- Tranh chấp gì? Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình — án hôn nhân và gia đình — "Huỳnh Thị B- Võ Văn T"
- Tòa quyết gì? Không công nhận chị Huỳnh Thị B và anh Võ Văn T là vợ chồng.
- Căn cứ chính? Điều 14 Luật Hôn nhân và gia đình; Điều 227 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 228 Bộ luật Tố tụng dân sự
| TỈNH CÀ MAU | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Bản án số: 149/2023/HNGĐ-ST Ngày: 14 - 7 - 2023 V/v Xin ly hôn và nuôi con |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN CÁI NƯỚC, TỈNH CÀ MAU
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Tăng Thị Nhớ
Các Hội thẩm nhân dân: Ông Nguyễn Tấn Lộc
Ông Đỗ Thanh Tú
- Thư ký phiên tòa: Ông Lương Văn Khải là Thư ký Tòa án nhân dân
huyện Cái Nước, tỉnh Cà Mau.
Ngày 14 tháng 7 năm 2023 tại Trụ sở Tòa án nhân dân huyện Cái Nước,
tỉnh Cà Mau xét xử sơ thẩm công khai vụ án hôn nhân và gia đình thụ lý số: 236/2023/TLST-HNGĐ ngày 17 tháng 4 năm 2023 về việc“Xin ly hôn và nuôi con” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 128/2022/QĐXXST-HNGĐ ngày 29 tháng 5 năm 2023 giữa các đương sự:
- Nguyên đơn: Bà Huỳnh Thị B, sinh năm 1980 (Xin vắng mặt).
Địa chỉ: Ấp N, xã T, huyện C, tỉnh C ..
- Bị đơn: Ông Võ Văn T, sinh năm 1974 (Vắng mặt).
Địa chỉ: Ấp N, xã T, huyện C, tỉnh C ..
NỘI DUNG VỤ ÁN:
* Tại đơn khởi kiện ngày 13/4/2023, nguyên đơn là chị Huỳnh Thị B trình
bày:
- Về hôn nhân: Sau thời gian tìm hiểu và được sự đồng ý của hai bên gia
đình, năm 1998 chị và anh Võ Văn T có tổ chức lễ thành hôn theo phong tục địa phương nhưng không có đăng ký kết hôn. Thời gian đầu vợ chồng chung sống hạnh phúc; tuy nhiên thời gian sau thì vợ chồng thường xuyên xảy ra mâu thuẫn, cự cãi, bất đồng quan điểm. Mặc dù được hai bên gia đình hàn gắn nhiều lần nhưng không có kết quả, dẫn đến mâu thuẫn vợ chồng ngày càng căng thẳng, và trầm trọng. Chị và anh T đã sống ly thân với nhau từ đó cho đến nay. Nay xét thấy hôn nhân không còn hạnh phúc, đời sống hôn nhân không hòa hợp và không muốn tiếp tục duy trì cuộc sống hôn nhân này nữa, chị yêu cầu Tòa án giải quyết cho chị được ly hôn với anh Võ Văn T.
- Về con chung: Quá trình chung sống chị và anh T có với nhau 02 người
con chung tên: Võ Hoàng Khang sinh ngày 24/11/2002 và Võ Hoàng Khái sinh ngày 27/11/2006 đang sống cùng chị. Sau khi ly hôn, cháu Khang đã trưởng thành nên chị không yêu cầu Tòa án giải quyết, đối với cháu Khái chị yêu cầu được tiếp tục nuôi dưỡng, chăm sóc cháu và chị không yêu cầu anh T phải cấp dưỡng nuôi con.
- Về tài sản chung: Tự thỏa thuận, không yêu cầu Tòa án giải quyết.
- Về nợ chung, nợ riêng: Không có, không yêu cầu Tòa án giải quyết.
Ngoài ra, chị Huỳnh Thị B có đơn yêu cầu Tòa án xét xử vắng mặt trong
các phiên tòa xét xử do công việc bận rộn không thể sắp xếp thời gian tham gia phiên tòa theo giấy triệu tập của Tòa án.
* Bị đơn là anh Võ Văn T được Tòa án triệu tập hợp lệ tham gia tố tụng
nhiều lần nhưng vẫn vắng mặt không lý do và không cung cấp tài liệu, chứng cứ hay ý kiến đối với nội dung yêu cầu khởi kiện của chị Huỳnh Thị B.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án đã được thẩm tra tại
phiên tòa, trên cơ sở xem xét đầy đủ toàn diện các chứng cứ, Hội đồng xét xử nhận định:
Tranh chấp giữa chị Huỳnh Thị B và anh Võ Văn T là tranh chấp hôn
nhân và gia đình về việc“Xin ly hôn và nuôi con” thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án theo quy định tại khoản 1 Điều 28 Bộ luật tố tụng dân sự; Bị đơn là anh Võ Văn T có địa chỉ cư trú tại ấp Nghĩa Hiệp, xã Tân Hưng Đông, huyện Cái Nước, tỉnh Cà Mau; do đó Tòa án nhân dân huyện Cái Nước thụ lý giải quyết là đúng thẩm quyền theo quy định tại điểm a khoản 1 Điều 35 và Điều 39 của Bộ luật tố tụng dân sự.
Về sự vắng mặt của đương sự: Bị đơn là anh Võ Văn T được triệu tập hợp
lệ lần thứ hai nhưng vắng mặt không có lý do, do đó Tòa án vẫn tiến hành xét xử vụ án vắng mặt anh Võ Văn T là đúng theo quy định tại điểm b khoản 2 Điều 227 của Bộ luật tố tụng dân sự.
Nguyên đơn là chị Huỳnh Thị B có đơn yêu cầu vắng mặt nên Hội đồng
xét xử quyết định xét xử vắng mặt chị B theo quy định tại khoản 1 Điều 228 Bộ luật tố tụng dân sự.
Về hôn nhân, xét thấy: Chị B và anh T tự nguyện chung sống với nhau
vào năm 2018 nhưng không đăng ký kết hôn. Xét thấy, quan hệ hôn nhân giữa anh chị chưa tuân thủ về điều kiện đăng ký kết hôn tại Cơ quan Nhà nước có thẩm quyền theo quy định của luật hôn nhân và gia đình. Quá trình chung sống anh chị có đủ điều kiện đăng ký kết hôn nhưng không thực hiện đăng ký kết hôn theo quy định tại Điều 8, Điều 9 Luật hôn nhân và gia đình nên không được pháp luật thừa nhận là vợ chồng. Vì vậy, Hội đồng xét xử căn cứ vào Điều 14, Điều 53 Luật hôn nhân và gia đình không công nhận chị Huỳnh Thị B và anh Võ Văn T là vợ chồng.
Về con chung: Quá trình chung sống chị B và anh T có với nhau 02
người con chung tên Võ Hoàng Khang sinh ngày 24/11/2002 và Võ Hoàng Khái sinh ngày 27/11/2006 đang sống cùng chị B. Sau khi ly hôn, cháu Khang đã trưởng thành nên chị B không yêu cầu Tòa án giải quyết, đối với cháu Khái chị yêu cầu được tiếp tục nuôi dưỡng, chăm sóc cháu và chị không yêu cầu anh T phải cấp dưỡng nuôi con.
Theo quy định của pháp luật thì:“Cha, mẹ có nghĩa vụ và quyền ngang
nhau, cùng nhau chăm sóc, nuôi dưỡng con chưa thành niên…”; “Vợ, chồng thỏa thuận về người trực tiếp nuôi con, nghĩa vụ, quyền của mỗi bên sau khi ly hôn đối với con; trường hợp không thỏa thuận được thì Tòa án quyết định giao con cho một bên trực tiếp nuôi căn cứ vào quyền lợi về mọi mặt của con…”.
Xét thấy: Cháu Võ Hoàng Khái sinh ngày 27/11/2006 từ khi chị B và anh T
ly thân thì đã do chị B trực tiếp chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục. Mặt khác, theo quy định tại khoản 2 Điều 81 Luật Hôn nhân và Gia đình thì:“... con từ đủ 7 tuổi trở lên thì phải xem xét nguyện vọng của con”. Hiện tại, cháu Khái đã gần đủ 17 tuổi. Căn cứ vào biên bản ghi nhận ý kiến ngày 21/6/2023, sau khi chị B và anh T ly hôn thì cháu Khái có nguyện vọng sống cùng mẹ là chị Huỳnh Thị B. Mặt khác, chị B cũng xác định chị đồng ý tiếp tục chăm sóc, giáo dục và nuôi dưỡng cháu Khái cho đến khi cháu Khái đủ 18 tuổi. Do đó, để đảm bảo sự phát triển toàn diện về thể chất, tâm sinh lý và không gây xáo trộn cho cuộc sống hiện tại của cháu Khái cần tiếp tục giao cháu Khái cho chị B được tiếp tục trông nom, nuôi dưỡng, giáo dục là phù hợp. Chị B không trực tiếp nuôi con có quyền, nghĩa vụ thăm nom con chung mà không ai được cản trở.
Về nghĩa vụ cấp dưỡng: Đương sự không yêu cầu nên Hội đồng xét xử
không đặt ra xem xét.
Về tài sản chung: Chị B xác định chị và và anh T tự thỏa thuận không
yêu cầu Tòa án giải quyết nên Hội đồng xét xử không đặt ra xem xét.
Về nợ chung, nợ riêng: Chị B xác định chị và và anh T không có, không
yêu cầu Tòa án giải quyết nên Hội đồng xét xử không đặt ra xem xét.
Về án phí sơ thẩm: Theo quy định tại khoản 4 Điều 147 của Bộ luật tố
tụng dân sự và điểm a khoản 5 Điều 27 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án thì chị Huỳnh Thị B phải chịu theo quy định pháp luật.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ vào khoản 1 Điều 28; điểm a khoản 1 Điều 35; điểm a khoản 1
Điều 39, điểm b khoản 2 Điều 227, khoản 1 Điều 228, Điều 273 của Bộ luật tố tụng dân sự.
Áp dụng các Điều 9, 14, 53, 58, 81, 82, 83 của Luật Hôn nhân và Gia đình;
Điều 27 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.
Tuyên xử:
1. Không công nhận chị Huỳnh Thị B và anh Võ Văn T là vợ chồng.
2.2. Về con chung: Giao cháu Võ Hoàng Khái sinh ngày 27/11/2006 cho
chị Huỳnh Thị B tiếp tục chăm sóc, giáo dục và nuôi dưỡng, việc cấp dưỡng không đặt ra. Anh Võ Văn T không trực tiếp nuôi con có quyền, nghĩa vụ thăm nom con chung không ai có quyền ngăn cản. 3.
3. Về tài sản chung: Tự thỏa thuận, không yêu cầu Tòa án giải quyết.
4. Về nợ chung, nợ riêng: Không có, không yêu cầu Tòa án giải quyết.
5. Về án phí sơ thẩm: Chị Huỳnh Thị B phải chịu án phí hôn nhân và gia
đình là 300.000 đồng, ngày 13/4/2023 chị B đã dự nộp 300.000 đồng theo Biên lai thu tiền tạm ứng án phí, lệ phí Tòa án số 0009044 của Chi cục thi hành án dân sự huyện Cái Nước, tỉnh Cà Mau được chuyển thu án phí.
6. Về quyền kháng cáo: Nguyên đơnvà bị đơn vắng mặt được quyền kháng
cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận hoặc niêm yết bản án.
Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật
thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7 và 9 Luật thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật thi hành án dân sự. THÀNH VIÊN HỘI ĐỒNG XÉT XỬ
THẨM PHÁN-CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Nguyễn Tấn Lộc
Đỗ Thanh Tú
Tăng Thị Nhớ
Nơi nhận:
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM
- Các đương sự;
THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TOÀ
- VKSND huyện Cái Nước;
- Chi cục THADS huyện Cái Nước;
- TAND tỉnh Cà Mau;
- Lưu hồ sơ.
Tăng Thị Nhớ
| Nơi nhận: - Các đương sự; - VKSND huyện Cái Nước; - Chi cục THADS huyện Cái Nước; - TAND tỉnh Cà Mau; - Ủy ban nhân dân xã Hòa Thành; - Lưu hồ sơ. THÀNH VIÊN HỘI ĐỒNG XÉT XỬ Nguyễn Văn Sol Trần Quốc Trí | TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TOÀ Tăng Thị Nhớ THẨM PHÁN-CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Tăng Thị Nhớ |