vanban.org

Bản án 149/2021/HSST — Hình sự

TAND TP. Long Xuyên, tỉnh An Giang Tuyên án 30/11/2021 Hình sự Sơ thẩm
Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

[1] Căn cứ vào: khoản 1 Điều 178; điểm i, s khoản 1 Điều 51; điểm o khoản 1 Điều 52; Điều 17, Điều 58, Điều 38, Điều 90, Điều 91, Điều 101 Bộ luật hình sự năm 2015 được sửa đổi, bổ sung năm 2017;

Xử phạt: Bị cáo Nguyễn Hiệp S 09 (chín) tháng tù về tội “Cố ý làm hư hỏng tài sản”. Thời hạn tù tính từ ngày 15/7/2021. Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? án hình sự — "Nguyễn Hiệp S, Lê T H phạm tội về tội “Cố ý làm hư hỏng tài sản” theo khoản 1 Điều 178 Bộ luật hình sự năm 2015 được sửa đổi, bổ sung năm 20…"
  • Tòa quyết gì? [1] Căn cứ vào: khoản 1 Điều 178; điểm i, s khoản 1 Điều 51; điểm o khoản 1 Điều 52; Điều 17, Điều 58, Điều 38, Điều 90, Điều 91, Điều 101 Bộ luật hình sự năm 2015 được sửa đổi, bổ sung năm 2017;
  • Căn cứ chính? Điều 51 Bộ luật Hình sự; NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…; Điều 101 Bộ luật Hình sự
TÒA ÁN NHÂN DÂN
T PHỐ LONG X
TỈNH AN GIANG

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 149/2021/HSST
Ngày: 30-11-2021

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN T PHỐ LONG X-TỈNH AN GIANG

- T phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa: Bùi Phương Quyền

Các Hội thẩm nhân dân:

1. Ông Lê T Thật

Phó chủ tịch UBND phường Mỹ Phước, T phố Long X

2. Ông L Tuấn Phong

Phó bí thư T đoàn, T phố Long X

- Thư ký phiên tòa: Ông Nguyễn Trương Phi – Thư ký Tòa án nhân dân T phố Long X.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân T phố Long X, tỉnh An Giang tham gia phiên tòa: Ông Trần Anh Khoa - Kiểm sát viên.

Ngày 30 tháng 11 năm 2021, tại Tòa án nhân dân T phố Long X xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ L số: 132/2021/TLST-HS ngày 07/10/2021 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 54/2021/QĐXXST-HS ngày 05/11/2021 đối với bị cáo:

1. Nguyễn Hiệp S, sinh ngày 05/3/2003, tại Long X, tỉnh An Giang; nơi cư trú: 23/4, khóm Nguyễn Du, phường Mỹ B, T phố Long X, tỉnh An Giang; nghề nghiệp: Không; trình độ văn hóa: 07/12; dân tộc: Kinh; giới tính: Nam; tôn giáo: Đạo Phật; quốc tịch: Việt Nam; con ông: Nguyễn T H, sinh năm 1965 và bà Lê Thị T, sinh năm 1960; bị cáo chưa có vợ con; nhân thân: Từ nhỏ đến lớn sống chung với cha mẹ, đi học đến lớp 7 nghỉ học. Ngày 18/6/2021, bị Ủy ban nhân dân phường Mỹ B, T phố Long X áp dụng biện pháp giáo dục tại xã, phường thời hạn 03 tháng về hành vi “Sử dụng trái phép chất ma túy”; tiền án, tiền sự: Không.

Bị cáo bị tạm giam từ ngày 15/7/2021 cho đến nay và có mặt tại phiên tòa

2. Lê T H, sinh ngày 02/01/2004, tại Long X, tỉnh An Giang; nơi cư trú: 71/2A, khóm Đông An 1, phường Mỹ X, T phố Long X, tỉnh An Giang; nghề nghiệp: Làm thuê; trình độ văn hóa: 07/12; dân tộc: Kinh; giới tính: Nam; tôn giáo: Đạo Phật; quốc tịch: Việt Nam; con ông: Lê Văn B, sinh năm 1975 và bà Lê Thị X, sinh năm 1972; bị cáo chưa có vợ con; nhân thân: Từ nhỏ đến lớn sống chung với cha mẹ, đi học hết lớp 7 nghỉ học; tiền án, tiền sự: Không.

Bị cáo bị áp dụng biện pháp cấm đi khỏi nơi cư trú từ ngày 13/7/2021 đến nay. Bị cáo có mặt tại phiên tòa.

Người đại diện hợp pháp của bị cáo H: Ông Lê Văn B , sinh năm 1975 (cha ruột bị cáo H); nơi cư trú: 71/2A, khóm Đông An 1, phường Mỹ X, T phố Long X, tỉnh An Giang – Có mặt.

Người bào chữa cho bị cáo S, H: Ông Đỗ Khoa Khôi - Trợ giúp viên pháp L - Trung T trợ giúp pháp L nhà nước tỉnh An Giang – Có mặt.

- Bị hại: Anh Trần Phú Hải L; nơi cứ trú: Khu vực Thới Xương 2, phường Thới Long, quận Ô Môn, T phố Cần Thơ – Có mặt.

- Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan:

1. Trần Văn H, sinh năm 2007; nơi cư trú: 34/2A, khóm Nguyễn Du, phường Mỹ B, T phố Long X, tỉnh An Giang – Vắng mặt.

Người đại diện hợp pháp cho H: Bà Phạm Thị Bé T, sinh năm 1991; nơi cư trú: 34/2A, khóm Nguyễn Du, phường Mỹ B, T phố Long X, tỉnh An Giang – Vắng mặt

Người bảo vệ quyền, lợi ích hợp pháp cho Trần Văn H: Ông Hà Quang Vân - Trợ giúp viên pháp L - Trung T trợ giúp pháp L nhà nước tỉnh An Giang – Có mặt.

2. Lê Hữu T, sinh năm 2005; nơi cư trú: Tổ 7, khóm Nguyễn Du, phường Mỹ B, T phố Long X, tỉnh An Giang – Có mặt.

3. Phạm T T, sinh năm 2005; nơi cư trú: Số 71/2A, khóm Đông An 1, phường Mỹ X, T phố Long X, tỉnh An Giang – Vắng mặt.

Người bảo vệ quyền, lợi ích hợp pháp cho Lê Hữu T, Phạm T T: Bà Văng Thị Vân - Trợ giúp viên Trung T trợ giúp pháp L nhà nước tỉnh An Giang – Có mặt.

4. Hà Văn T, sinh năm 2002; nơi cư trú: Số 26/26, khóm Nguyễn Du, phường Mỹ B, T phố Long X, tỉnh An Giang – Có mặt.

- Người làm chứng:

1. Nguyễn Thị T, sinh năm 2004 – Vắng mặt.

2. Võ Phước S, sinh năm 2005 – Vắng mặt.

3. Nguyễn Thị Mộng T, sinh năm 2007 – Vắng mặt.

Người bảo vệ quyền, lợi ích hợp pháp cho Nguyễn Thị Mộng T: Bà Huỳnh Thị Ái Duyên - Trợ giúp viên Trung T trợ giúp pháp L nhà nước tỉnh An Giang – Có mặt.

4. Nguyễn Thị Kim T, sinh năm 2008 – Vắng mặt.

5. Nguyễn Chí T, sinh năm 2001 – Vắng mặt.

6. Trần Nguyên K, sinh năm 2003 – Vắng mặt.

7. Phạm Thị Bé T, sinh năm 1991 – Vắng mặt.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Khoảng 23 giờ 30 phút, ngày 17/01/2021, Nguyễn Hiệp S (sinh ngày 05/3/2004), Lê T H (sinh ngày 02/02/2004), Trần Văn H (sinh ngày 31/01/2007, Hà Văn T, Nguyễn Thị T, Lê Hữu T, Phạm T T, Võ Phước S, Nguyễn Thị Mộng T, Nguyễn Thị Kim T, Nguyễn Chí T đến Công viên trên đường Nguyễn Du, phường Mỹ B, T phố Long X chơi. Lúc này, S rủ cả nhóm đến máy bán hàng tự động của Công ty EDI do anh Trần Phú Hải L có trách nhiệm quản L đặt tại công viên lấy nước uống thì cả nhóm đồng ý. Thực hiện ý định này S, H, H dùng chân đạp mạnh nhiều cái vào phía sau máy bán hàng tự động làm tấm kính mặt trước của máy bị nứt hình mạng nhện nhưng không lấy được nước nên cả nhóm bỏ đi.

Đến khoảng 00 giờ 30 phút ngày 18/01/2021, S rủ H, T, T, S, T, T T, Mộng T, Kim T quay trở lại máy bán hàng tự động. Đến đây, S tiếp tục dùng chân đạp mạnh vào phía sau máy bán hàng tự động một cái làm tấm kính cường lực mặt trước của máy bị vỡ nhưng bên trong còn một lớp kính nữa nên H nhặt 03 cục đá loại 4x6cm dưới lề đường ném vỡ lớp kính này. Ngay sau đó, S, H, T, T, T T đưa tay qua khoảng trống tấm kính bị vỡ lấy khoảng 73 chai nước ngọt; 02 lon cam; 02 họp sữa; 32 gói bánh ngọt không rõ nhãn hiệu; 02 họp sữa Milo Nestle; 06 gói bánh khoai tây Snack Orion chia nhau ăn, uống.

Hành vi trên của S, H và những người nêu trên được camera an ninh đặt tại công viên do công an phường Mỹ B quản L ghi lại. Cơ quan cảnh sát điều tra công an T phố Long X đã thu giữ đoạn Camera này trong 01 đĩa DVD hiệu maxell, lưu trữ 05 tập tin video.

Công văn 1703/2021/CV-EDI, ngày 17/3/2021 của công ty TNHH kỹ thuật EDI cho biết:

- Máy bán hàng chỉ lưu thông tin theo doanh số tháng, máy không có chức năng xem theo giờ nên rất khó thống kê doanh số theo giờ và theo thời điểm xảy ra sự việc.

- Thiệt hại về số lượng nước ngọt, bánh và các phần tài sản bị lấy trộm không xác định được.

Kết luận về việc xác định giá trị tài sản số 44/KL.HĐ ngày 01 tháng 3 năm 2021 của Hội đồng Định giá tài sản trong tố tụng hình sự T phố Long X, xác định:

- 01 tấm kính cường lực, loại 02 lớp + công thợ + vật tư thiệt hại 9.900.000đ

Các kết luận về việc xác định giá trị số 90 ngày 04/6/20221; số 35 ngày 24/7/2021 của Hội đồng Định giá tài sản trong tố tụng hình sự T phố Long X xác định:

- 73 chai nước ngọt; 02 lon nước cam; 02 họp sữa; 32 gói bánh ngọt không rõ nhãn hiệu không có cơ sở xác định giá trị tài sản;

- 02 họp sữa Milo Nestle, trị giá 20.000đ;

- 06 gói bánh khoai tây Snack Orion, trị giá 60.000đ.

Kết luận giám định số 53 ngày 06/4/2021, của Phòng kỹ thuật hình sự công an tỉnh An Giang xác định: Trích xuất 129 ảnh từ dữ liệu 05 tập tin video lưu trữ trong đĩa DVD do cơ quan cảnh sát điều tra công an T phố Long X gửi giám định.

Cáo trạng số: 128/CT-VKS ngày 06/10/2021 của Viện kiểm sát nhân dân T phố Long X, truy tố Nguyễn Hiệp S, Lê T H về tội “Cố ý làm hư hỏng tài sản” theo khoản 1 Điều 178 Bộ luật hình sự năm 2015 được sửa đổi, bổ sung năm 2017.

Tại phiên toà sơ thẩm:

* Đại diện Viện kiểm sát nhân dân T phố Long X vẫn giữ nguyên quyết định truy tố và đề nghị:

Về trách nhiệm hình sự:

1. Áp dụng khoản 1 Điều 178; điểm i, s khoản 1 Điều 51; điểm o khoản 1 Điều 52; Điều 38, Điều 58, Điều 90, Điều 91, Điều 101 Bộ luật hình sự năm 2015, đề nghị xử phạt bị cáo Nguyễn Hiệp S từ 09 tháng đến 01 năm tù về tội “Cố ý làm hư hỏng tài sản” theo khoản 1 Điều 178 Bộ luật hình sự năm 2015;

2. Áp dụng khoản 1 Điều 178; điểm i, s khoản 1 Điều 51; Điều 38, Điều 58 Điều 90, Điều 91, Điều 101 Bộ luật hình sự năm 2015, đề nghị xử phạt bị cáo Lê T H từ 06 tháng đến 09 tháng tù về tội “Cố ý làm hư hỏng tài sản” theo khoản 1 Điều 178 Bộ luật hình sự năm 2015.

Về trách nhiệm dân sự: Bị hại Công ty TNHH EDI do anh Trần Phú Hải L đại diện theo ủy quyền trước đây có yêu cầu bồi thường 15.000.000đ là tiền lắp kính mới và công sửa chữa. Nhưng tại phiên tòa anh L chỉ yêu cầu các bị cáo bồi thường theo định giá của Hội đồng định giá là 9.900.000đ. Các bị cáo và đại diện hợp pháp bị cáo đồng ý bồi thường nên đề nghị ghi nhận. Đối với người liên quan là Trần Văn H, snh năm 2007, do bà Phạm Thị Bé T đại diện nhưng vắng mặt tại phiên tòa, quá trình điều tra thì H thừa nhận hành vi đập phá máy bán nước, do H sinh năm 2007 nên cần buộc bà Phạm Thị Bé T liên đới với các bị cáo; đại diện hợp pháp bị cáo có trách nhiêm liên đới bồi thường số tiền này cho bị hại.

Người bào chữa cho các bị cáo S, H có ý Kiến: Thống nhất tội danh mà Viện kiểm sát truy tố. Về hình phạt thì đề nghị có xem xét cho các bị cáo phạm tội lần đầu và thuộc trường hợp ít nghiêm trọng, gia đình các bị cáo có hoàn cảnh khó khăn, thiếu sự quản L của gia đình, các bị cáo còn nhỏ tuổi nên nhận thức pháp luật còn hạn chế. Từ những nhận định nêu trên đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng điểm i, s khoản 1 Điều 51 Bộ luật Hình sự năm 2015, cho bị cáo S hưởng mức đầu khung hình phạt cũng đủ tác dụng răn đe đối với bị cáo. Đối với bị cáo H ngoài thì chỉ thực hiện hành vi đạp phá máy bán hàng một lần, thời gian tại ngoại bị cáo chấp hành tốt pháp luật, có mặt theo giấy triệu tập của Tòa án, hoàn cảnh bị cáo khó khăn, bị cáo rất hối hận về hành vi của mình nên đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng thêm Điều 54 Bộ luật Hình sự cho bị cáo được hưởng án treo cũng đủ tác dụng răn đe đối với bị cáo.

Người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp cho người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan Trần Văn H có ý kiến: Đối với phần tội danh và luận tội đại diện Viện kiểm sát thì thống nhất không có ý kiến. Tuy nhiên việc đại diện Viện kiểm sát đề nghị buộc bà Bé T là mẹ của Trần Văn H liên đới bồi thường thì đề nghị có xem xét, vì khi thực hiện hành vi thì ngoài S, H, H thì còn những người liên quan khác cũng có hành vi lấy bánh, sữa, nước uống trong máy nên đề nghị buộc tất cả những người này liên đới bồi thường cho bị hại.

Người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp cho T, T có ý kiến: Thống nhất tội danh và đề nghị của đại diện viện kiểm sát. Đối với T, T cũng nhận thức được việc mình tự ý lấy bánh, nước uống sau khi S, H, H đạp hư máy là sai trái và rất hối hận về hành vi của bản đây cũng là bài học cho T, T.

Người bảo vệ quyền, lợi ích hợp pháp cho Mộng T thống nhất với tội danh và đề nghị của đại diện Viện kiểm sát và không có ý kiến.

Các bị cáo S, H khai nhận hành vi phạm tội như nội dung Cáo trạng đã truy tố. Các bị cáo không tranh luận với bản luận tội của đại diện Viện kiểm sát về nội dung vụ án, về tội danh. Còn về hình phạt, bị cáo S xin Hội đồng xét xử xem xét giảm nhẹ hình phạt, bị cáo đã ăn năn hối cải về hành vi phạm tội của bản thân.

NHẬN ĐỊNH CỦA HỘI ĐỒNG XÉT XỬ:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

[1] Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra; Viện kiểm sát, Điều tra viên và Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự thủ tục quy định của Bộ luật tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa bị cáo thừa nhận hành vi phạm tội, không kêu oan, không khiếu nại.

Về thủ tục tố tụng

Tại phiên tòa vắng mặt người làm chứng; vắng mặt người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan: Trần Văn H, Phạm T T, mặc dù những người này đã được Tòa án triệu tập hợp lệ nhưng vắng mặt tại phiên tòa. Đại diện Viện kiểm sát không ý kiến về việc vắng mặt của những người này và đề nghị Hội đồng xét xử tiếp tục xét xử vụ án. Xét thấy, quá trình điều tra, Cơ quan điều tra – Công an T phố Long X đã tiến hành lấy lời khai những người này và tại phiên tòa có mặt người bảo vệ quyền, lợi ích hợp pháp cho T và H là đảm bảo quyền và lợi ích hợp pháp của T, H nên việc vắng mặt của họ tại phiên tòa không ảnh hưởng đến việc xét xử. Do đó, căn cứ khoản 1 Điều 292 Bộ luật tố tụng hình sự 2015, Hội đồng xét xử vẫn tiến hành xét xử vụ án.

Về trách nhiệm hình sự:

Các bị cáo S, H khai nhận: Khoảng 23 giờ 30 phút, ngày 17/01/2021, Nguyễn Hiệp S, Lê T H, Trần Văn H (sinh ngày 31/01/2007, Hà Văn T, Nguyễn Thị T, Lê Hữu T, Phạm T T, Võ Phước S, Nguyễn Thị Mộng T, Nguyễn Thị Kim T, Nguyễn Chí T đến Công viên trên đường Nguyễn Du, phường Mỹ B, T phố Long X chơi. Tại đây, S, H, H đã có hành vi dùng chân đạp mạnh nhiều cái vào phía sau máy bán hàng tự động làm tấm kính mặt trước của máy bị nứt hình mạng nhện nhưng không lấy được nước nên cả nhóm bỏ đi. Đến khoảng 00 giờ 30 phút ngày 18/01/2021, cả nhóm quay lại, Hiệp S tiếp tục dùng chân đạp mạnh vào phía sau máy bán hàng tự động một cái làm tấm kính cường lực mặt trước của máy bị vỡ nhưng bên trong còn một lớp kính nữa nên H nhặt 03 cục đá loại 4x6cm dưới lề đường ném vỡ lớp kính này. Ngay sau đó, S, H, T, T, T T đưa tay qua khoảng trống tấm kính bị vỡ lấy khoảng 73 chai nước ngọt; hai lon cam; hai họp sữa; 32 gói bánh ngọt không rõ nhãn hiệu; 02 họp sữa Milo Nestle; 06 gói bánh khoai tây Snack Orion chia nhau ăn, uống và sau đó bị phát hiện như nội dung cáo trạng đã truy tố.

Như vậy có đủ căn cứ để khẳng định các bị cáo Nguyễn Hiệp S, Lê T H là người đủ năng lực trách nhiệm hình sự, vào khuya ngày 17/01/2021 và rạng S ngày 18/01/2021, các bị cáo Nguyễn Hiệp S, Lê T H đã có hành vi dùng chân đạp làm hư máy bán hàng tự động của Công ty TNHH EDI với thiệt hại là 9.900.000đ. Hành vi của này các bị cáo đã đủ yếu tố cấu T tội Cố ý làm hư hỏng tài sản”, tội phạm và hình phạt được quy định tại khoản 1 Điều 178 Bộ luật hình sự 2015 sửa đổi, bổ sung năm 2017 với khung hình phạt từ 06 đến 03 năm tù.

Qua các chứng cứ, tài liệu, đồ vật đã được kiểm tra tại phiên tòa và ý kiến của các bị cáo; bị hại; người liên quan; người bào chữa; người bảo vệ quyền lợi ích hợp pháp; người làm chứng. Việc đại diện Viện kiểm sát nhân dân T phố Long X đề nghị truy tố các bị cáo theo toàn bộ nội dung bản cáo trạng số 128/CT-VKS ngày 06/10/2021 là có căn cứ, đúng người, đúng tội nên được Hội đồng xét xử xem xét chấp nhận.

Đối với Trần Văn H sinh ngày 31/01/2007 (14 tuổi) chưa đủ tuổi chịu trách nhiệm hình sự nên không truy tố bị cáo về tội “Cố ý làm hư hỏng tài sản là có căn cứ. Tuy nhiên tại phiên tòa hôm cũng nghiêm khắc phê phán hành vi này của H.

Tính chất mức độ hành vi phạm tội của các bị cáo:

Các bị cáo tại thời điểm phạm tội tuy chưa T niên nhưng đủ khả năng nhận thức hành vi bản thân, lẽ ra khi không có điều kiện học tập thì các bị cáo phải tìm công việc thích hợp phụ tiếp gia đình và sống có ích cho xã hội thế nhưng do bản tính ham chơi thích tụ tập đêm khuya và muốn thể hiện bản thân nên đã cố ý phạm tội bằng việc đập phá máy bán nước tự động gây hư hại theo định giá là 9.900.000đ. Hành vi của các bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, xâm phạm đến tài sản của công dân được pháp luật bảo vệ và gây mất trật tự tại địa phương, ảnh hưởng xấu đến nét đẹp văn minh đô thị, do đó cần xử phạt các bị cáo mức án tương xứng với tính chất, mức độ hành vi phạm tội của các bị cáo. Đối với việc người bào chữa cho bị cáo S, H đề nghị bị cáo S được hưởng mức đầu của khung hình phạt và cho bị cáo H được hưởng án treo là có cơ sở. Tuy nhiên, xét mức độ cũng như hành vi phạm tội của hai bị cáo là nguy hiểm xã hội, các bị cáo tụ tập đông người vào đêm khuya gây mất trật tự, tại địa phương, tuổi đời của các bị cáo còn trẻ nhưng lại rất liều lĩnh, biết muốn lấy nước, thức ăn trong máy bán hàng tự động thì phải bỏ tiền mua nhưng với bản tính thích thể hiện, cũng như xem thường pháp luật mà các bị cáo ngang nhiên đạp phá làm hư hỏng tài sản của người khác gây ảnh hưởng xấu đến nét đẹp văn minh đô thị nên không đủ cơ sở để xem xét đề nghị này của người bào chữa cho hai bị cáo. Do đó cần xử phạt các bị cáo mức án tương xứng với tính chất, mức độ hành vi phạm tội của các bị cáo để giáo dục, cải tạo các bị cáo trở T công dân biết tôn trọng pháp luật, đồng thời răn đe phòng ngừa chung.

Xét vai trò: Trong vụ án này, bị cáo S là người rủ rê bị cáo H và người liên quan H thực hiện hành vi phạm tội nên bị cáo là người giữ vai trò chính và mức hình phạt của bị cáo phải cao hơn bị cáo H. Đối với bị cáo H, khi được S rủ rê thì tích cực cùng với S thực hiện hành vi phạm tội điều này thể hiện tính đồng phạm của bị cáo.

Về tình tiết tăng nặng: Bị cáo S là người rủ rê H và H thực hiện hành vi phạm tội trong khi H, H chưa đủ 18 tuổi nên bị cáo đã phạm vào tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự là “Xuối giục người dưới 18 tuổi phạm tội” là tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự được quy định tại điểm o khoản 1 Điều 52 Bộ luật hình sự năm 2015.

Về tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: Tại phiên tòa cũng như tại cơ quan điều tra các bị cáo T khẩn khai báo, ăn năn hối cải về hành vi phạm tội của bản thân; các bị cáo phạm tội lần đầu thuộc trường hợp ít nghiêm trọng, là tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự được quy định tại điểm i, s khoản 1 Điều 51 Bộ luật hình sự năm 2015 được xem xét khi quyết định hình phạt đối với bị cáo.

Về trách nhiệm dân sự: Bị hại anh Trần Phú Hải L yêu cầu các bị cáo bồi thường 9.900.000đ. Các bị cáo S, H và ông B, ông H (cha ruột bị cáo S có mặt tại phiên tòa) đồng ý bồi thường như yêu cầu của bị hại. Đối với người liên quan Trần Văn H vắng mặt tại phiên tòa nhưng qua điều tra xác định H có tham gia đập phá máy, tuy H chưa đủ tuổi truy cứu trách nhiệm hình sự nhưng về trách nhiệm dân sự thì H phải có trách nhiệm bồi thường, do H chưa đủ 15 tuổi nên căn cứ các điều 587, 588, 589 Bộ luật dân sự năm 2015 thì đại diện hợp pháp cho H là bà Phạm Thị Bé T có nghĩa vụ liên đới cùng H, S, ông B, ông H bồi thường cho bị hại số tiền này.

Về án phí hình sự sơ thẩm: Bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định pháp luật.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH

[1] Căn cứ vào: khoản 1 Điều 178; điểm i, s khoản 1 Điều 51; điểm o khoản 1 Điều 52; Điều 17, Điều 58, Điều 38, Điều 90, Điều 91, Điều 101 Bộ luật hình sự năm 2015 được sửa đổi, bổ sung năm 2017;

Xử phạt: Bị cáo Nguyễn Hiệp S 09 (chín) tháng tù về tội “Cố ý làm hư hỏng tài sản”.

Thời hạn tù tính từ ngày 15/7/2021.

[2] Căn cứ vào: khoản 1 Điều 178; điểm i, s khoản 1 Điều 51; Điều 17, Điều 58, Điều 90, Điều 91, Điều 101 Bộ luật hình sự năm 2015 được sửa đổi, bổ sung năm 2017;

Xử phạt bị cáo: Lê T H

06 (sáu) tháng tù về tội “Cố ý làm hư hỏng tài sản”.

Thời hạn tù tính từ ngày bắt đi chấp hành án.

Về trách nhiệm dân sự: Căn cứ Điều 48 Bộ luật Hình sự; Điều 586, Điều 589 Bộ luật Dân sự năm 2015.

Buộc bị cáo Nguyễn Hiệp S, ông Nguyễn T H (ba ruột bị cáo S); bị cáo Lê T H, ông Lê Văn B (ba ruột bị cáo H); bà Phạm Thị Bé T người đại diện hợp pháp cho Trần Văn H liên đới bồi thường cho anh Trần Phú Hải L 9.900.000đ (chín triệu chín trăm nghìn đồng)

Kể từ ngày có đơn yêu cầu thi hành án của người được thi hành án cho đến khi thi hành án xong, nếu bên phải thi hành án chưa T toán số tiền nêu trên thì hàng tháng bên phải thi hành án còn phải chịu khoản tiền lãi của số tiền còn phải thi hành án theo mức lãi suất quy định tại khoản 2 Điều 468 Bộ luật Dân sự 2015.

[3] Về án phí: Căn cứ khoản 2 Điều 135 và khoản 2 Điều 136 Bộ luật tố tụng hình sự năm 2015; Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội. Mỗi bị cáo phải chịu 200.000 đồng (hai trăm nghìn đồng) án phí hình sự sơ thẩm.

Án phí dân sự: Bị cáo Nguyễn Hiệp S, bị cáo Lê T H cùng với người đại diện hợp pháp của bị cáo là ông là Lê Văn B, ông Nguyễn T H, bà Phạm Thị Bé T liên đới nộp 495.000đ (bốn trăm chín mươi lăm nghìn đồng) án phí dân sự sơ thẩm.

[4] Về quyền kháng cáo:

Các bị cáo; đại diện hợp pháp bị cáo; người bào chữa cho bị cáo H; bị hại; người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan; người bảo vệ cho người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan có mặt được quyền kháng cáo trong thời hạn 15 ngày, kể từ ngày tuyên án.

Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan vắng mặt được quyền kháng cáo trong thời hạn 15 ngày, tính từ ngày nhận được bản án hoặc ngày bản án được niêm yết theo quy định của pháp luật.

Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, sự tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, Điều 7 và Điều 9 Luật thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật thi hành án./..

Cỡ chữ