vanban.org

Bản án 149/2022/DS-ST — Tranh chấp hợp đồng tín dụng

Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.

Chấp nhận toàn bộ yêu cầu khởi kiện của Ngân hàng TMCP SG đối với bà Phạm Thị Th. Buộc bà Phạm Thị Th phải có trách nhiệm trả cho Ngân hàng TMCP SG số tiền vay vốn và lãi tính đến ngày 30/9/2022 là 27.028.600 đồng (Hai mươi bảy triệu không trăm hai mươi tám nghìn sáu trăm đồng). Tiếp tục tính lãi ph…

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? Tranh chấp hợp đồng tín dụng — án dân sự — "Tranh chấp hợp đồng tín dụng"
  • Tòa quyết gì? Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.
  • Căn cứ chính? Điều 227 Bộ luật Tố tụng dân sự; NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…; Điều 147 Bộ luật Tố tụng dân sự
TÒA ÁN NHÂN DÂN
HUYỆN CÁI NƯỚC
TỈNH CÀ MAU

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

,
Bản án số: 149/2022/DS-ST
Ngày: 30-9-2022
V/v tranh chấp hợp đồng tín dụng

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN CÁI NƯỚC, TỈNH CÀ MAU

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Bùi Ngọc Huyền

Các Hội thẩm nhân dân:

1. Ông Trần Hoàng Bé

2. Ông Trần Quốc Trí

- Thư ký phiên tòa: Bà Trần Thu Khiếm - Thư ký Tòa án nhân dân huyện Cái Nước, tỉnh Cà Mau.

Ngày 30 tháng 9 năm 2022, tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Cái Nước xét xử sơ thẩm công khai vụ án dân sự thụ lý số: 192/2022/TLST-DS ngày 01 tháng 7 năm 2022 về việc “Tranh chấp hợp đồng tín dụng” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 158/2022/QĐXXST-DS ngày 23 tháng 8 năm 2022, giữa các đương sự:

- Nguyên đơn: Ngân hàng TMCP SG.

Địa chỉ: Số 2, phường T, quận B, thành phố Hồ Chí Minh.

Người đại diện theo pháp luật là: Bà Nguyễn Đức Thạch D – Tổng Giám đốc (Vắng mặt).

Người đại diện theo ủy quyền của bà Nguyễn Đức Thạch D là: Ông Diệp Lâm Kỳ Ph – Giám đốc chi nhánh Cà Mau (Theo Quyết định số 3161/2021/QĐ-PL ngày 27/12/2021) (Vắng mặt).

Người đại diện theo ủy quyền của ông Diệp Lâm Kỳ Ph là: Ông Nguyễn Bình Ph1 – Chuyên viên Quản lý nợ – Phòng Kiểm soát rủi ro – Chi nhánh Cà Mau (Theo Văn bản ủy quyền ngày 30/5/2022) (Có mặt).

Địa chỉ: Số 1, phường T, thành phố C, tỉnh Cà Mau.

- Bị đơn: Bà Phạm Thị Th, sinh năm 1979 (Vắng mặt).

Địa chỉ cư trú: Ấp M, xã Tr, huyện C, tỉnh Cà Mau.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

* Tại đơn khởi kiện ngày 30/5/2022 và trong quá trình giải quyết vụ án đại diện theo ủy quyền của nguyên đơn là ông Nguyễn Bình Ph1 trình bày:

Vào ngày 13/8/2018 bà Phạm Thị Th đã ký hợp đồng tín dụng số 01412 – 00005 vay vốn tại Ngân hàng TMCP SG – Chi nhánh C – Phòng giao dịch Đ (Viết tắt là Ngân hàng) chi tiết như sau: Số tiền vay 50.000.000 đồng, thời hạn vay 12 tháng (365 ngày), lãi suất 2,7%/tháng (Cho vay trả góp hàng ngày), số kỳ trả nợ là 365 kỳ, số tiền trả mỗi kỳ là 181.400 đồng, riêng kỳ cuối là 170.400 đồng, biện pháp bảo đảm: Cho vay tín chấp không có tài sản bảo đảm.

Trong quá trình vay bà Phạm Thị Th đã trả được 216 kỳ, với tổng số tiền phát sinh là 39.182.400 đồng, trong đó vốn đã trả là 29.592.000 đồng, lãi đã trả là 9.590.400 đồng. Ngày 12/02/2019 khoản vay của bà Phạm Thị Th đã đến hạn thanh toán nhưng khách hàng vẫn chưa thực hiện nghĩa vụ thanh toán khoản nợ cho Ngân hàng để phát sinh nợ quá hạn tại Ngân hàng, Ngân hàng đã chuyển toàn bộ hồ sơ sang quá hạn từ tháng 02/2019. Mặc dù Ngân hàng đã liên hệ nhiều lần nhưng khách hàng vẫn lẫn tránh không thực hiện nghĩa vụ thanh toán nợ như hợp đồng tín dụng đã ký. Tính đến ngày 30/5/2022 bà Phạm Thị Th còn nợ Ngân hàng tổng số tiền là 27.028.600 đồng (Trong đó: Vốn là 20.413.000 đồng, lãi là 6.615.600 đồng).

Để đảm bảo quyền lợi hợp pháp của Ngân hàng, Ngân hàng yêu cầu Tòa án giải quyết buộc bà Phạm Thị Th trả cho Ngân hàng số tiền tính đến ngày 30/5/2022 là 27.028.600 đồng (Hai mươi bảy triệu không trăm hai mươi tám nghìn sáu trăm đồng) và tiền lãi phát sinh kể từ ngày 31/5/2022 cho đến khi trả dứt nợ vay theo lãi suất quy định tại hợp đồng tín dụng.

Tại phiên tòa, đại diện Ngân hàng giữ nguyên yêu cầu khởi kiện, yêu cầu Hội đồng xét xử buộc bà Phạm Thị Th có trách nhiệm trả cho Ngân hàng tổng số tiền vốn và lãi tính đến ngày xét xử sơ thẩm (30/9/2022) số tiền là 27.028.600 đồng (Trong đó: Vốn là 20.413.000 đồng, lãi là 6.615.600 đồng).

* Trong quá trình giải quyết vụ án cũng như tại phiên tòa sơ thẩm bị đơn là bà Phạm Thị Th đã được Tòa án tống đạt hợp lệ thông báo thụ lý vụ án, đã hết thời hạn theo quy định pháp luật mà bà Th không có văn bản trình bày ý kiến của mình về yêu cầu của Ngân hàng. Đồng thời, Tòa án cũng đã tống đạt hợp lệ hai lần thông báo về phiên họp, kiểm tra việc giao nộp, tiếp cận, công khai chứng cứ và hòa giải; tống đạt hợp lệ Quyết định đưa vụ án ra xét xử, Quyết định hoãn phiên tòa nhưng chỉ có đại diện theo ủy quyền của nguyên đơn có mặt theo giấy triệu tập của Tòa án, bị đơn là bà Phạm Thị Th vắng mặt không lý do nên vụ án không tiến hành hòa giải được cũng như nghe ý kiến của bà Th về yêu cầu trả nợ vay của Ngân hàng.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án đã được thẩm tra tại phiên tòa, trên cơ sở xem xét đầy đủ toàn diện các chứng cứ, Hội đồng xét xử nhận định:

Về quan hệ tranh chấp: Ngân hàng TMCP SG khởi kiện bà Phạm Thị Th yêu cầu trả tiền vốn vay và lãi còn nợ theo hợp đồng tín dụng đã ký nên đây là “Tranh chấp hợp đồng tín dụng” là tranh chấp về dân sự thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án. Bị đơn có địa chỉ cư trú tại ấp M, xã Tr, huyện C, tỉnh Cà Mau nên thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân huyện Cái Nước, tỉnh Cà Mau theo quy định tại khoản 3 Điều 26, điểm a khoản 1 Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 39 của Bộ luật tố tụng dân sự.

Về thủ tục tố tụng: Bị đơn là bà Phạm Thị Th đã được Tòa án triệu tập hợp lệ để tham gia phiên tòa đến lần thứ hai nhưng vẫn vắng mặt không có lý do nên Hội đồng xét xử căn cứ vào điểm b khoản 2 Điều 227 của Bộ Luật Tố tụng dân sự xét xử vắng mặt đối với bị đơn là phù hợp và đúng quy định của pháp luật.

Về nội dung: Tại phiên tòa, Ngân hàng TMCP SG yêu cầu bà Phạm Thị Th phải có trách nhiệm trả cho Ngân hàng TMCP SG số tiền tính đến ngày 30/9/2022 là 27.028.600 đồng và lãi phát sinh từ ngày 01/10/2022 cho đến khi trả dứt nợ vay theo lãi suất quy định tại Hợp đồng tín dụng đã ký kết. Hội đồng xét xử thấy rằng, căn cứ theo hợp đồng tín dụng số 01412 – 00005 ngày 13/8/2018 giữa Ngân hàng TMCP SG và bà Phạm Thị Th và các giao dịch bà Th đã thực hiện có cơ sở xác định bà Th có giao dịch vay tiền từ Ngân hàng TMCP SG, tính đến ngày 30/9/2022 bà Th còn nợ Ngân hàng TMCP SG với tổng số tiền vốn và lãi là 27.028.600 đồng là thực tế có xảy ra và đã vi phạm nghĩa vụ theo quy định tại Điều 274 Bộ luật dân sự năm 2015. Do đó yêu cầu khởi kiện của Ngân hàng TMCP SG yêu cầu bà Phạm Thị Th trả lại số tiền vay vốn và lãi tính đến ngày 30/9/2022 là 27.028.600 đồng và lãi phát sinh từ ngày 01/10/2022 cho đến khi trả dứt nợ vay theo lãi suất quy định tại Hợp đồng tín dụng đã ký kết là phù hợp theo quy định của pháp luật nên cần được chấp nhận.

Quá trình Tòa án thụ lý giải quyết vụ án, bà Phạm Thị Th đã biết việc Ngân hàng TMCP SG khởi kiện và biết các tài liệu chứng cứ mà Ngân hàng TMCP SG cung cấp cho Tòa án nhưng bà Th không có ý kiến phản đối hay đưa ra tài liệu chứng cứ gì để chứng minh về việc đã trả số tiền vay cho Ngân hàng TMCP SG hay chưa, nên việc Ngân hàng TMCP SG khởi kiện yêu cầu Tòa án giải quyết là có cơ sở chấp nhận theo quy định tại Điều 463 Bộ luật dân sự năm 2015.

Về án phí: Ngân hàng TMCP SG không phải chịu án phí dân sự sơ thẩm có giá ngạch; bà Phạm Thị Th phải chịu án phí dân sự sơ thẩm có giá ngạch theo quy định tại Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14, ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ:

Các Điều 26; 35; 39; 147, 227, 266, 271, 273 Bộ luật Tố tụng dân sự;

Các Điều 166, 185, 357, 463, 466, 468, 469 Bộ luật Dân sự năm 2015;

Các Điều 91, 95, 98 Luật Các tổ chức tín dụng năm 2010;

Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.

Tuyên xử:

1. Chấp nhận toàn bộ yêu cầu khởi kiện của Ngân hàng TMCP SG đối với bà Phạm Thị Th.

Buộc bà Phạm Thị Th phải có trách nhiệm trả cho Ngân hàng TMCP SG số tiền vay vốn và lãi tính đến ngày 30/9/2022 là 27.028.600 đồng (Hai mươi bảy triệu không trăm hai mươi tám nghìn sáu trăm đồng). Tiếp tục tính lãi phát sinh kể từ ngày 01/10/2022 cho đến khi bà Th trả nợ xong theo quy định của Hợp đồng tín dụng số 01412 – 00005 ngày 13/8/2018 giữa Ngân hàng TMCP SG và bà Phạm Thị Th.

2. Về án phí: Buộc bà Phạm Thị Th phải chịu án phí dân sự sơ thẩm có giá ngạch là 1.351.400 đồng (Một triệu ba trăm năm mươi mốt nghìn bốn trăm đồng), nộp tại Chi cục Thi hành án dân sự huyện Cái Nước khi án có hiệu lực pháp luật. Ngân hàng TMCP SG không phải chịu án phí dân sự sơ thẩm có giá ngạch, đã qua Ngân hàng TMCP SG có dự nộp số tiền tạm ứng án phí là 676.000 đồng theo biên lai thu tiền số 0008267 ngày 01/7/2022 của Chi cục Thi hành án dân sự huyện Cái Nước được nhận lại.

Án xử sơ thẩm công khai, Ngân hàng TMCP SG có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 (Mười lăm) ngày kể từ ngày tuyên án. Bà Phạm Thị Th có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 (Mười lăm) ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được tống đạt hợp lệ.

Trường hợp bản án được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thoả thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7, 7a, 7b và 9 Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật Thi hành án dân sự.

Cỡ chữ