vanban.org

Bản án 149/2022/HSST — Hình sự

TAND huyện Chương Mỹ, TP. Hà Nội Tuyên án 29/12/2022 Hình sự Sơ thẩm
Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Tuyên bố bị cáo Trương Công T phạm tội “Trộm cắp tài sản”.

Xử phạt: Trương Công T, 26(Hai mươi sáu) tháng tù nhưng cho hưởng án treo, thời gian thử thách 52(Năm mươi hai) tháng kể từ ngày tuyên án. Giao Trương Công T cho Ủy ban nhân dân thị trấn HT, huyện Yên Thủy, tỉnh Hòa Bình giám sát, giáo dục trong thời gian thử thách. Trường hợp người được hưởng án tr… Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? án hình sự — "Trương Công T phạm tội Trộm cắp tài sản - phạm tội trộm cắp tài sản (điều 173 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS năm 2015)"
  • Tòa quyết gì? Tuyên bố bị cáo Trương Công T phạm tội “Trộm cắp tài sản”.
  • Căn cứ chính? Điều 51 Bộ luật Hình sự; Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 173 Bộ luật Hình sự
TÒA ÁN NHÂN DÂN
HUYỆN CHƯƠNG MỸ
THÀNH PHỐ HÀ NỘI

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 149/2022/HSST
Ngày: 29/12/2022

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN CHƯƠNG MỸ, THÀNH PHỐ HÀ NỘI

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

- Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Trần Thắng;

- Các Hội thẩm nhân dân:

Ông Phạm Tiến Lợi

Bà Nguyễn Thị Luận

- Thư ký phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Thu Hiền, Thẩm tra viên Tòa án nhân dân huyện Chương Mỹ.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Chương Mỹ tham gia phiên tòa: Bà Đỗ Thị Ly, Kiểm sát viên.

Ngày 29 tháng 12 năm 2022, tại Trụ sở Tòa án nhân dân huyện Chương Mỹ, thành phố Hà Nội xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số 159/2022/TLST-HS ngày 29/11/2022 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 180/2022/QĐXXST-HS ngày 13/12/2022 đối với bị cáo:

TRƯƠNG CÔNG T, sinh năm 1996; Đăng ký nhân khẩu thường trú và chỗ ở: khu HT, thị trấn HT, huyện Yên Thủy, tỉnh Hòa Bình. Nghề nghiệp: Lao động tự do; Trình độ văn hóa: 12/12; Dân tộc: Kinh; Giới tính: Nam; Tôn giáo: Không; Quốc tịch: Việt Nam; Con ông Trương Ngọc D, sinh năm 1974 và bà Phan Thi T1, sinh năm 1977. Vợ: Nguyễn Ngọc T2; Con: Chưa có. Danh chỉ bản số 671 lập ngày 10/11/2022 tại Công an huyện Chương Mỹ.

Tiền án, tiền sự: Không

Tạm giữ: Từ ngày 15/8/2022 đến ngày 18/8/2022.

Bị cáo tại ngoại. Có mặt.

Bị hại: Anh Đỗ Văn T3, sinh năm 1995; Địa chỉ: thôn YT, xã ĐY, huyện Quốc Oai, thành phố Hà Nội. Vắng mặt.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Xuất phát từ mối quan hệ quen biết ngoài xã hội, nên anh Đỗ Văn T3 và Trương Công T thường xuyên chơi game với nhau tại quán X ở Tổ Z, TDP TX, thị trấn XM, huyện Chương Mỹ, Thành phố Hà Nội. T biết anh T3 có một chiếc xe mô tô nhãn hiệu HONDA SH, màu sơn đen, BKS 29V5-435.XX thường đi đến quán X chơi game, nên nảy sinh ý định trộm cắp chiếc xe mô tô của anh T3. Ngày 05/8/2022, T lấy cớ mượn chìa khóa để dắt giúp xe mô tô vào chỗ mát cho T3, nhằm có điều kiện đánh tráo chiếc chìa khoá điện của xe mô tô BKS 29V5-435.XX bằng một chiếc chìa khoá điện khác cùng loại xe SH do T chuẩn bị từ trước. T3 đã đưa chiếc chìa khoá điện SH khác mà T đã chuẩn bị trước cho anh T3, còn chiếc chìa khoá điện xe mô tô của anh T3, T cất đi để chờ cơ hội sẽ trộm xe mô tô của T3. Sau khi chơi Game xong, anh T3 ra lấy xe mô tô để đi về, nhưng không mở được khoá xe để nổ máy, nghĩ là khoá xe bị hỏng, nên T lại chở anh T3 về nhà để anh T3 lấy chìa khoá dự phòng của xe mô tô để sử dụng.

Khoảng 20h00 ngày 13/8/2022, T chuẩn bị mũ lưỡi trai bằng nhựa màu đen, 01 áo chống nắng và cầm theo chiếc chìa khoá điện xe môtô của anh T3 đi đến quán Game Y ở khu vực cổng phụ trường Đại Học L. T để lại xe mô tô của mình và mặc áo chống nắng đội mũ, đi bộ đến quán X. Quan sát thấy chiếc xe mô tô BKS 29V5-435.XX của anh T3 đang để tại phần sân phía trước quán Game, không có ai trông giữ, chiếc xe không khoá cổ, khóa càng. T lấy chiếc chìa khoá điện mang theo, mở khóa điện chiếc xe, rồi điều khiển xe đi cất giấu tại hầm để xe toà nhà P, chung cư BT tại xã TXT, huyện Chương Mỹ, TP Hà Nội.

Khoảng 21h00 ngày 13/8/2022, thấy bị mất xe nên anh T3 đến Công an thị trấn XM trình báo sự việc. Bằng các biện pháp nghiệp vụ, Công an thi trấn XM đã xác định được Trương Công T đã trộm xe mô tô của anh T3, tiến hành bắt giữ T để bàn giao cho Công an huyện xử lý và thu giữ chiếc xe mô tô.

Vật chứng thu giữ: 01chiếc xe mô tô HONDA SH 125i, màu sơn đen, BKS 29V5-435.86, xe cũ, đã qua sử dụng do Công an thị trấn XM thu giữ tại tầng hầm toà P, Chung cư BT thuộc thôn XT, xã TXT, huyện Chương Mỹ, TP Hà Nội.

Kết luận định giá số 151/KL-HĐĐG ngày 23/8/2022 kết luận: 01 xe môtô nhãn hiệu HONDA SH 125i màu sơn đen BKS 29V5-435.XX trị giá 70.000.000 đồng.

Ngày 26/9/2022 CQĐT – Công an huyện Chương Mỹ đã ra quyết định xử lý vật chứng trả lại 01 xe môtô nhãn hiệu HONDA SH 125i màu sơn đen BKS 29V5-435.XX cho chủ sở hữu. Anh Đỗ Văn T3 đã nhận lại tài sản và không có ý kiến gì.

* Trách nhiệm dân sự: Anh Đỗ Văn T3 đã nhận lại chiếc xe mô tô nhãn hiệu HONDA SH 125i, màu sơn đen, BKS 29V5-435.86. Ngoài ra, anh T3 cho rằng, việc bị T trộm cắp chiếc xe mô tô đã ảnh hưởng đến công việc và cuộc sống, sinh hoạt của anh T3, làm thiệt hại của anh T3 số tiền khoảng 18.000.000 đồng nên đề nghị T phải bồi thường khắc phục cho anh T3 số tiền trên. Ngày 18/11/2022, Trương Công T đã tự nguyện khắc phục, bồi thường cho anh T3, anh T3 không yêu cầu gì thêm và có đơn xin miễn, giảm trách nhiệm hình sự cho T.

Cáo trạng số 156/CT-VKS-CM ngày 28/11/2022 của Viện kiểm sát nhân dân huyện Chương Mỹ truy tố Trương Công T về tội: “Trộm cắp tài sản” quy định tại điểm c khoản 2 điều 173 Bộ luật hình sự.

Tại phiên tòa, bị cáo khai nhận hành vi của mình, thành khẩn nhận tội và đề nghị Hội đồng xét xử xem xét giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo.

Đại diện Viện kiểm sát giữ quan điểm như cáo trạng truy tố, kết luận Trương Công T đã phạm tội: “Trộm cắp tài sản” quy định tại điểm c khoản 2 điều 173 Bộ luật hình sự. Sau khi đánh giá tính chất mức độ nguy hiểm của hành vi phạm tội, xem xét tình tiết giảm nhẹ, đại diện Viện kiểm sát đề nghị xử phạt bị cáo T từ 24 tháng đến 30 tháng tù nhưng cho hưởng án treo, thử thách từ 48 tháng đến 60 tháng. Không áp dụng hình phạt bổ sung.

Về trách nhiệm dân sự: Người bị hại đã nhận lại tài sản, đã nhận tiền bồi thường thêm, do đó không yêu cầu bồi thường gì khác, nên không đề nghị xem xét.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

. Về tố tụng:

[1.1]. Về hành vi, quyết định tố tụng của cơ quan điều tra Công an huyện Chương Mỹ, Viện kiểm sát nhân dân huyện Chương Mỹ và của Điều tra viên, kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự thủ tục quy định của Bộ luật tố tụng hình sự. Tại quá trình điều tra, bị cáo, bị hại không có ý kiến khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của cơ quan tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.

. Về sự vắng mặt của bị hại: Người bị hại đã có lời khai đầy đủ rõ ràng trong hồ sơ, không yêu cầu bồi thường gì khác. Xét sự vắng mặt của người bị hại tại phiên tòa không ảnh hưởng đến quá trình xét xử nên Hội đồng xét xử tiến hành xét xử vắng mặt theo khoản 1 Điều 292 Bộ luật tố tụng hình sự.

2]. Về nội dung:

. Lời khai của bị cáo tại phiên tòa phù hợp với lời khai trong quá trình điều tra, lời khai của người bị hại, lời khai của người làm chứng và các tài liệu, chứng cứ khác có trong hồ sơ vụ án. Có đủ cơ sở để kết luận: Khoảng 20 giờ ngày 13/8/2022, tại quán X tại TDP TX, thị trấn XM, huyện Chương Mỹ, TP. Hà Nội, Trương Công T đã thực hiện hành vi lén lút chiếm đoạt chiếc xe mô tô nhãn hiệu HONDA SH 125i, màu sơn đen, BKS 29V5-435.XX của anh Đỗ Văn T3 trị giá 70.000.000 đồng. Hành vi của bị cáo đã phạm vào tội “Trộm cắp tài sản” với tình tiết định khung “Chiếm đoạt tài sản có giá trị từ 50.000.000 đồng đến dưới 200.000.000 đồng” quy định tại điểm c khoản 2 điều 173 Bộ luật hình sự.

Cáo trạng của Viện kiểm sát nhân dân huyện Chương Mỹ và kết luận của đại diện Viện kiểm sát tại phiên tòa là có căn cứ, phù hợp pháp luật.

Hành vi phạm tội của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, đã xâm phạm đến quyền sở hữu về tài sản của người khác, gây mất trật tự trị an ở địa phương. Bị cáo có đầy đủ năng lực chịu trách nhiệm hình sự, nên buộc bị cáo phải chịu trách nhiệm hình sự do hành vi phạm tội đã gây ra. Cần thiết phải áp dụng mức hình phạt tù đối với bị cáo mới có tác dụng giáo dục phòng ngừa.

Khi quyết định hình phạt, Hội đồng xét xử thấy: Bị cáo không có tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự quy định tại khoản 1 Điều 52 Bộ luật hình sự. Bị cáo phạm tội mặc dù có mục đích từ trước nhưng có nhiều tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự như sau: Bị cáo lần đầu vi phạm pháp luật, nhân thân chưa có tiền án tiền sự; thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải; tài sản chiếm đoạt đã được thu hồi ngay, chưa gây thiệt hại; tự nguyện bồi thường thêm cho bị hại, khắc phục hậu quả; người bị hại có đơn xin miễn, giảm hình phạt cho bị cáo; bị cáo có ông ngoại là người có công, được tặng thưởng Huân chương chiến sĩ giải phóng, là thương binh và là người hoạt động kháng chiến bị nhiễm chất độc hóa học. Được quy định tại điểm b, h, s khoản 1 và khoản 2 Điều 51 Bộ luật hình sự.

Từ những nhận định trên, căn cứ vào tính chất mức độ hành vi phạm tội, căn cứ vào nhân thân bị cáo và nhiều tình tiết giảm nhẹ, bị cáo có nơi cư trú rõ ràng, thấy không cần thiết phải cách ly bị cáo khỏi xã hội mà cho bị cáo được cải tạo ngoài xã hội với thời gian thử thách nhất định cũng đủ tác dụng giáo dục phòng ngừa, đồng thời thể hiện chính sách khoan hồng của pháp luật.

Do bị cáo không có thu nhập ổn định, nên không áp dụng hình phạt bổ sung quy định tại khoản 5 Điều 173 Bộ luật hình sự.

Về trách nhiệm dân sự: Người bị hại đã nhận lại tài sản và được bồi thường thêm theo yêu cầu, không có yêu cầu gì khác, nên Hội đồng xét xử không xem xét.

Về nghĩa vụ chịu án phí: Bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm.

Bị cáo, người bị hại có quyền kháng cáo theo quy định

Vì các lẽ trên;

QUYẾT ĐỊNH

1. Căn cứ: - Điểm c Khoản 2 Điều 173; Điểm b, h, s khoản 1 và khoản 2 Điều 51; Điều 65 Bộ luật hình sự;

- Điều 136, Điều 331, Điều 333 Bộ luật tố tụng hình sự;

- Khoản 1 Điều 23 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án;

2. Tuyên bố bị cáo Trương Công T phạm tội “Trộm cắp tài sản”.

Xử phạt: Trương Công T, 26(Hai mươi sáu) tháng tù nhưng cho hưởng án treo, thời gian thử thách 52(Năm mươi hai) tháng kể từ ngày tuyên án.

Giao Trương Công T cho Ủy ban nhân dân thị trấn HT, huyện Yên Thủy, tỉnh Hòa Bình giám sát, giáo dục trong thời gian thử thách. Trường hợp người được hưởng án treo thay đổi nơi cư trú thì thực hiện theo Điều 92 Luật thi hành án hình sự.

Trong thời gian thử thách, người được hưởng án treo cố ý vi phạm nghĩa vụ theo quy định của Luật thi hành án hình sự hai lần trở lên thì Tòa án có thể quyết định buộc người được hưởng án treo phải chấp hành hình phạt tù của bản án đã cho hưởng án treo.

3. Về án phí: Bị cáo Trương Công T phải chịu 200.000 đồng án phí hình sự sơ thẩm.

4. Về quyền kháng cáo: Bị cáo có quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án.

Người bị hại có quyền kháng cáo trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được Bản án hoặc bản án được niêm yết hợp lệ tại nơi cư trú.

Cỡ chữ