vanban.org

Bản án 149/2021/HSST — Hình sự

TAND huyện Tuy Phong, tỉnh Bình Thuận Tuyên án 18/11/2021 Hình sự Sơ thẩm
Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Tuyên bố bị cáo Phạm Thành S phạm tội “Trộm cắp tài sản”

Xử phạt: Bị cáo Phạm Thành S 18 (Mười tám) tháng tù, thời gian từ tính từ ngày bị bắt thi hành án. Biện pháp tư pháp: Căn cứ điểm a khoản 1 Điều 46; điểm a khoản 1 Điều 47 Bộ luật hình sự; điểm a, c khoản 2 Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự. Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? án hình sự — "phạm thanh samh- trộm cắp - phạm tội trộm cắp tài sản (điều 173 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS năm 2015)"
  • Tòa quyết gì? Tuyên bố bị cáo Phạm Thành S phạm tội “Trộm cắp tài sản”
  • Căn cứ chính? Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự; NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…; Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự
TÒA ÁN NHÂN DÂN
HUYỆN TUY PHONG
TỈNH BÌNH THUẬN

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 149/2021/HSST
Ngày 18/11/2021

NHÂN DANH

NƢỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN TUY PHONG, TỈNH BÌNH THUẬN

Với thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa: Bà Thanh Nữ Kiều Oanh

Các Hội thẩm nhân dân:

1. Ông Phạm Văn Minh

2. Bà Nguyễn Thị Tây Nguyên

Thư ký phiên tòa: Ông Đắc Quốc Tuân -Thư ký Tòa án nhân dân huyện Tuy Phong

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Tuy Phong tham gia phiên tòa: ông Nguyễn Văn Thìn - Kiểm sát viên.

Trong ngày 18 tháng 11 năm 2021, tại Trụ sở Tòa án nhân dân huyện Tuy Phong, xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số: 128/2020/HSST, ngày 14/10/2021 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 141/2021/QĐXXST-HS ngày 20/10/2021 và Thông báo thời gian và địa điểm mở lại phiên họp số: 05/2021/TBXXST-HS ngày 03/11/2021 đối với bị cáo:

Họ và tên: Phạm Thành S (Tên gọi khác: S) sinh năm 1989

Nơi đăng ký HKTT: khu phố A, thị trấn L, huyện T, tỉnh Bình Thuận;

Giới tính: Nam; Quốc tịch: Việt Nam; Dân tộc: Kinh; Tôn giáo: Không; Trình độ học vấn: 5/12; Nghề nghiệp: không; Con ông Phạm Thành L1 và bà Nguyễn Thị T1; Anh, chị em ruột: có 06 người Lớn nhất sinh năm 1980 nhỏ nhất sinh năm 1998; Vợ, con: chưa có.

Tiền án: không.

Tiền sự: 03 tiền sự

- Ngày 08/9/2020 bị Chủ tịch Ủy ban nhân dân thị trấn L Quyết định áp dụng biện pháp giáo dục tại xã, phường, thị trấn với thời hạn 03 tháng về hành vi “Sử dụng trái phép chất ma túy”

- Ngày 12/12/2020 bị Công an xã P xử phạt vi phạm hành chính với mức phạt 1.500.000 đồng về hành vi “Trộm cắp tài sản” (chưa chấp hành).

- Ngày 02/02/2021 bị Tòa án nhân dân huyện Tuy Phong Quyết định áp dụng biện pháp xử lý hành chính đưa vào Cơ sở cai nghiện bắt buộc, thời hạn 18 tháng (chưa chấp hành).

* Hoạt động nhân thân của bị cáo:

- Ngày 13/4/2006 bị Chủ tịch Ủy ban nhân dân huyện T Quyết định đưa vào trường giáo dưỡng, thời hạn 24 tháng, chấp hàng xong ngày 20/11/2007.

Bị cáo Phạm Thành S bị áp dụng biện pháp ngăn chặn “Cấm đi khởi nơi cư trú” hiện đang tại ngoại ở khu phố 10, thị trấn L, huyện T, tỉnh Bình Thuận và có mặt tại phiên toà.

Bị hại: Lê Tấn H, sinh năm 1992

Địa chỉ: thôn N, xã O, huyện I, tỉnh Quảng Ngãi;

Ông Hoàng có đơn xin xét xử vắng mặt.

Nhân chứng: Tạ Thái Đ; vắng mặt.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Phạm Thành S, sinh năm 1989, trú tại khu phố A, thị trấn L, huyện T đã bị Công an xã P, huyện T xử phạt vi phạm hành chính với mức phạt 1.500.000 đồng về hành vi “Trộm cắp tài sản” chưa được xóa tiền sự lại tiếp tục thực hiện hành vi trộm cắp tài sản như sau:

Đêm ngày 07/9/2021 Tạ Thái Đ đến nhà trọ của Phạm Thành S ở khu phố 5 – thị trấn L rủ S đi hút trộm dầu của xe container thì S đồng ý. Đ điều khiển xe mô tô có gắn biển số 86F1-4228 chở S mang theo 01 ống tuýp sắt Φ27 dài khoảng 95cm đến bãi cỏ gần cửa hàng xăng dầu L (cạnh Quốc lộ 1A) thuộc khu phố B, thị trấn L lấy dụng cụ hút dầu mà Đ đã chuẩn bị trước đó gồm: 04 can nhựa loại 30 lít; 01 đoạn ống nhựa màu hồng dài khoảng 3,6m. Đến khoảng 01 giờ ngày 08/9/2021 S và Đ mang những dụng cụ trên đến bình dầu xe container biển số 51C-18667 của ông Lê Tấn H đang dừng nghỉ phía trước cây xăng. Thấy không có người trong coi nên Đ và S dùng tay mở nắp thùng dầu rồi cấm ống nhựa màu hồng vào trong bình dầu rồi dùng miệng hút cho dầu chảy vào can nhựa. Khi hút đầy được 02 can dầu 30 lít thì bị lực lượng cảnh sát giao thông tuần tra phát hiện bắt giữ cùng tang vật và giao cho Công an huyện Tuy Phong tiếp tục xử lý.

Tại bản kết luận định giá tài sản số 81/KL-HĐĐG ngày 09/9/2021 của Hội đồng định giá tài sản trong tố tụng hình sự huyện Tuy Phong, kết luận: 60 lít dầu DO trị giá: 15.970 đồng/lít × 60 lít = 958.200 đồng.

Quá trình điều tra Phạm Thành S đã thừa nhận toàn bộ hành vi trộm cắp tài sản nêu trên.

Về tang vật chứng: Ngày 15/9/2021 Cơ quan Cảnh sát điều tra – Công an huyện Tuy Phong đã có Quyết định xử lý vật chứng số 65 trả lại cho bị hại 60 lít dầu DO cho bị hại Lê Thái H.

Đã chuyển vào kho vật chứng của Chi cục Thi hành án dân sự huyện Tuy Phong 01 xe mô tô có gắn biển số 86F1-4228, không rõ số khung, số máy; 04 can nhựa loại 30 lít; 01 đoạn ống nhựa màu hồng dài 3,6m; 01 ống tuýp sắt Φ27 dài khoảng 95cm.

Về trách nhiệm dân sự: Bị hại Lê Tấn H không yêu cầu bồi thường gì thêm nên không xem xét.

Đối với Tạ Thái Đ đã cùng với Phạm Thành S đi trộm cắp tài sản nhưng giá trị tài sản bị trộm cắp dưới 2.000.000 đồng, Đ chưa bị xử phạt vi phạm hành chính hoặc bị kết án về hành vi chiếm đoạt tài sản nên không đủ yếu tố cấu thành tội phạm. Ngày 07/10/2021 Cơ quan Cảnh sát điều tra – Công an huyện Tuy Phong có Công văn số 223 và sao trích hồ sơ đề nghị Công an huyện Tuy Phong ra Quyết định xử phạt vi phạm hành chính là phù hợp.

Ý kiến của đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Tuy Phong: Đại diện Viện kiểm sát vẫn giữ nguyên quyết định truy tố theo Cáo trạng số 149/CT-VKS-TP ngày 14/10/2021 của Viện kiểm sát nhân dân huyện Tuy Phong.

Đề nghị Hội đồng xét xử:

Áp dụng: Điểm a khoản 1 Điều 173; điểm s khoản 1 Điều 51; Điều 38 Bộ luật hình sự năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017) xử phạt bị cáo Phạm Thành S từ 12 đến 18 tháng tù về tội “Trộm cắp tài sản”.

Biện pháp tư pháp: Căn cứ điểm a khoản 1 Điều 46; điểm a khoản 1 Điều 47 Bộ luật hình sự; điểm a, c khoản 2 Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự.

Tịch thu sung công: 01 xe mô tô có gắn biển số 86F1-4228, không rõ số khung, số máy.

Tịch thu tiêu huỷ: 04 can nhựa loại 30 lít; 01 đoạn ống nhựa màu hồng dài 3,6m; 01 ống tuýp sắt Φ27 dài khoảng 95cm.

Lời nói sau cùng của bị cáo S: Bị cáo S đề nghị Hội đồng xét xử xem xét giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

Về hành vi, trình tự thủ tục tố tụng cũng như các quyết định của Cơ quan điều tra – Công an huyện Tuy Phong, Viện kiểm sát nhân dân huyện Tuy Phong: Trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục theo quy định của Bộ luật tố tụng hình sự. Quá trình điều tra cũng như tại phiên tòa, bị cáo và những người tham gia tố tụng khác không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, trình tự thủ tục tố tụng cũng như các quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó các hành vi, trình tự thủ tục tố tụng cũng như các quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều đúng quy định pháp luật.

Về chứng cứ buộc tội bị cáo: Tại phiên tòa sơ thẩm, bị cáo Phạm Thành S đã thừa nhận hành vi phạm tội của mình như nội dung cáo trạng của Viện kiểm sát nhân dân huyện Tuy Phong đã truy tố. Bị cáo khẳng định những lời khai của bị cáo trong quá trình điều tra là hoàn toàn tự nguyện, bị cáo không bị bức cung và Cáo trạng truy tố không oan cho bị cáo. Lời khai nhận của bị cáo tại phiên tòa phù hợp với lời khai của bị cáo tại Cơ quan điều tra, phù hợp với lời khai của bị hại và các chứng cứ khác có trong hồ sơ vụ án.

Như vậy, có đủ cơ sở kết luận: Đây là vụ án Trộm cắp tài sản, xảy ra vào khoảng 01 giờ ngày 08/9/2021 tại trước cửa hàng xăng dầu Liên H (cạnh Quốc lộ 1A) thuộc khu phố B, thị trấn L, huyện T do Phạm Thành S đã bị xử phạt vi phạm hành chính với mức phạt 1.500.000 đồng về hành vi “Trộm cắp tài sản” chưa được xóa tiền sự lại tiếp tục lén lút, bí mật trộm cắp 60 lít dầu DO có giá trị 958.200 đồng của Lê Tấn H thì bị phát hiện bắt giữ cùng tang vật.

Do đó, Cáo trạng số 149/CT-VKS-TP ngày 14/10/2021 của Viện kiểm sát nhân dân huyện Tuy Phong truy tố bị cáo Phạm Thành S về tội “Trộm cắp tài sản” theo quy định tại điểm a khoản 1 Điều 173 Bộ luật hình sự năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017) là có căn cứ và đúng quy định của pháp luật.

Về tính chất, mức độ hành vi phạm tội của bị cáo:

Bị cáo S là công dân có đủ năng lực chịu trách nhiệm hình sự. Bị cáo biết hành vi trộm cắp tài sản là vi phạm pháp luật nhưng vì bản tính tham lam, muốn có tiền tiêu xài cá nhân và mua ma tuý sử dụng, bị cáo đã lén lút trộm cắp tài sản của Lê Tấn H.

Hành vi phạm tội nêu trên của các bị cáo S đã xâm hại đến tài sản của người khác gây mất trật tự trị an tại địa phương nên cần xử lý thỏa đáng đúng tính chất mức độ và hậu quả việc phạm tội; bị cáo có nhân thân xấu đang trong thời gian chờ áp dụng biện pháp xử lý hành chính đưa vào Cở sở cai nghiện bắt buộc; bị cáo đã bị xử lý vi phạm hành chính về hành vi “Trộm cắp tài sản” nhưng chưa chấp hành lại tiếp tục thực hiện hành vi “Trộm cắp tài sản”

Với tính chất mức độ phạm tội của bị cáo trên cơ sở cân nhắc các tình tiết của vụ án xét thấy r ng cần cách ly bị cáo ra khỏi xã hội một thời gian nh m giáo dục bị cáo trở thành người tốt, công dân có ích cho xã hội, đồng thời qua đó nh m răn đe giáo dục và phòng ngừa chung.

Đối với Tạ Thái Đ đã cùng với Phạm Thành S đi trộm cắp tài sản nhưng giá trị tài sản bị trộm cắp dưới 2.000.000 đồng, Đ chưa bị xử phạt vi phạm hành chính hoặc bị kết án về hành vi chiếm đoạt tài sản nên không đủ yếu tố cấu thành tội phạm. Ngày 07/10/2021 Cơ quan Cảnh sát điều tra – Công an huyện Tuy Phong có Công văn số 223 và sao trích hồ sơ đề nghị Công an huyện Tuy Phong ra Quyết định xử phạt vi phạm hành chính là phù hợp.

Về tình tiết tăng nặng, gảm nhẹ trách nhiệm hình sự:

Bị cáo Phạm Thành S không phải chịu tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự theo quy định tại Điều 52 Bộ luật hình sự năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017).

Bị cáo Phạm Thành S đã thành khẩn khai báo nên được hưởng tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật hình sự năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017).

Về trách nhiệm bồi thường dân sự: Bị hại Lê Tấn Hoàng không có yêu cầu nên Hội đồng xét xử không xem xét.

Về xử lý vật chứng:

- 01 xe mô tô có gắn biển số 86F1-4228, không rõ số khung, số máy là phương tiện dùng vào việc phạm tội nhưng không xác định được chủ sở hữu nên Hội đồng xét xử tịch thu sung công.

- 04 can nhựa loại 30 lít; 01 đoạn ống nhựa màu hồng dài 3,6m; 01 ống tuýp sắt Φ27 dài khoảng 95cm đây là công cụ dùng vào việc phạm tội không còn giá trị sử dụng nên Hội đồng xét xử tịch thu tiêu huỷ.

Về án phí: Bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm và án phí dân sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ: Điểm a khoản 1 Điều 173; điểm s khoản 1 Điều 51; Điều 38 Bộ luật hình sự năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017)

Tuyên bố bị cáo Phạm Thành S phạm tội “Trộm cắp tài sản”

Xử phạt: Bị cáo Phạm Thành S 18 (Mười tám) tháng tù, thời gian từ tính từ ngày bị bắt thi hành án.

Biện pháp tư pháp: Căn cứ điểm a khoản 1 Điều 46; điểm a khoản 1 Điều 47 Bộ luật hình sự; điểm a, c khoản 2 Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự.

Tịch thu tiêu huỷ: 04 can nhựa loại 30 lít; 01 đoạn ống nhựa màu hồng dài 3,6m; 01 ống tuýp sắt Φ27 dài khoảng 95cm.

Tịch thu sung công: 01 xe mô tô có gắn biển số 86F1-4228, không rõ số khung, số máy.

Tang vật hiện đang được tạm giữ tại Chi cục thi hành án dân sự huyện Tuy Phong theo biên bản giao nhận vật chứng ngày 18/11/2021 giữa Công an huyện Tuy Phong với Chi cục Thi hành án dân sự huyện Tuy Phong.

Về án phí: căn cứ Điều 136 Bộ luật tố tụng hình sự; Nghị quyết số: 326/2016/UBTVQH14, ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ quốc hội quy định mức thu, miễn, giảm, thu nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án

Bị cáo phải nộp 200.000 đồng án phí hình sự sơ thẩm.

Về quyền kháng cáo: Án xử công khai có mặt bị cáo, báo cho bị cáo biết có quyền kháng cáo trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án. Bị hại vắng mặt có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc niêm yết công khai bản án.

TM.HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

Cỡ chữ