vanban.org

Bản án 149/2022/HNGĐ-ST — Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình

Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của ông Nguyễn Tấn L.

Về hôn nhân: Không công nhận quan hệ vợ chồng giữa ông Nguyễn Tấn L và bà Trần Thị T. Về án phí: Ông Nguyễn Tấn L phải chịu 300.000 đồng án phí dân sự sơ thẩm, nhưng được khấu trừ 300.000 đồng tiền tạm ứng án phí ông L đã nộp theo Biên lai thu số 00013276 ngày 28-10-2022 của Chi cục Thi hành án dân … Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình — án hôn nhân và gia đình — "Không công nhận quan hệ vợ chồng"
  • Tòa quyết gì? Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của ông Nguyễn Tấn L.
  • Căn cứ chính? Điều 14 Luật Hôn nhân và gia đình; Điều 27 NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…; Điều 28 Bộ luật Tố tụng dân sự
TÒA ÁN NHÂN DÂN
HUYỆN CẦN GIUỘC,
TỈNH LONG AN

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 149/2022/HNGĐ-ST
Ngày: 28-12-2022
V/v tranh chấp ly hôn

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN CẦN GIUỘC, TỈNH LONG AN

Với thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

- Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Lê Nguyễn Xuân An

- Các Hội thẩm nhân dân:

Ông Nguyễn Minh Chí

Ông Trần Văn Đoàn

Thư ký phiên tòa: Bà Nguyễn Tô Cẩm Hương – Thư ký Tòa án nhân dân huyện Cần Giuộc.

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Cần Giuộc tham gia phiên tòa: Bà Phan Thị Hoa – Kiểm sát viên

Trong ngày 28 tháng 12 năm 2022, tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Cần Giuộc xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số 680/2022/TLST-HNGĐ ngày 31 tháng 10 năm 2022 về việc “Tranh chấp ly hôn” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 151/2022/QĐXXST-HNGĐ ngày 14 tháng 12 năm 2022 giữa các đương sự:

Nguyên đơn: Ông Nguyễn Tấn L, sinh năm 1972;

Địa chỉ: ấp C, xã L, huyện Cần Giuộc, tỉnh Long An.

Bị đơn: Bà Trần Thị T, sinh năm 1976;

Địa chỉ: ấp C, xã L, huyện Cần Giuộc, tỉnh Long An.

Các đương sự có mặt.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo lời trình bày của các đương sự, diễn biến tại phiên tòa và các tài liệu có trong hồ sơ vụ án, vụ án có nội dung như sau:

Ông Nguyễn Tấn L và bà Trần Thị T cưới nhau vào năm 1996, cho đến nay vẫn chưa đăng ký kết hôn theo quy định pháp luật. Ông L và bà T có hai người con chung tên Nguyễn Thị Thùy D, sinh năm 1998 và Nguyễn Trần Huyền T, sinh năm 2001.

Ông Nguyễn Tấn L cho rằng quá trình chung sống vợ chồng có nhiều mâu thuẫn do bất đồng quan điểm sống. Từ khoảng năm 2001, vợ chồng thường xuyên cự cãi. Đến năm 2021, ông và bà T mỗi người có cuộc sống riêng, không còn quan tâm lẫn nhau. Nay thấy rằng tình cảm vợ chồng không còn nên ông L khởi kiện yêu cầu Tòa án giải quyết cho ông ly hôn với bà Trần Thị T. Quá trình chung sống, ông và bà T không có tài sản chung.

Bà Trần Thị T xác định trong quá trình chung sống, bà và ông L phát sinh nhiều mâu thuẫn, thời gian phát sinh mâu thuẫn vào khoảng năm 2001. Hiện tình cảm vợ chồng giữa bà và ông L không còn, bà đồng ý ly hôn với ông L.

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Cần Giuộc phát biểu:

Về thủ tục tố tụng: Từ khi thụ lý đến nay, những người tiến hành tố tụng và những người tham gia tố tụng tuân thủ đúng quy định của Bộ luật Tố tụng dân sự.

Về nội dung: Đề nghị chấp nhận yêu cầu khởi kiện của ông Nguyễn Tấn L, không công nhận quan hệ vợ chồng giữa ông Nguyễn Tấn L và bà Trần Thị T.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Về tố tụng: Ông Nguyễn Tấn L khởi kiện yêu cầu ly hôn với bà Trần Thị T, bà T hiện cư trú tại xã Long Phụng, huyện Cần Giuộc, tỉnh Long An nên Tòa án nhân dân huyện Cần Giuộc thụ lý vụ án là đúng thẩm quyền theo quy định tại Khoản 1 Điều 28; điểm a Khoản 1 Điều 35; điểm a Khoản 1 Điều 39 Bộ luật Tố tụng dân sự.

Về hôn nhân: Ông Nguyễn Tấn L và bà Trần Thị T đều xác định ông bà chung sống với nhau như vợ chồng từ năm 1996 nhưng đến nay vẫn chưa đăng ký kết hôn. Qua đó có cơ sở xác định việc kết hôn giữa ông L và bà T không được đăng ký theo quy định tại Khoản 1 Điều 9 Luật Hôn nhân và gia đình, nên không làm phát sinh quyền, nghĩa vụ vợ chồng giữa ông L và bà T. Nay ông L khởi kiện yêu cầu ly hôn với bà T, căn cứ Khoản 2 Điều 53, Khoản 1 Điều 14 Luật Hôn nhân và gia đình, Hội đồng xét xử tuyên bố không công nhận quan hệ vợ chồng giữa ông L và bà T.

Về con chung: Ông L và bà T xác định có hai người con chung tên Nguyễn Thị Thùy D, sinh năm 1998 và Nguyễn Trần Huyền T, sinh năm 2001, hiện đã trưởng thành nên Hội đồng xét xử không xem xét.

Về tài sản chung: Ông L xác định ông và bà T không có tài sản chung. Bà T cho rằng có tài sản chung là khoảng 200m2 đất và nhà trên đất. Tuy nhiên, các đương sự không yêu cầu Tòa án giải quyết về vấn đề này nên Hội đồng xét xử không xem xét.

Về án phí: Ông L là người khởi kiện yêu cầu ly hôn với bà T nên ông L phải chịu án phí dân sự sơ thẩm theo quy định pháp luật.

Vì các lẽ trên;

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ các điều 28, 35, 39 Bộ luật Tố tụng dân sự; Khoản 1 Điều 9, Khoản 1 Điều 14, Khoản 2 Điều 53 Luật Hôn nhân và gia đình; Khoản 5 Điều 27 Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30-12-2016 quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.

Tuyên xử:

Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của ông Nguyễn Tấn L.

Về hôn nhân: Không công nhận quan hệ vợ chồng giữa ông Nguyễn Tấn L và bà Trần Thị T.

Về án phí: Ông Nguyễn Tấn L phải chịu 300.000 đồng án phí dân sự sơ thẩm, nhưng được khấu trừ 300.000 đồng tiền tạm ứng án phí ông L đã nộp theo Biên lai thu số 00013276 ngày 28-10-2022 của Chi cục Thi hành án dân sự huyện Cần Giuộc.

Bản án sơ thẩm, các đương sự có mặt có quyền kháng cáo trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án./.

Cỡ chữ