vanban.org

Bản án 149/2021/HSST — Hình sự

TAND huyện Trảng Bom, tỉnh Đồng Nai Tuyên án 29/10/2021 Hình sự Sơ thẩm
Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Tuyên bố bị cáo Nguyễn Quốc U phạm tội: “Lừa đảo chiếm đoạt tài sản”.

Xử phạt bị cáo Nguyễn Quốc U 01 (một) năm 06 (sáu) tháng tù. Thời hạn tù tính từ ngày 08/4/2021. Về trách nhiệm dân sự: Căn cứ Điều 48 Bộ luật hình sự năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017); Điều 357; Điều 468; khoản 1, Điều 584; Điều 589 của Bộ luật dân sự năm 2015. Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? án hình sự — "Nguyễn Quốc U phạm tội "Lừa đảo chiếm đoạt tài sản" - phạm tội lừa đảo chiếm đoạt tài sản (điều 174 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BL…"
  • Tòa quyết gì? Tuyên bố bị cáo Nguyễn Quốc U phạm tội: “Lừa đảo chiếm đoạt tài sản”.
  • Căn cứ chính? Điều 23 NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…; Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 174 Bộ luật Hình sự
TÒA ÁN NHÂN DÂN
HUYỆN TRẢNG BOM
TỈNH ĐỒNG NAI

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 149/2021/HSST
Ngày: 29-10-2021

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN TRẢNG BOM, TỈNH ĐỒNG NAI

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên toà: Ông Nguyễn Tấn Phát

Các Hội thẩm nhân dân: Bà Đào Thị Giang

Bà Đỗ Thị Hồng Nhung

- Thư ký phiên tòa: Bà Lê Thị Thảo – Thư ký Toà án nhân dân huyện Trảng Bom, tỉnh Đồng Nai.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Trảng Bom, tỉnh Đồng Nai tham gia phiên toà: Ông Cao Văn Bình - Kiểm sát viên.

Ngày 29 tháng 10 năm 2021, tại Hội trường Tòa án nhân dân huyện Trảng Bom, tỉnh Đồng Nai, xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số 148/2021/HSST ngày 24 tháng 6 năm 2021 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 131/2021/QĐXXST-HS ngày 05/7/2021; Thông báo dời lịch xét xử số 01/TB-TA ngày 21/7/2021; Thông báo mở lại phiên tòa xét xử sơ thẩm số 01/TB-TA ngày 20/10/2021, đối với bị cáo:

Nguyễn Quốc U (Tên gọi khác: Uy Thông) sinh ngày 04 tháng 8 năm 1999 tại tỉnh Đồng Nai. Nơi cư trú: ấp Đ, xã H, huyện Trảng Bom, tỉnh Đồng Nai. Nghề nghiệp: Không; Trình độ học vấn: 07/12; Dân tộc: Kinh; Giới tính: Nam; Tôn giáo: Công giáo; Quốc tịch: Việt Nam; Con ông Nguyễn Quốc Đ, sinh năm 1974 và bà Nguyễn Thị Ngọc Th, sinh năm 1981. Gia đình có 03 anh em; bị cáo là con thứ nhất, chưa có vợ, con. Tiền án: Ngày 05/7/2018 bị Tòa án nhân dân thành phố Biên Hòa xử phạt 02 (hai) năm 06 (sáu) tháng tù về tội “Trộm cắp tài sản”. Bị cáo đã chấp hành xong hình phạt vào ngày 05/5/2020, chưa đóng án phí và bồi thường dân sự. Nhân thân: Ngày 08/6/2017 bị cáo bị Tòa án nhân dân huyện Trảng Bom, tỉnh Đồng Nai xử phạt 07 (bảy) tháng tù về tội “Trộm cắp tài sản”; Ngày 12/8/2016 bị Công an huyện Trảng Bom, tỉnh Đồng Nai xử phạt số tiền 350.000 đồng (ba trăm năm mươi nghìn đồng) do có hành vi sử dụng trái phép chất ma túy; Ngày 27/9/2017 bị cáo bị Công an xã Hố Nai 3, huyện Trảng Bom xử phạt số tiền 750.000 đồng (bảy trăm năm mươi nghìn đồng) do có hành vi sử dụng trái phép chất ma túy. Bị cáo bị giam, giữ ngày 08/4/2021 tại Nhà tạm giữ Công an huyện Trảng Bom, tỉnh Đồng Nai (có mặt).

Bị hại: Anh Nguyễn Ngọc T1, sinh năm 1973. Địa chỉ: ấp Đông Hải, xã Hố Nai 3, huyện Trảng Bom, tỉnh Đồng Nai (có mặt)

Người làm chứng:

Anh Nguyễn Trung T2, sinh năm 1978 (vắng mặt).

Anh Nguyễn Tuấn A, sinh năm 1999 (vắng mặt).

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Nguyễn Quốc U là đối tượng nghiện ma túy và không có việc làm ổn định. Vào khoảng 18 giờ ngày 22/3/2021 khi Uy đang ở nhà chị Nguyễn Thị Ngọc Th (mẹ ruột của Uy) Thộc ấp Đông Hải, xã Hố Nai 3, huyện Trảng Bom thì thấy ông Nguyễn Trung T2 (bác ruột của Uy), ông Nguyễn Ngọc T1 và ông Nguyễn Văn Ngọc đến nhà chị Th ăn nhậu. Lúc này Uy quan sát thấy 01 xe mô tô hiệu Yamaha Sirius biển số 60B8-233.31 của ông Ngọc T1 đang dựng ngoài sân nên nảy sinh ý định chiếm đoạt. Uy đi lại hỏi mượn xe của ông Ngọc T1 nói dối là để đi mua card điện thoại thì ông Ngọc T1 đồng ý. Sau khi mượn xe, U điều khiển về nhà ông Nguyễn Quốc Đ (bố ruột của Uy) tại ấp Đông Hải, xã Hố Nai 3, sau đó tiếp tục điều khiển xe mô tô 60B8-233.31 đến khu vực giáo xứ Đông Vinh thuộc ấp Đông Hải, xã Hố Nai 3 để gặp và nhờ Nguyễn Tuấn A tìm người cầm xe thì Tuấn A đồng ý. Tuấn A điện thoại và hẹn gặp người đàn ông tên Điền (không rõ nhân thân, lai lịch) để cầm xe thì Điền hẹn đến đền Đức Mẹ phía sau giáo xứ Ngọc Đồng, Thộc phường Tân Hòa, thành phố Biên Hòa. Tại đây Điền đồng ý cầm xe mô tô 60B8-233.31 cho U với giá 2.700.000 đồng. Sau khi cầm xe U đến khu vực chợ Long Bình Thộc phường Long Bình, thành phố Biên Hòa gặp thanh niên tên Bo (không rõ nhân thân, lai lịch) để mua 400.000 đồng (bốn trăm nghìn đồng) ma túy để sử dụng, số tiền còn lại U tiêu xài cá nhân hết. Ngày 07/4/2021 ông Nguyễn Ngọc T1 đến Công an xã Hố Nai 3 trình báo sự việc, Công an xã Hố Nai 3, huyện Trảng Bom lập hồ sơ chuyển Cơ quan Cảnh sát Điều tra Công an huyện Trảng Bom giải quyết theo thẩm quyền.

Cơ quan Cảnh sát Điều tra Công an huyện Trảng Bom đã trưng cầu định giá tài sản đối với 01 xe mô tô Yamaha Sirius biển số 60B8-233.31 màu vàng đen. Theo kết luận định giá tài sản ngày 08 tháng 4 năm 2021 của Hội đồng định giá tài sản trong tố tụng hình sự thuộc Ủy ban nhân dân huyện Trảng Bom, 01 xe mô tô Yamaha Sirius biển số 60B8-233.31 màu vàng đen, đã qua sử dụng trị giá 8.000.000 đồng (tám triệu đồng).

Tại bản cáo trạng số 156/CT-VKS-TB ngày 24/6/2021, Viện kiểm sát nhân dân huyện Trảng Bom truy tố ra trước Tòa án nhân dân huyện Trảng Bom để xét xử đối với bị cáo Nguyễn Quốc U về tội: “Lừa đảo chiếm đoạt tài sản” theo quy định tại khoản 1 Điều 174 Bộ luật hình sự năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017).

Tại phiên tòa, đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Trảng Bom giữ nguyên quyết định truy tố và đề nghị:

- Tuyên bố bị cáo Nguyễn Quốc U phạm tội “Lừa đảo chiếm đoạt tài sản”. Áp dụng khoản 1 Điều 174, điểm s, khoản 1 Điều 51; điểm h khoản 1 Điều 52 Bộ luật hình sự năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017) xử phạt bị cáo Nguyễn Quốc U từ 01 (một) năm 06 (sáu) tháng đến 02 (hai) năm tù.

- Về trách nhiệm dân sự: Đề nghị Hội đồng xét xử giải quyết theo quy định pháp luật.

- Bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm và dân sự sơ thẩm theo quy định.

Tại phiên tòa bị cáo không có ý kiến bào chữa, tranh luận gì đối với lời luận tội của đại diện Viện Kiểm sát.

Trong lời nói sau cùng bị cáo đã nhận thức rõ về hành vi phạm tội của mình và xin Hội đồng xét xử giảm nhẹ hình phạt mức thấp nhất cho bị cáo.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

Về thủ tụng tố tụng: Trong suốt quá trình điều tra, truy tố và xét xử cũng như tại phiên tòa, các hành vi, quyết định tố tụng của những người tiến hành tố tụng phù hợp với quy định của pháp luật tố tụng hình sự, các văn bản tố tụng được tống Đ hợp lệ và đầy đủ, quyền được bào chữa và tự bào chữa của bị cáo được bảo đảm. Bị cáo và những người tham gia tố tụng khác không có khiếu nại gì về hành vi, quyết định tố tụng của cơ quan tiến hành tố tụng. Do đó, hành vi, quyết định của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đều phù hợp.

Tại phiên tòa, bị cáo Nguyễn Quốc U đã khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội của mình, cụ thể: Vào khoảng 18 giờ 00 phút ngày 22/3/2021 khi bị cáo về nhà mẹ ruột thì thấy chiếc xe mô tô hiệu Yamaha Sirius biển số 60B8-233.31 của ông Nguyễn Ngọc T1 đang dựng trước cửa nhà nên nảy sinh ý định chiếm đoạt. Bị cáo nói với ông T1 mượn xe mô tô trên để đi công việc, sau đó cầm cố lấy số tiền 2.700.000 đồng (hai triệu bảy trăm nghìn đồng) tiêu xài cá nhân. Giá trị tài sản bị cáo chiếm đoạt là tám triệu đồng (tám triệu đồng). Hành vi của bị cáo đã phạm vào tội “Lừa đảo chiếm đoạt chiếm đoạt tài sản”, tội danh và hình phạt quy định tại khoản 1 Điều 174 Bộ luật hình sự năm 2015 (sửa đổi bổ sung năm 2017). Cáo trạng của Viện kiểm sát nhân dân huyện Trảng Bom, tỉnh Đồng Nai truy tố đối với bị cáo là đúng người, đúng tội, đúng pháp luật.

Hành vi phạm tội của bị cáo đã xâm phạm trực tiếp đến tài sản của người khác được pháp luật bảo vệ, gây mất an ninh trật tự trị an tại địa phương. Vì vậy, cần có mức hình phạt đủ nghiêm để răn đe, giáo dục và phòng ngừa chung.

Xét nhân thân, các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự đối với bị cáo Hội đồng xét xử thấy rằng: Bị cáo từng bị Tòa án nhân dân thành phố Biên Hòa, tỉnh Đồng Nai xử phạt tù về tội “Trộm cắp tài sản”, chưa được xóa án tích nay lại tiếp tục phạm tội nên Hội đồng xét xử áp dụng tình tiết tăng nặng “Tái phạm” quy định tại điểm h, khoản 1, Điều 52 Bộ luật hình sự. Ngoài ra bị cáo 02 (hai) lần bị xử phạt hành chính do có hành vi “Sử dụng trái phép chất ma túy” và bị Tòa án nhân dân huyện Trảng Bom, tỉnh Đồng Nai xét xử về tội “Trộm cắp tài sản” nhưng không lấy đó làm bài học cho bản thân, Hội đồng xét xử xét thấy cần thiết phải cách ly bị cáo ra khỏi xã hội một thời gian. Tuy nhiên trong quá trình điều tra và tại phiên tòa bị cáo có thái độ thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải nên Hội đồng xét xử áp dụng tình tiết giảm nhẹ quy định tại điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật hình sự khi lượng hình phạt đối với bị cáo.

Về xử lý vật chứng:

Đối với xe mô tô hiệu Yamaha Sirius biển số 60B8-233.31 Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện Trảng Bom, tỉnh Đồng Nai đã thông báo truy tìm nhưng không thu hồi được.

Về trách nhiệm dân sự: Bị hại anh Nguyễn Ngọc T1 yêu cầu bị cáo bồi thường thiệt hại số tiền 8.000.000 đồng (tám triệu đồng). Xét thấy việc bị cáo chiếm đoạt xe mô tô hiệu Yamaha Sirius của anh Tuyến nhưng tài sản hiện chưa thu hồi được nên yêu cầu của anh T1 là có cơ sở. Hội đồng xét xử buộc bị cáo U có trách nhiệm bồi thường cho anh T1 số tiền 8.000.000 đồng (tám triệu đồng).

Về các vấn đề khác liên quan đến vụ án:

Đối với Nguyễn Tuấn A giúp cho Nguyễn Quốc U cầm cố xe mô tô Yamaha Sirius biển số 60B8-233.31 nhưng Tuấn A không biết tài sản do bị cáo U phạm tội mà có, Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện Trảng Bom, tỉnh Đồng Nai không xử lý đối với Nguyễn Tuấn A là phù hợp.

Bị cáo Nguyễn Quốc U có hành vi sử dụng trái phép chất ma túy, Công an huyện Trảng Bom, tỉnh Đồng Nai đã có Quyết định xử phạt vi phạm hành chính đối với hành vi này.

Về án phí: Bị cáo phải chịu 200.000 đồng (hai trăm nghìn đồng) án phí hình sự sơ thẩm và 400.000 đồng (bốn trăm nghìn đồng) án phí dân sự sơ thẩm theo quy định pháp luật.

Quan điểm của đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Trảng Bom về tội danh, hình phạt và án phí phù hợp với nhận định của Hội đồng xét xử nên được chấp nhận.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

1. Căn cứ khoản 1 Điều 174; điểm s, khoản 1 Điều 51; điểm h khoản 1 Điều 52 Bộ luật hình sự năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017).

Tuyên bố bị cáo Nguyễn Quốc U phạm tội: “Lừa đảo chiếm đoạt tài sản”.

Xử phạt bị cáo Nguyễn Quốc U 01 (một) năm 06 (sáu) tháng tù. Thời hạn tù tính từ ngày 08/4/2021.

2. Về trách nhiệm dân sự: Căn cứ Điều 48 Bộ luật hình sự năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017); Điều 357; Điều 468; khoản 1, Điều 584; Điều 589 của Bộ luật dân sự năm 2015.

Buộc bị cáo Nguyễn Quốc U có trách nhiệm bồi thường thiệt hại về tài sản cho anh Nguyễn Ngọc T1 số tiền 8.000.000 đồng (tám triệu đồng).

Kể từ ngày anh Nguyễn Ngọc T1 có đơn yêu cầu thi hành án, nếu bị cáo Nguyễn Quốc U chậm thi hành án đối với khoản tiền nêu trên thì phải trả lãi đối với số tiền chậm trả theo mức lãi suất quy định tại khoản 2 Điều 468 Bộ luật dân sự năm 2015.

3. Về án phí: Căn cứ khoản 2 Điều 136 Bộ luật tố tụng hình sự; điểm a,c khoản 1 Điều 23, Điều 26 Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội về mức Th, miễn, giảm, Th, nộp, quản lý, sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.

Buộc bị cáo Nguyễn Quốc U phải chịu 200.000 đồng (hai trăm nghìn đồng) án phí hình sự sơ thẩm và 400.000 đồng (bốn trăm nghìn đồng) án phí dân sự sơ thẩm.

4. Bị cáo, bị hại có quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án.

5. Trường hợp bản án được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa Thận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7, 7a và 9 Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật thi hành án dân sự.

Cỡ chữ