vanban.org

Bản án 149/2022/HNGĐ-ST — Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình

Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của chị Lê Thị T. Cho chị Lê Thị T được ly hôn với anh Ngô Văn T1.

Về con chung: Giao cháu Lê Hoàng P, sinh ngày 15-02-2020 cho chị Lê Thị T là người trực tiếp nuôi dưỡng sau khi ly hôn. Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình — án hôn nhân và gia đình — "Tranh chấp ly hôn giữa chị Lê Thị T và anh Ngô Văn T1"
  • Tòa quyết gì? Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của chị Lê Thị T. Cho chị Lê Thị T được ly hôn với anh Ngô Văn T1.
  • Căn cứ chính? Điều 227 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 228 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 147 Bộ luật Tố tụng dân sự
TÒA ÁN NHÂN DÂN
HUYỆN CAI LẬY
TỈNH TIỀN GIANG

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản ánsố: 149/2022/HNGĐ-ST
Ngày: 14-7-2022
V/v tranh chấp “Ly hôn,
nuôi con”

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN CAI LẬY, TỈNH TIỀN GIANG

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Nguyễn Anh Thực;

Các Hội thẩm nhân dân:

- Ông Nguyễn Văn Hiền;

- Ông Mai Huy Mân.

- Thư ký phiên tòa: Ông Nguyễn Văn Luận - Thư ký Tòa án nhân dân huyện Cai Lậy, tỉnh Tiền Giang.

Ngày 14 tháng 7 năm 2022, tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Cai Lậy xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số: 250/2022/TLST-HNGĐ ngày 26 tháng 4 năm 2022 về tranh chấp “Ly hôn, nuôi con” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 127/2022/QĐXXST-HNGĐ ngày 07 tháng 6 năm 2022, giữa các đương sự:

- Nguyên đơn: Chị Lê Thị T, sinh năm 2001; cư trú tại: Ấp MC, xã MA, huyện T, tỉnh Đồng Tháp. (Xin vắng mặt)

- Bị đơn: Anh Ngô Văn T1, sinh năm 1990; cư trú tại: Ấp X, xã TL, huyện C, tỉnh Tiền Giang. (Vắng mặt)

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Tại đơn khởi kiện, bản tự khai và quá trình giải quyết vụ án tại Tòa án, nguyên đơn, chị Lê Thị T trình bày:

Chị và anh Ngô Văn T1 tiến đến hôn nhân trên cơ sở tự nguyện, hai bên tự quen biết trên mạng, sau đó có tìm hiểu nhau khoảng hơn 01 năm thì tổ chức đám hỏi vào khoảng đầu năm 2019, khoảng 03-04 tháng sau thì tổ chức đám cưới. Đến khi chị gần sinh con thì vợ chồng mới đăng ký kết hôn vào ngày 25-10-2019 tại Ủy ban nhân dân xã TL, huyện C, tỉnh Tiền Giang. Sau khi cưới, chị về sống bên gia đình anh T1 được khoảng 02 tháng thì trở về gia đình cha mẹ ruột sinh sống. Nguyên nhân vợ chồng mâu thuẫn là do anh T1 ăn chơi, thường xuyên đá gà, vay tiền để cờ bạc, đánh đề dẫn đến nợ nần, nhưng anh T1 giấu nên chị không biết nợ bao nhiêu. Chị có khuyên nhưng anh T1 không nghe, hiện nay anh T1 vẫn còn tiếp tục chơi đá gà. Từ khi chị trở về nhà cha mẹ ruột sinh sống, anh T1 có về ở chung khoảng 01 – 02 tháng nhưng vẫn chơi cờ bạc, rồi trở về nhà cha mẹ ruột của anh T1 ở cho đến nay. Từ đó đến nay, anh T1 không có đến rước chị về, cũng không quan tâm gì đến vợ và con. Nay chị nhận thấy tình cảm vợ chồng không còn, tình trạng hôn nhân đã trầm trọng nên yêu cầu được ly hôn.

Về con chung: Có 01 con chung là cháu Lê Hoàng P, sinh ngày 15-02-2020. Từ khi sinh ra cho đến nay, chị là người trực tiếp nuôi dưỡng, anh T1 không quan tâm gì đến con. Do đó, nay chị yêu cầu được tiếp tục nuôi con, không yêu cầu anh T1 phải cấp dưỡng nuôi con.

Về tài sản chung, nợ chung: Chị T khai không có, không yêu cầu Tòa án giải quyết.

Trong quá trình giải quyết vụ án, dù anh Ngô Văn T1 đã được Tòa án tống đạt hợp lệ các văn bản tố tụng, bản sao các tài liệu chứng cứ do nguyên đơn giao nộp nhưng anh T1 không có ý kiến gì đối với yêu cầu khởi kiện của chị T, vắng mặt trong các phiên họp và tại phiên tòa.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

[1] Chị Lê Thị T và anh Ngô Văn T1 tranh chấp về ly hôn; anh T1 cư trú tại ấp X, xã TL, huyện C, tỉnh Tiền Giang. Do đó, căn cứ khoản 1 Điều 28, điểm a khoản 1 Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 39 của Bộ luật Tố tụng dân sự, thẩm quyền giải quyết vụ án là của Tòa án nhân dân huyện Cai Lậy.

Nguyên đơn, chị Lê Thị T có đơn đề nghị xét xử vắng mặt. Bị đơn, anh Ngô Văn T1 không có đơn xin xét xử vắng mặt, đã được Tòa án tiến hành triệu tập hợp lệ lần thứ hai nhưng vẫn vắng mặt không có lý do. Căn cứ khoản 1, điểm b khoản 2 Điều 227; khoản 1, khoản 3 Điều 228 của Bộ luật Tố tụng dân sự, Hội đồng xét xử quyết định xét xử vụ án vắng mặt anh T1, chị T.

Đối với yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn, Hội đồng xét xử xét thấy: Hôn nhân giữa chị Lê Thị T và anh Ngô Văn T1 là hợp pháp vì có đăng ký và được Ủy ban nhân dân xã TL, huyện C, tỉnh Tiền Giang cấp giấy chứng nhận kết hôn số 97, ngày 25-10-2019. Sau khi cưới một thời gian ngắn thì chị T về nhà cha mẹ ruột sống đến nay. Vợ chồng đã sống ly thân từ khoảng tháng 02-2020 cho đến nay nhưng không có biện pháp gì hàn gắng. Nguyên nhân dẫn đến mâu thuẫn vợ chồng được chị T cho là anh T1 thường xuyên đá gà, đánh số đề, vay tiền của người khác để cờ bạc, chị đã khuyên nhiều lần nhưng anh T1 không nghe. Phía anh T1 thì không có ý kiến gì phản đối yêu cầu khởi kiện của chị T, dù đã được Tòa án triệu tập nhiều lần để hòa giải với chị T nhưng không đến. Điều đó đã cho thấy anh T1 không còn quan tâm đến hôn nhân với chị T, tự mình từ bỏ nghĩa vụ chứng minh. Tại Điều 19 của Luật Hôn nhân và gia đình quy định: “Vợ chồng có nghĩa vụ yêu thương, chung thủy, tôn trọng, quan tâm, chăm sóc, giúp đỡ lẫn nhau; cùng chia sẻ, thực hiện các công việc trong gia đình” và “vợ chồng có nghĩa vụ sống chung với nhau”. Qua đó, Hội đồng xét xử nhận thấy giữa chị T và anh T1 đã không còn tình nghĩa vợ chồng, tình trạng hôn nhân trầm trọng, đời sống chung không còn nên mục đích của hôn nhân không đạt được, vì vậy yêu cầu xin ly hôn của chị T là có căn cứ.

Về con chung: Có 01 con chung là cháu Lê Hoàng P, sinh ngày 15-02-2020. Cháu P hiện đang do chị T trực tiếp nuôi dưỡng, phía anh T1 không có ý kiến gì về việc này, không có yêu cầu được nuôi con. Do đó, Hội đồng xét xử xét thấy chị T yêu cầu được trực tiếp nuôi con là phù hợp. Chị T không yêu cầu anh T1 phải cấp dưỡng nuôi con là tự nguyện nên Hội đồng xét xử không đặt ra giải quyết.

Về tài sản chung, nợ chung: Chị T, anh T1 đều không yêu cầu về phần này nên Hội đồng xét xử không xét đến.

Về án phí: Chị Lê Thị T là nguyên đơn khởi kiện vụ án hôn nhân gia đình nên phải chịu án phí theo quy định tại điểm a khoản 5 Điều 27 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30-12-2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ vào khoản 1 Điều 28; điểm a khoản 1 Điều 35; điểm a khoản 1 Điều 39; khoản 4 Điều 147; khoản 1, điểm b khoản 2 Điều 227; khoản 1, khoản 3 Điều 228 của Bộ luật Tố tụng dân sự; khoản 1 Điều 51, khoản 1 Điều 56, các Điều 81, 82, 83 của Luật Hôn nhân và gia đình; điểm a khoản 5 Điều 27 của Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30-12-2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội.

1. Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của chị Lê Thị T. Cho chị Lê Thị T được ly hôn với anh Ngô Văn T1.

2. Về con chung:

Giao cháu Lê Hoàng P, sinh ngày 15-02-2020 cho chị Lê Thị T là người trực tiếp nuôi dưỡng sau khi ly hôn.

Anh Ngô Văn T1 chưa phải cấp dưỡng nuôi con do chị Lê Thị T chưa yêu cầu.

Anh Ngô Văn T1 có quyền, nghĩa vụ thăm nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục con mà không ai được cản trở.

3. Về án phí:

Chị Lê Thị T phải chịu 300.000 (Ba trăm nghìn) đồng án phí dân sự sơ thẩm về ly hôn, nhưng được trừ vào số tiền 300.000 (Ba trăm nghìn) đồng đã nộp tạm ứng theo biên lai thu tạm ứng án phí, lệ phí Tòa án số 0016105 ngày 26-4-2022 của Chi cục Thi hành án dân sự huyện Cai Lậy, nên xem như đã thi hành xong.

4. Về quyền kháng cáo: Các đương sự có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án, hoặc bản án được niêm yết để yêu cầu Tòa án nhân dân tỉnh Tiền Giang xét xử lại theo thủ tục phúc thẩm.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

Cỡ chữ