trúng vào lưng của B rồi kêu K1 điều khiển xe bỏ ch y. Do bực tức về việc bị K2 dùng đá ném vào lưng nên B gọi điện tho i rủ Đặng Nguyễn Quốc H, Lê Phúc T3, Nguyễn Thái D, Trương Tuấn K, Võ Thiên A, sinh n m 2009, thường trú Khu phố A, phường T, thị xã (nay là thành phố ) B, tỉnh Bình Dương cùng B đi đánh anh K2, tất cả đồng ý. Tiếp đó, D rủ thêm đối tượng T9 (hiện chưa xác định nhân thân, lai lịch) và A rủ thêm đối tượng H2 (hiện chưa xác định nhân thân, lai lịch) cùng đi đánh anh K2. Đến khoảng 07 giờ cùng ngày, B gọi điện tho i cho Hồ Lê Phương T6, sinh n m 2008, thường trú t i ấp C, xã B, huyện C, tỉnh An Giang (là em họ hàng của B và có quen biết với anh K2) để hỏi anh K2 có Siêu thị T10 GS25, địa chỉ t i Khu phố G, phường T, thành phố T, tỉnh Bình Dương hay không thì T6 trả lời là anh K2 đang Siêu thị T10 GS25 cùng một số người b n. Sau đó, B gọi điện tho i kêu cả nhóm tập trung t i khu vực vườn cao su c nh đường M - T, đo n qua Khu phố A, phường T, thị xã (nay là thành phố ) B, tỉnh Bình Dương rồi tất cả cùng đi đến Siêu thị T10 GS25. Đồng thời, B kêu T3 đi đến khu vực phía trước Trường Tiểu học T11, địa chỉ phường T, T (nay là thành phố) Bến C gặp b n của B (hiện chưa xác định rõ tên, nhân thân, lai lịch) để lấy hung khí gồm: Rựa, dao tự chế… đem về cho cả nhóm sử d ng để đi chém nhóm anh K2. Khoảng 05 phút sau, T3 điều khiển xe mô tô hiệu Yamaha Sirius, màu đỏ-đen, biển số 61G1-663.96 ch K ch y đến Trường Tiểu học T11 thì gặp 02 người nữ đi đến đưa cho T3 và K 01 cái bao (lo i giống bao đựng g o) chứa hung khí rồi cả hai điều khiển xe ch y ch về địa điểm đã hẹn trước đó. Đến khoảng 19 giờ cùng ngày, nhóm của B tập trung t i khu vực vườn cao su. T i đây, K lấy cái bao đã nhận từ b n của B đổ ra thì thấy có 05 dao tự chế và 01 cây rựa. Thấy vậy, B bước đến lấy 01 cây rựa, H lấy 01 dao tự chế, K lấy 01 dao tự chế, T3 01 dao tự chế, A lấy 01 dao tự chế, T9 lấy 01 dao tự chế. Sau đó, T3 điều khiển xe mô tô biển số 61G1-663.96 ch K cầm theo dao tự chế và B cầm cây rựa; D điều khiển xe mô tô hiệu Yamaha Sirius, màu xanh-đen, biển số 61G1-939.48 ch H và T9 cầm theo dao tự chế; H2 điều khiển xe mô tô kiểu dáng Wave, màu đen (chưa rõ biển số) ch A cầm theo dao tự chế rồi cả nhóm cùng ch y đến Siêu thị T10. Khi đến nơi, B thấy anh K2 và anh K1 đang đứng phía trước cửa hàng nên kêu cả nhóm dừng xe l i, D và đối tượng H2 đứng đợi bên ngoài, còn B, K, H, T3, A và T9 xông vào trong Siêu thị T10 GS25 rượt đuổi, chém nhóm anh K2; lúc này, ngay khi nhìn thấy nhóm của B cầm hung khí ch y đến thì anh K2 và anh K1 bỏ ch y vào bên trong Siêu thị T10 GS25; khi anh K1 ch y vào phía trong quầy thu ngân của cửa hàng thì bị nhóm B đuổi kịp; tiếp đó, K cầm dao tự chế xông đến chém 02 nhát, 01 nhát trúng vào vùng đầu và 01 nhát vào vai anh K1, H cầm dao tự chế chém 01 nhát trúng vào vai anh K1, B cầm rựa chém 01 nhát trúng vào vùng thân anh K1, A cầm dao tự chế chém 04 nhát, 01 nhát trúng vào bàn tay trái và 03 nhát vào vùng thân anh K1, sau khi chém anh K1 và thấy anh K1 bị chảy nhiều máu nên K, H, B và A bỏ đi ra khỏi Siêu thị T10 GS25. Đối với anh K2, khi bị nhóm B cầm hung khí rượt đuổi thì bỏ ch y ra khỏi Siêu thị T10 GS25, khi ch y được 01 đo n thì bị T3 dùng chân đ p 01 cái vào b ng té ngã và bị K đuổi kịp và dùng dao tự chế chém 01 nhát trúng vào tay trái gây thương tích chảy nhiều máu. Sau khi chém anh K2 và anh K1 xong, cả nhóm B cùng ch y về khu vực vườn cao su (chỗ ban đầu cả nhóm tập trung) gom hung khí l i bỏ vào bao rồi đưa cho B cất giấu, sau đó cả nhóm đi về nhà.

Đối với anh K2 và anh K1, sau khi bị nhóm của B chém gây thương tích thì được người dân đưa đến Bệnh viện Đ, phường T, thành phố T, tỉnh Bình Dương để cấp cứu và điều trị. Cùng ngày 15/9/2023, bà Nguyễn Thị Thu L, sinh n m 1978, thường trú t i Khu phố B, phường T, thị xã (nay là thành phố ) B, tỉnh Bình Dương (là mẹ của anh K1) và bà Ngô Thị N, sinh n m 1983, thường trú t i ấp H, xã N, huyện G, tỉnh Kiên Giang (là mẹ của anh K2) đến Công an phường T trình B1; đồng thời, có Đơn yêu cầu giám định thương tích và kh i tố v án hình sự đối với hành vi của nhóm Lê Gia B. Sau đó, v việc được chuyển đến Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an thành phố T để th lý, giải quyết theo thẩm quyền.

Các ngày 18/12/2023 và 20/12/2023, lần lượt Đặng Nguyễn Quốc H, Lê Phúc T3, Nguyễn Thái D và Võ Thiên A, đến Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an thành phố T đầu thú và khai nhận toàn bộ hành vi ph m tội như đã nêu trên.

C n cứ Giấy chứng nhận thương tích số 51/CNTT ngày 22/9/2023 của Bệnh viện Đ 1 chứng nhận thương tích của anh Ngô Bá A1 Khoa như sau:

- Vào viện lúc 19 giờ 55 phút ngày 15/9/2023.

- Ra viện lúc 16 giờ ngày 17/9/2023.

- Tình tr ng thương tích lúc vào viện: Vết thương vùng đỉnh đầu, kích thước 08 x 01cm chảy máu; vết thương cẳng tay trái 1/3 dưới kích thước 01cm chảy máu.

- Sây sát vùng lưng.

- Kết quả cắt lớp vi tính sọ não không tiêm thuốc cản quang: Dập não xuất huyết nhẹ thùy đỉnh phải, sưng phần mềm đỉnh phải, nứt xương đỉnh phải.

C n cứ Kết luận giám định pháp y số 607/2023/KLGĐ-TTPY ngày 23/10/2023 của Trung tâm pháp y tỉnh B kết luận thương tích của anh Ngô Bá A1 Khoa như sau:

- Chấn thương đầu: Vết thương đỉnh phải 05 x 0,1cm, sẹo lành. Nứt sọ đỉnh phải, dập xuất huyết não đỉnh phải lượng ít, đã điều trị nội khoa.

- Vết thương cẳng tay trái 02 x 0,2cm, sẹo lành.

- Sây sát da vùng lưng, đã lành.

- Tỷ lệ tổn thương cơ thể do thương tích gây nên t i thời điểm giám định là 14 % (mười bốn phần tr m).

- Cơ chế hình thành thương tích:

+ Vết thương đỉnh phải, nứt sọ đỉnh phải, dập xuất huyết não đỉnh phải lượng ít: Sẹo bờ tương đối gọn, khả n ng do vật sắc gây ra.

+ Vết thương cẳng tay trái: Bờ sắc gọn, khả n ng do vật sắc gây ra.

+ Sây sát da vùng lưng, đã lành: Dấu vết mờ nên khó xác định cơ chế hình thành thương tích.

C n cứ Giấy chứng nhận thương tích số 52/CNTT ngày 17/9/2023 của Bệnh viện Đ 1 chứng nhận thương tích của anh Trương V n K2 như sau:

- Vào viện lúc 20 giờ 20 phút ngày 15/9/2023.

- Ra viện lúc 16 giờ ngày 17/9/2023.

- Tình tr ng thương tích lúc vào viện: Vết thương lòng bàn tay trái, kẻ ngón 3,4 kích thước 07 x 10 cm chảy máu thành tia, nham nh .

C n cứ Kết luận giám định pháp y số 610/2023/KLGĐ-TTPY ngày 24/10/2023 của Trung tâm pháp y tỉnh B kết luận thương tích của anh Trương V n K2 như sau:

- Vết thương lòng bàn tay trái 11 x 0,2cm, đứt gân gấp ngón 3, đã phẫu thuật khâu nối gân, sẹo lành.

- Tỷ lệ tổn thương cơ thể do thương tích gây nên t i thời điểm giám định là 02 % (hai phần tr m).

- Cơ chế hình thành thương tích: Vết thương lòng bàn tay trái, đứt gân gấp ngón 3 có sẹo bờ sắc gọn, khả n ng do vật sắc gây ra.

* Về xử lý vật chứng:

- Quá trình điều tra, Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an thành phố T thu giữ: 01 xe mô tô hiệu Yamaha Sirius, màu xanh-đen, biển số 61G1-939.48 (do Nguyễn Thái D giao nộp). Qua xác minh, xác định xe trên do Nguyễn Thái D đứng tên trên Giấy chứng nhận đ ng ký xe và ngày 15/9/2023 D đã sử d ng xe trên để làm phương tiện thực hiện hành vi ph m tội. Do đó, Viện kiểm sát nhân dân thành phố Thủ Dầu Một đã ra Quyết định chuyển vật chứng đến Chi c c Thi hành án dân sự thành phố Thủ Dầu Một để đề nghị Tòa án nhân dân thành phố Thủ Dầu Một quyết định tịch thu, sung ngân sách Nhà nước.

- Đối với xe mô tô hiệu Yamaha Sirius, màu đỏ-đen, biển số 61G1-663.96, quá trình điều tra, xác minh xác định xe trên do ông Lê Long H1, sinh n m 1975, thường trú t i Khu phố C, phường T, thị xã (nay là thành phố ) B, tỉnh Bình Dương (là cha của Lê Phúc T3) đứng trên giấy chứng nhận đ ng ký xe. Ngày 15/9/2023, ông H1 để xe nhà t i địa chỉ nêu trên, sau đó T3 tự ý điều khiển xe trên ch y đi và thực hiện hành vi ph m tội. Do đó, Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an thành phố T không tiến hành thu giữ xe mô tô trên.

- Đối với các hung khí gồm 01 cây rựa và 05 dao tự chế thì sau khi chém anh K2 và anh K1, nhóm của B đã gom l i đưa cho Lê Gia B cất giấu và sau khi thực hiện hành vi ph m tội B đã bỏ trốn nên Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an thành phố Thủ Dầu Một chưa thu giữ được.

* Về trách nhiệm dân sự:

- Đối với anh Ngô Bá Anh K1: Các ngày 14/01/2024 và 07/4/2024, đ i diện gia đình Lê Phúc T3, Nguyễn Thái D, Võ Thiên A và Trương Tuấn K đã cùng nhau bồi thường cho anh K1 tổng số tiền 42.000.000 (bốn mươi hai triệu) đồng, anh K1 không yêu cầu giải quyết gì thêm và có đơn xin giảm nhẹ hình ph t cho T3, D, K và Đặng Nguyễn Quốc H.

- Đối với anh Trương V n K2: Các ngày 14/01/2024 và 07/4/2024, đ i diện gia đình Lê Phúc T3, Nguyễn Thái D, Võ Thiên A và Trương Tuấn K đã cùng nhau bồi thường cho anh K2 tổng số tiền 22.000.000 (hai mươi hai triệu) đồng, anh K2 không yêu cầu giải quyết gì thêm và có đơn xin giảm nhẹ hình ph t cho cho T3, D, K và Đặng Nguyễn Quốc H.

- Đối với Lê Gia B, sau khi thực hiện hành vi ph m tội đã bỏ trốn nên ngày 15/5/2024, Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an thành phố T đã ra Quyết định truy nã số 1313/QĐ đối với B về các tội Cố ý gây thương tích và tội Gây rối trật tự công cộng, quy định t i khoản 2 Điều 134 và khoản 2 Điều 318 Bộ luật Hình sự.

- Đối với Võ Thiên A, đã có hành vi dùng dao tự chế chém anh K1 gây thương tích, tuy nhiên khi thực hiện hành vi ph m tội A là người dưới 16 tuổi nên chưa đủ tuổi chịu trách nhiệm hình sự về các tội Cố ý gây thương tích và tội Gây rối trật tự công cộng, quy định t i khoản 2 Điều 134 và khoản 2 Điều 318 Bộ luật Hình sự. Do đó, Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an thành phố T không truy cứu trách nhiệm hình sự đối với A là có c n cứ. Ngày 15/5/2024, Công an thành phố T đã ra Quyết định xử ph t vi ph m hành chính số 121/QĐ-XPHC đối với A bằng hình thức cảnh cáo.

- Đối với đối tượng H2 là người điều khiển xe mô tô ch Võ Thiên A đến Siêu thị T10 GS25 để chém anh K2 và anh K1 cùng đối tượng T9 là người dùng dao tự chế rượt đuổi anh K2, quá trình điều tra do chưa xác định được nhân thân, lai lịch của 02 đối tượng này nên Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an thành phố T sẽ tiếp t c điều tra, xác minh làm rõ và xử lý khi có đủ c n cứ.

Cáo tr ng số 137/CT-VKSTDM ngày 12 tháng 6 n m 2024 của Viện kiểm sát nhân dân thành phố Thủ Dầu Một, tỉnh Bình Dương truy tố các bị cáo Trương Tuấn K, Đặng Nguyễn Quốc H, Nguyễn Thái D và Lê Phúc T3 về các tội “Cố ý gây thương tích” và tội “Gây rối trật tự công cộng” theo điểm đ khoản 2 Điều 134 và điểm b khoản 2 Điều 318 của Bộ luật Hình sự n m 2015 (được sửa đổi, bổ sung n m 2017).

Tại phiên tòa,

- Đ i diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố T trong phần tranh luận, giữ nguyên quyết định truy tố các bị cáo, đồng thời đề nghị Hội đồng xét xử:

Về trách nhiệm hình sự: Tuyên bố các bị cáo Trương Tuấn K, Đặng Nguyễn Quốc H, Nguyễn Thái D và Lê Phúc T3 ph m các tội “Cố ý gây thương tích” và “Gây rối trật tự công cộng”.

Về hình phạt:

+ Áp d ng điểm đ khoản 2 Điều 134; điểm b khoản 2 Điều 318; điểm b, s khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 91; Điều 98; khoản 1 Điều 101; Điều 58 và Điều 38 của Bộ luật Hình sự n m 2015 (được sửa đổi, bổ sung 2017): Xử ph t bị cáo Trương Tuấn K mức hình ph t từ 02 (hai) n m 06 (sáu) tháng đến 03 (ba) n m tù về tội “Cố ý gây thương tích”; từ 02 (hai) n m đến 02 (hai) n m 06 (sáu) tháng tù về tội “Gây rối trật tự công cộng”. Áp d ng Điều 55, Điều 103 của Bộ luật Hình sự n m 2015 (được sửa đổi, bổ sung n m 2017), tổng hợp hình ph t của cả 02 tội, mức hình ph t từ 04 (bốn) n m 06 (sáu) tháng đến 05 (n m) n m 06 (sáu) tháng tù.

+ Áp d ng điểm đ khoản 2 Điều 134; điểm b khoản 2 Điều 318; điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 58 và Điều 38 của Bộ luật Hình sự n m 2015 (được sửa đổi, bổ sung 2017): Xử ph t bị cáo Đặng Nguyễn Quốc H mức hình ph t từ 02 (hai) n m 06 (sáu) tháng đến 03 (ba) n m tù về tội “Cố ý gây thương tích”; từ 02 (hai) n m đến 02 (hai) n m 06 (sáu) tháng tù về tội “Gây rối trật tự công cộng”. Áp d ng Điều 55 của Bộ luật Hình sự n m 2015 (được sửa đổi, bổ sung n m 2017), tổng hợp hình ph t của cả 02 tội, mức hình ph t từ 04 (bốn) n m 06 (sáu) tháng đến 05 (n m) n m 06 (sáu) tháng tù.

+ Áp d ng điểm đ khoản 2 Điều 134; điểm b khoản 2 Điều 318; điểm b, s khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 58 và Điều 38 của Bộ luật Hình sự n m 2015 (được sửa đổi, bổ sung 2017): Xử ph t bị cáo Nguyễn Thái D mức hình ph t từ 02 (hai) n m đến 02 (hai) n m 06 (sáu) tháng tù về tội “Cố ý gây thương tích”; từ 02 (hai) n m đến 02 (hai) n m 06 (sáu) tháng tù về tội “Gây rối trật tự công cộng”. Áp d ng Điều 55 của Bộ luật Hình sự n m 2015 (được sửa đổi, bổ sung n m 2017), tổng hợp hình ph t của cả 02 tội, mức hình ph t từ 04 (bốn) n m đến 05 (n m) n m tù.

+ Áp d ng điểm đ khoản 2 Điều 134; điểm b khoản 2 Điều 318; điểm b, s khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 91; Điều 98; khoản 1 Điều 101; Điều 58 và Điều 38 của Bộ luật Hình sự n m 2015 (được sửa đổi, bổ sung 2017): Xử ph t bị cáo Lê Phúc T3 mức hình ph t từ 02 (hai) n m đến 02 (hai) n m 06 (sáu) tháng tù về tội “Cố ý gây thương tích”; từ 02 (hai) n m đến 02 (hai) n m 06 (sáu) tháng tù về tội “Gây rối trật tự công cộng”. Áp d ng Điều 55, Điều 103 của Bộ luật Hình sự n m 2015 (được sửa đổi, bổ sung n m 2017), tổng hợp hình ph t của cả 02 tội, mức hình ph t từ 04 (bốn) n m đến 05 (n m) n m tù.

Về trách nhiệm dân sự: Quá trình điều tra, đ i diện gia đình các bị cáo Trương Tuấn K, Nguyễn Thái D, Lê Phúc T3 và gia đình Võ Thiên A đã cùng nhau bồi thường cho anh Ngô Bá A1 Khoa số tiền 42.000.000 (bốn mươi hai triệu) đồng; bồi thường cho anh Trương V n K2 số tiền 22.000.000 (hai mươi hai triệu) đồng. Anh Ngô Bá Anh K1 và anh Trương V n K2 không yêu cầu gì khác nên không đề nghị xem xét giải quyết.

Về biện pháp tư pháp: Áp d ng Điều 106 của Bộ luật Tố t ng hình sự và Điều 47 của Bộ luật Hình sự n m 2015 (được sửa đổi, bổ sung n m 2017), đề nghị Hội đồng xét xử tịch thu, sung vào ngân sách Nhà nước: 01 xe mô tô hiệu Yamaha Sirius, màu xanh-đen, biển số 61G1-939.48.

- T i phần tranh luận, các bị cáo không tranh luận với đ i diện Viện kiểm sát về tội danh, khung hình ph t và mức hình ph t đã đề nghị.

- Người bào chữa cho bị cáo Lê Phúc T3: T i phiên toà, các bị cáo đã khai nhận tội, lời khai của các bị cáo t i phiên toà phù hợp với lời khai của các bị cáo t i Cơ quan điều tra và các tài liệu, chứng cứ khác có trong hồ sơ v án; thống nhất với Viện kiểm sát nhân dân thành phố Thủ Dầu Một truy tố các bị cáo về các tội “Cố ý gây thương tích” và “Gây rối trật tự công cộng” theo điểm đ khoản 2 Điều 134 và điểm b khoản 2 Điều 318 của Bộ luật Hình sự n m 2015 (được sửa đổi, bổ sung n m 2017). Riêng, đối với bị cáo Lê Phúc T3 đã ra đầu thú, thành khẩn khai báo, n n n hối cải, tác động gia đình bồi thường thiệt h i cho các bị h i, các bị h i xin giảm nhẹ cho bị cáo, khi thực hiện hành vi ph m tội thì bị cáo chưa đủ 18 tuổi; vì vậy, đề nghị Hội đồng xét xử xem xét áp d ng Điều 54 của Bộ luật Hình sự n m 2015 (được sửa đổi, bổ sung n m 2017) xử bị cáo dưới 04 (bốn) n m tù.

- Bị h i: Các bị h i và đ i diện bị h i không có yêu cầu gì khác, đồng thời xin Hội đồng xét xử xem xét giảm nhẹ hình ph t cho các bị cáo.

- Trong nói lời sau cùng: Các bị cáo nhận thức được hành vi sai trái của mình, mong Hội đồng xét xử xem xét giảm nhẹ hình ph t cho các bị cáo.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ s nội dung v án, c n cứ vào các tài liệu trong hồ sơ đã được tranh t ng t i phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

Về hành vi, quyết định tố t ng của Cơ quan điều tra Công an thành phố T, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân thành phố T, Kiểm sát viên trong quá trình kh i tố, điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ t c quy định của Bộ luật Tố t ng hình sự. Quá trình điều tra và t i phiên tòa, những người tham gia tố t ng không có ý kiến hoặc khiếu n i về hành vi, quyết định của cơ quan tiến hành tố t ng, người tiến hành tố t ng. Do đó, hành vi và quyết định tố t ng của Cơ quan điều tra, Điều tra viên, Viện Kiểm sát, Kiểm sát viên đã thực hiện trong quá trình điều tra, truy tố đều hợp pháp.

Về sự vắng mặt của người tham gia tố t ng: T i phiên toà, vắng mặt người đ i diện hợp pháp của bị h i anh Trương V n K2 là ông Trương Vũ K3 và đ i diện hợp pháp của người có quyền lợi, nghĩa v liên quan đến v án anh Võ Thiên A là ông Võ Nguyễn Quốc M. Nhưng, ông K3 và ông M đã có lời khai trình bày ý kiến của mình trong hồ sơ v án nên việc vắng mặt của ông K3 và ông M không làm ảnh hư ng đến việc giải quyết v án. Do đó, c n cứ vào Điều 292 của Bộ luật Tố t ng hình sự, Hội đồng xét xử quyết định tiếp t c xét xử v án vắng mặt ông K3 và ông M.

T i phiên tòa, các bị cáo đã khai nhận toàn bộ hành vi ph m tội. Lời khai của các bị cáo t i phiên tòa phù hợp với lời khai của các bị cáo t i cơ quan điều tra, biên bản hỏi cung bị can, lời khai của các bị h i và những người có quyền lợi, nghĩa v liên quan đến v án, người làm chứng, cùng những tài liệu chứng cứ khác có trong hồ sơ v án, đủ cơ s kết luận: Do bực tức về việc bị anh Trương V n K2 ném đá trúng vào lưng nên vào khoảng 07 giờ ngày 15/9/2023, Lê Gia B (là người có độ tuổi 17 tuổi 09 tháng 14 ngày) đã gọi điện tho i rủ các bị cáo Trương Tuấn K (là người có độ tuổi 17 tuổi 10 tháng 28 ngày), Đặng Nguyễn Quốc H, Nguyễn Thái D, Lê Phúc T3 (là người có độ tuổi 17 tuổi 04 tháng), đối tượng Võ Thiên A cùng 02 đối tượng tên T9 và tên H2 (hiện chưa xác định được nhân thân, lai lịch) dùng các hung khí nguy hiểm là dao tự chế, rựa đến Siêu thị T10 GS25, địa chỉ t i Khu phố G, phường T, thành phố T, tỉnh Bình Dương để đánh, chém nhóm anh Trương V n K2. Đến khoảng 19 giờ 30 phút ngày 15/9/2023, khi nhìn thấy anh Trương V n K2 và anh Ngô Bá Anh K1 đang đứng trước Siêu thị T10 GS25 thì nhóm Lê Gia B đã lao tới rượt đuổi, chém gây thương tích cho anh Trương V n K2 và anh Ngô Bá Anh K1. Ngoài ra, hành vi của nhóm Lê Gia B còn ảnh hư ng xấu đến tình hình an ninh, trật tự, an toàn xã hội t i khu vực nơi xảy ra v việc. Hành vi c thể của các bị cáo như sau:

- Các bị cáo Trương Tuấn K, Đặng Nguyễn Quốc H cùng Lê Gia B và đối tượng Võ Thiên A dùng dao tự chế và rựa vô cớ chém bị h i Ngô Bá A1 Khoa nhiều nhát (Kiệt chém 02 nhát, 01 nhát trúng vào vùng đầu và 01 nhát vào vai; H chém 01 nhát vào vai; B chém 01 nhát vào vùng thân, A chém 04 nhát, 01 nhát trúng vào bàn tay trái, 03 nhát vào vùng thân) gây thương tích với tỷ lệ tổn thương cơ thể là 14% (mười bốn phần tr m).

- Bị cáo Lê Phúc T3 dùng chân đ p vào b ng bị h i Trương V n K2 01 cái làm anh K2 té ngã (nhưng không gây thương tích) và bị cáo Trương Tuấn K dùng dao tự chế chém anh K2 01 nhát trúng vào bàn tay phải gây thương tích với tỷ lệ tổn thương cơ thể là 02 % (hai phần tr m).

- Bị cáo Nguyễn Thái D điều khiển xe mô tô hiệu Yamaha Sirius, màu xanh-đen, biển số 61G1-939.48 ch bị cáo H và đối tượng T9 cầm theo dao tự chế đến Siêu thị T10 GS25 để chém anh K1 và anh K2, sau đó điều khiển xe mô tô ch bị cáo H và đối tượng T9 đi về.

- Đối với Lê Gia B, sau khi thực hiện hành vi ph m tội đã bỏ trốn (đã ra Quyết định truy nã) cùng các đối tượng T9 và H2, quá trình điều tra chưa xác định được nhân thân, lai lịch nên Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an thành phố T sẽ tiếp t c điều tra, xác minh làm rõ, xử lý sau.

Do đó, hành vi mà các bị cáo thực hiện đã đủ yếu tố cấu thành tội “Cố ý gây thương tích” được quy định t i điểm đ khoản 2 Điều 134 của Bộ luật Hình sự 2015 (được sửa đổi, bổ sung 2017) và tội “Gây rối trật tự công cộng” được quy định t i điểm b khoản 2 Điều 318 của Bộ luật Hình sự 2015 (được sửa đổi, bổ sung 2017). Các bị cáo đủ n ng lực chịu trách nhiệm hình sự. Do vậy, Cáo tr ng của Viện kiểm sát nhân dân thành phố Thủ Dầu Một truy tố các bị cáo theo tội danh và điều khoản như trên là có c n cứ, đúng người, đúng tội, đúng pháp luật.

Hành vi mà các bị cáo thực hiện là nguy hiểm cho xã hội, chẳng những xâm ph m đến đến quyền bất khả xâm ph m về sức khỏe của công dân được pháp luật bảo vệ mà còn xâm ph m đến trật tự an ninh, an toàn xã hội, xâm ph m đến cuộc sống sinh ho t ổn định của một bộ phận không nhỏ người dân, làm ảnh hư ng, đe dọa, phá vỡ tr ng thái bình yên, ổn định, trật tự, kỷ cương xã hội, khiến cho bộ phận không nhỏ người dân hoang mang, lo sợ, phẫn nộ. Về nhận thức, các bị cáo biết hành vi của mình là vi ph m pháp luật, nhưng vì nóng nảy, thiếu kiểm soát bản thân mà các bị cáo bất chấp sự trừng ph t của pháp luật, thực hiện hành vi ph m tội với lỗi cố ý trực tiếp. Do đó, để có tác d ng giáo d c các bị cáo có ý thức tuân theo pháp luật, cần có mức hình ph t nghiêm, tương xứng với tính chất, mức độ mà các bị cáo đã thực hiện; cần cách ly các bị cáo ra khỏi xã hội một thời gian để có tác d ng r n đe, giáo d c các bị cáo tr thành công dân có ích cho xã hội.

Về vai trò của các bị cáo: V án có tính chất đồng ph m giản đơn, giúp sức lẫn nhau thực hiện hành vi ph m tội. Trong đó, đối tượng Lê Gia B (hiện đang bị truy nã) là người kh i xướng, rủ rê, chỉ điểm và cung cấp hung khí; bị cáo Trương Tuấn K đi lấy hung khí từ b n của Lê Gia B về cung cấp cho các bị cáo và các đối tượng khác để cùng nhau thực hiện hành vi ph m tội và trực tiếp dùng hung khí chém anh Ngô Bá A1 Khoa 02 nhát (01 nhát trúng vào vùng đầu và 01 nhát vào vai), chém anh Trương V n K2 01 nhát trúng vào bàn tay phải; bị cáo Đặng Nguyễn Quốc H chém 01 nhát vào vai anh Ngô Bá Anh K1; bị cáo Lê Phúc T3 cùng với bị cáo Trương Tuấn K đi lấy hung khí và dùng chân đ p vào b ng anh Trương V n K2. Vì vậy, mức hình ph t áp d ng khi quyết định hình ph t đối với bị cáo K phải cao hơn bị cáo H; bị cáo H phải cao hơn bị cáo T3 và bị cáo T3 phải cáo hơn bị cáo Nguyễn Thái D.

Tình tiết t ng nặng trách nhiệm hình sự: Không.

Tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: Trong quá trình điều tra và t i phiên tòa, các bị cáo có thái độ thành khẩn khai báo, n n n hối cải về hành vi ph m tội của mình; được các bị h i xin xem xét giảm nhẹ hình ph t nên đây là tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định t i điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51 của Bộ luật Hình sự n m 2015 (được sửa đổi, bổ sung n m 2017). Riêng, các bị cáo Trương Tuấn K, Nguyễn Thái D và Lê Phúc T3 đã tác động gia đình bồi thường toàn bộ thiệt h i cho các bị h i nên các bị cáo Trương Tuấn K, Nguyễn Thái D và Lê Phúc T3 được áp d ng tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định t i điểm b khoản 1 Điều 51 của Bộ luật Hình sự n m 2015 (được sửa đổi, bổ sung n m 2017); các bị cáo Đặng Nguyễn Quốc H, Nguyễn Thái D và Lê Phúc T3 sau khi thực hiện hành vi ph m tội đã ra đầu thú nên đây là tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định t i khoản 2 Điều 51 của Bộ luật Hình sự n m 2015 (được sửa đổi, bổ sung n m 2017).

T i thời điểm ph m tội, bị cáo Trương Tuấn K (là người có độ tuổi 17 tuổi 10 tháng 28 ngày) và Lê Phúc T3 (là người có độ tuổi 17 tuổi 04 tháng) nên khi quyết định hình ph t Hội đồng xét xử áp d ng khoản 1 Điều 101 của Bộ luật Hình sự n m 2015 (được sửa đổi, bổ sung n m 2017) buộc bị cáo chấp hành mức hình ph t tù bằng ¾ mức hình ph t áp d ng đối với người ph m tội từ đủ 18 tuổi tr lên.

C n cứ nhân thân, tính chất mức độ nguy hiểm của hành vi ph m tội, vai trò của từng bị cáo, cũng như các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự, xét mức hình ph t mà Đ i diện Viện kiểm sát đề nghị đối với các bị cáo là phù hợp nên được Hội đồng xét xử chấp nhận. Đối với bị cáo Lê Phúc T3, mặc dù ph m tội khi chưa đủ 18 tuổi, nhưng bị cáo là người cùng với Trương Tuấn K đi lấy hung khí từ người khác về cho các bị cáo khác, các đối tượng khác thực hiện hành vi ph m tội; trực tiếp dùng chân đ p vào b ng anh Trương V n K2; bị cáo ph m vào 02 tội rất nghiêm trọng nên việc áp d ng Điều 54 của Bộ luật Hình sự n m 2015 (được sửa đổi, bổ sung n m 2017) cho bị cáo như đề nghị của người bào chữa là không được chấp nhận.

Về trách nhiệm dân sự: Quá trình điều tra, đ i diện gia đình các bị cáo Lê Phúc T3, Nguyễn Thái D, Trương Tuấn K và gia đình Võ Thiên A đã cùng nhau bồi thường cho anh Ngô Bá A1 Khoa số tiền 42.000.000 (bốn mươi hai triệu) đồng; bồi thường cho anh Trương V n K2 số tiền 22.000.000 (hai mươi hai triệu) đồng. Anh Ngô Bá Anh K1 và anh Trương V n K2 không yêu cầu gì khác nên không xem xét giải quyết.

Về biện pháp tư pháp: Đối với 01 xe mô tô hiệu Yamaha Sirius, màu xanh-đen, số máy: 5C6II216146, số khung: RLCS5C6II0GY216126, biển số 61G1-939.48, đây là phương tiện Nguyễn Thái D dùng để thực hiện hành vi ph m tội nên tịch thu, sung vào ngân sách Nhà nước theo quy định t i Điều 106 của Bộ luật Tố t ng hình sự và Điều 47 của Bộ luật Hình sự n m 2015 (được sửa đổi, bổ sung n m 2017).

Án phí sơ thẩm: Các bị cáo phải chịu theo quy định pháp luật.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

- C n cứ vào các Điều 136, 260, 331 và 333 của Bộ luật Tố t ng hình sự;

- C n cứ Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường v Quốc Hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu nộp, quản lý và sử d ng án phí, lệ phí Tòa án.

1. Về trách nhiệm hình sự: Tuyên bố các bị cáo Trương Tuấn K, Đặng Nguyễn Quốc H, Nguyễn Thái D và Lê Phúc T3 ph m các tội “Cố ý gây thương tích” và “Gây rối trật tự công cộng”.

2. Về hình ph t:

2.1. Áp d ng điểm đ khoản 2 Điều 134; điểm b khoản 2 Điều 318; điểm b, s khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 91; Điều 98; khoản 1 Điều 101; Điều 58 và Điều 38 của Bộ luật Hình sự n m 2015 (được sửa đổi, bổ sung 2017): Xử ph t bị cáo Trương Tuấn K 02 (hai) n m 06 (sáu) tháng tù về tội “Cố ý gây thương tích” và 02 (hai) n m tù về tội “Gây rối trật tự công cộng”. Áp d ng Điều 55, Điều 103 của Bộ luật Hình sự n m 2015 (được sửa đổi, bổ sung n m 2017); tổng hợp hình ph t của cả 02 tội, buộc bị cáo chấp hành hình ph t chung là 04 (bốn) n m 06 (sáu) tháng tù. Thời h n chấp hành hình ph t tù tính từ ngày 06/3/2024.

2.2. Áp d ng điểm đ khoản 2 Điều 134; điểm b khoản 2 Điều 318; điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 58 và Điều 38 của Bộ luật Hình sự n m 2015 (được sửa đổi, bổ sung 2017): Xử ph t bị cáo Đặng Nguyễn Quốc H 02 (hai) n m 06 (sáu) tháng tù về tội “Cố ý gây thương tích” và 02 (hai) n m tù về tội “Gây rối trật tự công cộng”. Áp d ng Điều 55 của Bộ luật Hình sự n m 2015 (được sửa đổi, bổ sung n m 2017), tổng hợp hình ph t của cả 02 tội, buộc bị cáo chấp hành hình ph t chung là 04 (bốn) n m 06 (sáu) tháng tù. Thời h n chấp hành hình ph t tù tính từ ngày 18/12/2023.

2.3. Áp d ng điểm đ khoản 2 Điều 134; điểm b khoản 2 Điều 318; điểm b, s khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 58 và Điều 38 của Bộ luật Hình sự n m 2015 (được sửa đổi, bổ sung 2017): Xử ph t bị cáo Nguyễn Thái D 02 (hai) n m tù về tội “Cố ý gây thương tích” và 02 (hai) n m tù về tội “Gây rối trật tự công cộng”. Áp d ng Điều 55 của Bộ luật Hình sự n m 2015 (được sửa đổi, bổ sung n m 2017), tổng hợp hình ph t của cả 02 tội, buộc bị cáo chấp hành hình ph t chung là 04 (bốn) n m tù. Thời h n chấp hành hình ph t tù tính từ ngày 20/12/2023

2.4. Áp d ng điểm đ khoản 2 Điều 134; điểm b khoản 2 Điều 318; điểm b, s khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 91; Điều 98; khoản 1 Điều 101; Điều 58 và Điều 38 của Bộ luật Hình sự n m 2015 (được sửa đổi, bổ sung 2017): Xử ph t bị cáo Lê Phúc T3 02 (hai) n m tù về tội “Cố ý gây thương tích”; 02 (hai) n m tù về tội “Gây rối trật tự công cộng”. Áp d ng Điều 55, Điều 103 của Bộ luật Hình sự n m 2015 (được sửa đổi, bổ sung n m 2017), tổng hợp hình ph t của cả 02 tội, buộc bị cáo chấp hành hình ph t chung là 04 (bốn) n m tù. Thời h n chấp hành hình ph t tù tính từ ngày bắt bị cáo để thi hành án (được trừ đi thời gian t m giữ, t m giam từ ngày 18/12/2023 đến ngày 20/3/2024).

3. Về trách nhiệm dân sự: Không.

4. Về biện pháp tư pháp: Áp d ng Điều 106 của Bộ luật Tố t ng hình sự và Điều 47 của Bộ luật Hình sự n m 2015 (được sửa đổi, bổ sung n m 2017): Tịch thu, sung vào ngân sách Nhà nước: 01 (một) xe mô tô hiệu Yamaha Sirius, màu xanh-đen, số máy: 5C6II216146, số khung: RLCS5C6II0GY216126, biển số 61G1-939.48.

(Theo Biên bản về việc giao nhận vật chứng, tài sản số 127.24 ngày 07 tháng 6 năm 2024 giữa Cơ quan Cảnh sát điều tra - Công an thành phố T và Chi cục Thi hành án dân sự thành phố Thủ Dầu Một)

5. Về án phí hình sự sơ thẩm: Buộc các bị cáo Trương Tuấn K, Đặng Nguyễn Quốc H, Nguyễn Thái D và Lê Phúc T3 mỗi bị cáo phải nộp 200.000 (hai tr m nghìn) đồng.

6. Các bị cáo, bị h i và người có quyền lợi, nghĩa v liên quan đến v án được quyền kháng cáo Bản án trong thời h n 15 ngày kể từ ngày tuyên án./.

Cỡ chữ