vanban.org

Bản án 149/2021/HS-ST — Hình sự

TAND huyện Vĩnh Cửu, tỉnh Đồng Nai Tuyên án 22/12/2021 Hình sự Sơ thẩm
Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Tuyên bố bị cáo Điểu Thiên Linh P phạm tội “Cướp tài sản”.

Xử phạt bị cáo Điểu Thiên Linh P 09 (chín) năm tù, thời hạn tù tính từ ngày 23/5/2021. Về trách nhiệm bồi thường thiệt hại: Buộc bị cáo phải có trách nhiệm bồi thường cho bị hại Đỗ Khánh D số tiền 28.530.000đ (Hai mươi tám triệu năm trăm ba mươi ngàn đồng). Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? án hình sự — "Cướp tài sản - phạm tội cướp tài sản (điều 168 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS năm 2015)"
  • Tòa quyết gì? Tuyên bố bị cáo Điểu Thiên Linh P phạm tội “Cướp tài sản”.
  • Căn cứ chính? Điều 51 Bộ luật Hình sự; Điều 168 Bộ luật Hình sự; Điều 38 Bộ luật Hình sự
TÒA ÁN NHÂN DÂN
HUYỆN VĨNH CỬU
TỈNH ĐỒNG NAI

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 149/2021/HS-ST
Ngày 22/12/2021.

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN VĨNH CỬU, TỈNH ĐỒNG NAI

Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Đường Anh Sơn.

Các Hội thẩm nhân dân: Bà Hoàng Thị Hồng Quyên;

Ông Nguyễn Ngọc Anh.

Thư ký phiên tòa: Ông Lê Đình Vạn - Thư ký Tòa án nhân dân huyện Vĩnh Cửu, tỉnh Đồng Nai.

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Vĩnh Cửu, tỉnh Đồng Nai tham gia phiên tòa: Ông Phan Mạnh Hùng - Kiểm sát viên.

Ngày 22 tháng 12 năm 2021, tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Vĩnh Cửu, tỉnh Đồng Nai xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số: 153/2021/TLST-HS ngày 23 tháng 11 năm 2021 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 149/2021/QĐXXST-HS ngày 06 tháng 12 năm 2021 đối với bị cáo:

Họ và tên: Điểu Thiên Linh P, sinh ngày 25/01/1986; tên gọi khác: Không; nơi sinh tỉnh Đồng Nai; nơi cư trú: Ấp 1, xã T, huyện V, tỉnh Đồng Nai; nghề nghiệp: Không; trình độ học vấn: 3/12; dân tộc: Chơ Ro; giới tính: Nam; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Điểu Văn L, sinh năm 1955 và bà Trần Thị K, sinh năm 1957; gia đình có 04 anh chị em, bị cáo là con thứ ba và chưa có vợ, con; tiền án: Bản án số 06A/2015/HS-ST ngày 22/01/2015 của Tòa án nhân dân tỉnh Đồng Nai xử phạt 12 năm tù về tội: “Giết người”, thời hạn tù tính từ ngày 03/5/2013, bị cáo chấp hành xong hình phạt tù ngày 30/01/2021 (được giảm 4 lần = 02 năm 10 tháng; giảm hết thời hạn chấp hành án phạt tù còn lại); tiền sự: Không; nhân thân: Bản án số 52/2009/HS-ST ngày 19/5/2009 của Tòa án nhân dân huyện Vĩnh Cửu, tỉnh Đồng Nai xử phạt 05 tháng tù về tội: “Trộm cắp tài sản”, thời hạn tù tính từ ngày 08/3/2009, Pđã chấp hành xong hình phạt tù, nhưng án phí chưa chấp hành do Chi cục thi hành án chưa nhận được bản án; bị cáo bị bắt khẩn cấp ngày 23/5/2021 và chuyển tạm giam theo Lệnh tạm giam số 2011 ngày 24/5/2021; hiện bị cáo đang bị tạm giam tại Nhà tạm giữ Công an huyện Vĩnh Cửu, tỉnh Đồng Nai; bị cáo có mặt.

- Bị hại: Bà Đỗ Khánh D, sinh năm 1999; nơi cư trú: 64/25, khu phố 10, phường A, thành phố B, tỉnh Đồng Nai; chỗ ở hiện nay: Tổ 13, ấp 1, xã T, huyện V, tỉnh Đồng Nai. (có mặt)

- Người làm chứng:

+ Bà Nguyễn Thị Ngọc L, sinh năm 1969; nơi cư trú: 64/25, khu phố 10, phường A, thành phố B, tỉnh Đồng Nai. (có mặt)

+ Bà Trịnh Thị Ngọc H, sinh năm 1999; nơi cư trú: Ấp 1, xã T, huyện V, tỉnh Đồng Nai. (vắng mặt)

+ Bà Lộc Thị B, sinh năm 1981; nơi cư trú: Ấp 1, xã T, huyện V, tỉnh Đồng Nai. (vắng mặt)

+ Bà Thạch Thị H, sinh năm 1988; nơi cư trú: Tổ 10, khu phố 1, phường T, thành phố B, tỉnh Đồng Nai. (vắng mặt)

NỘI DNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội Dng vụ án được tóm tắt như sau:

Vào khoảng 09 giờ ngày 29/4/2021, Điểu Thiên Linh P đi bộ đến uống cà phê tại quán (không tên) thuộc ấp 1, xã T, huyện V, tỉnh Đồng Nai. P nhìn sang tiệm mỹ phẩm - phụ liệu tóc kế bên quán cà phê thấy bà Đỗ Khánh D, sinh năm 1999, nơi cư trú khu phố 10, phường A, thành phố B, tỉnh Đồng Nai đang đứng tại quầy bán hàng một mình, P nảy sinh ý định tiếp cận và cướp tài sản của bà D lấy tiền tiêu xài. Khoảng 10 giờ 15 phút cùng ngày, P đi bộ sang tiệm tạp hóa giả vờ mua hàng, P đề nghị bà D bán cho P các mặt hàng bia, xà bông, dao cạo râu, mặt nạ đắp mặt mục đích để tìm cơ hội cướp tài sản. Bà D lấy hàng để trên quầy, tính tiền và báo cho P tổng số tiền phải trả 400.000 đồng. Lợi dụng lúc bà D đang bấm máy tính tiền, P liền bước tới gần dùng tay trái bóp cổ, tay phải ôm lưng đẩy bà D vào phòng vệ sinh phía sau kệ hàng trong tiệm, làm bà D bị ngã. Bà D chống cự dùng tay cào cấu P vào cổ và cằm. P tiếp tục bóp mạnh hơn vào cổ bà D, đồng thời dùng vòi nước trong nhà vệ sinh xịt vào miệng bà D, làm cho bà D bất tỉnh. P đi ra quầy bán hàng lấy số tiền 2.330.000 đồng để trong hộp giấy nằm trên máy lọc nước cạnh quầy tính tiền và bỏ trốn. Đến ngày 23/5/2021, Điểu Thiên Linh P bị Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện Vĩnh Cửu giữ người trong trường hợp khẩn cấp. Tại cơ quan điều tra P đã khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội như trên.

Số tiền chiếm đoạt của bà D, P đã tiêu xài gần hết, chỉ còn lại 150.000 đồng.

Tại Biên bản xem xét dấu vết trên thân thể bị hại Đỗ Khánh D do Công an xã T, huyện V lập ngày 01/5/2021, ghi nhận thương tích như sau: vùng cổ bị tổn thương vòng quanh cổ đứt đoạn; xuất huyết niêm mạc mắt phải, trái.

Tại Bản kết luận giám định pháp y về thương tích số: 0478/TgT/2021 ngày 02/6/2021 của Giám định viên Trung tâm pháp y tỉnh Đồng Nai kết luận: Không định tỷ lệ cho chấn thương mặt và cổ hiện tại không để lại dấu vết, không ảnh hưởng chức năng và không để lại di chứng của nạn nhân Đỗ Khánh D. Vật gây thương tích: Vật tày.

Quá trình điều tra, Điểu Thiên Linh P khai nhận mục đích bóp cổ, xịt nước vào miệng bà Đỗ Khánh D là để bà D không kháng cự được, không kêu cứu để chiếm đoạt tài sản và khi thấy bà D bất tỉnh nhưng còn thở thì P lục tìm và lấy tài sản, không nhằm mục đích giết chết bà D. Lời khai của P phù hợp với các tài liệu có tại hồ sơ vụ án, hậu quả bị hại chỉ bị thương tích nhẹ, nên hành vi của Điểu Thiên Linh P chỉ phạm vào tội cướp tài sản như đã khởi tố, truy tố.

Nguồn gốc vật chứng và xử lý vật chứng thu giữ: Số tiền 150.000 đồng thu giữ của Điểu Thiên Linh P, Cơ quan điều tra đã giao trả số tiền 150.000 đồng cho bà Đỗ Khánh D.

Về trách nhiệm bồi thường thiệt hại: Bà Đỗ Khánh D yêu cầu bồi thường số tiền bị cướp, chi phí điều trị thương tích, tiền công lao động trong thời gian điều trị, tổn thất tinh thần với tổng số tiền 100.000.000 đồng. Đại diện gia đình Điểu Thiên Linh P đã bồi thường được 10.000.000 đồng. Số tiền còn lại bà D yêu cầu P tiếp tục bồi thường.

Bản Cáo trạng số: 149/CT-VKSVC ngày 23/11/2021 của Viện kiểm sát nhân dân huyện Vĩnh Cửu truy tố bị cáo Điểu Thiên Linh P về tội: “Cướp tài sản” theo quy định tại điểm h khoản 2 Điều 168 của Bộ luật hình sự.

Tại phiên tòa, đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Vĩnh Cửu trình bày luận tội, giữ nguyên quyết định truy tố và đề nghị áp dụng điểm h khoản 2 Điều 168; điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 38 và Điều 48 của Bộ luật hình sự, xử phạt bị cáo Điểu Thiên Linh P từ 08 năm đến 10 năm tù; về trách nhiệm bồi thiệt hại: Buộc bị cáo phải có trách nhiệm bồi thường thiệt hại cho bị hại theo yêu cầu; về án phí: Bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm và án phí dân sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật.

Ý kiến của bị cáo: Bị cáo không phát biểu tranh luận và không trình bày lời bào chữa.

Ý kiến của bị hại: Không phát biểu tranh luận và đề nghị Hội đồng xét xử buộc bị cáo bồi thường thiệt hại; về hình phạt đề nghị xét xử bị cáo theo quy định của pháp luật.

Bị cáo nói lời nói sau cùng: Không.

NHẬN ĐỊNH CỦA HỘI ĐỒNG XÉT XỬ:

Trên cơ sở nội Dng vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra Công an huyện Vĩnh Cửu, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân huyện Vĩnh Cửu, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa bị cáo không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.

Tại phiên tòa, bị cáo Điểu Thiên Linh P đã khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội của mình, phù hợp với lời khai của bị hại, người tham gia tố tụng khác và các tài liệu, chứng cứ thu thập được trong quá trình điều tra vụ án, đã có đủ cơ sở xác định: Khoảng 10 giờ 30 phút ngày 29/4/2021, tại tiệm mỹ phẩm - phụ liệu tóc thuộc ấp 1, xã T, huyện V, tỉnh Đồng Nai, Điểu Thiên Linh P đã thực hiện hành vi dùng tay bóp cổ, xịt vòi nước vào miệng bà Đỗ Khánh D làm cho bà D bất tỉnh và cướp số tiền 2.330.000đ (Hai triệu ba trăm ba mươi ngàn đồng) của bà Đỗ Khánh D. Điểu Thiên Linh P phạm tội thuộc trường hợp “tái phạm nguy hiểm” do vào năm 2015, P đã bị Tòa án nhân dân tỉnh Đồng Nai kết án 12 năm tù về tội phạm rất nghiêm trọng (tội Giết người) do cố ý, chưa được xóa án tích mà lại thực hiện hành vi phạm tội về tội phạm rất nghiêm trọng do cố ý.

Tại Bản kết luận giám định pháp y về thương tích số: 0478/TgT/2021 ngày 02/6/2021 của Giám định viên Trung tâm pháp y tỉnh Đồng Nai kết luận: Không định tỷ lệ cho chấn thương mặt và cổ hiện tại không để lại dấu vết, không ảnh hưởng chức năng và không để lại di chứng của nạn nhân Đỗ Khánh D.

Bị cáo, bị hại đồng ý với kết luận giám định pháp y về thương tích và không có ý kiến gì thêm.

Đối chiếu lời khai của bị cáo tại phiên tòa với lời khai của bị hại, người làm chứng và các chứng cứ, tài liệu mà Cơ quan điều tra đã thu thập, nhận thấy có đủ căn cứ kết luận hành vi của bị cáo Điểu Thiên Linh P đã phạm vào tội: “Cướp tài sản” thuộc tình tiết định khung “tái phạm nguy hiểm”, tội danh và hình phạt được quy định tại điểm h khoản 2 Điều 168 của Bộ luật hình sự.

Hành vi của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, xâm phạm trực tiếp đến quyền sở hữu hợp pháp về tài sản của công dân được pháp luật bảo vệ, quyền bất khả xâm phạm về sức khỏe của con người, đồng thời làm mất trật tự xã hội tại địa phương. Bị cáo đã dùng vũ lực tấn công bằng cách dùng tay trái bóp cổ, dùng vòi xịt nước vào miệng bị hại Đỗ Khánh D khi thực hiện hành vi phạm tội, mục đích là để bà D không kháng cự được, không kêu cứu để chiếm đoạt tài sản và khi thấy bà D bất tỉnh nhưng còn thở thì P lục tìm và lấy tài sản, không nhằm mục đích giết chết bà D. Lời khai của bị cáo phù hợp với các tài liệu có tại hồ sơ vụ án, hậu quả bị hại chỉ bị thương tích nhẹ, nên hành vi của Điểu Thiên Linh P chỉ phạm vào tội “Cướp tài sản” như cơ quan Viện kiểm sát đã truy tố và bị xét xử tại phiên tòa hôm nay. Do vậy cần phải xử phạt bị cáo một mức án tương xứng để bị cáo lấy đó làm bài học cho mình mà tuân theo pháp luật và các quy tắc của cuộc sống, sửa chữa sai lầm, trở thành công dân có ích cho xã hội, đồng thời cũng để giáo dục, răn đe và phòng ngừa chung tội phạm.

Về tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự: Không có.

Về tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: Quá trình điều tra và tại phiên tòa hôm nay bị cáo thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải; gia đình bị cáo đã bồi thường một số tiền cho bị hại là 10.000.000 đồng; đây là các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51 của Bộ luật hình sự; Hội đồng xét xử xem xét các tình tiết giảm nhẹ nêu trên để quyết định hình phạt cho bị cáo mà vẫn đạt được yêu cầu của việc phòng và chống tội phạm.

Về hình phạt bổ sung: Theo qui định tại khoản 6 Điều 168 của Bộ luật hình sự: “Người phạm tội còn có thể bị phạt tiền từ 10.000.000 đồng đến 100.000.000 đồng, phạt quản chế, cấm cư trú từ 01 năm đến 05 năm hoặc tịch thu một phần hoặc toàn bộ tài sản”. Hội đồng xét xử xét thấy bị cáo không có nghề nghiệp và không có tài sản riêng, nên Hội đồng xét xử không áp dụng hình phạt bổ sung đối với bị cáo.

Về trách nhiệm bồi thường thiệt hại: Ngày 13/12/2021, bà Đỗ Khánh D có bản tự khai yêu cầu bị cáo bồi thường thiệt hại tổng số tiền là 38.680.000 đồng gồm các khoản sau:

- Số tiền bị chiếm đoạt 2.330.000 đồng; chi phí điều trị khám chữa bệnh, tiền thuốc do bị thương tích + chi phí đi lại 5.000.000 đồng (không có hóa đơn, chứng từ); tiền công lao động nghỉ làm trong thời gian điều trị 30 ngày x 300.000đ/ngày = 9.000.000 đồng; tiền bù đắp tổn thất về tinh thần do ảnh hưởng sức khỏe mà bà phải gánh chịu 22.350.000 đồng.

Xét yêu cầu bồi thường thiệt hại của bị hại là hoàn toàn chính đáng; tại phiên tòa hôm nay, bà D giữ nguyên yêu cầu bồi thường về dân sự và cho biết bà phải nhập viện điều trị từ ngày 29/4/2021 đến ngày 01/5/2021, do bị Ptấn công gây tổn thương cơ thể, tinh thần hoảng loạn nên phải nghỉ làm 01 tháng để phục hồi sức khỏe; sau khi đối chiếu qui định của pháp luật, Hội đồng xét xử nhận thấy có căn cứ chấp nhận các khoản chi phí hợp lý nêu trên của bị hại, gồm:

- Số tiền bị chiếm đoạt 2.330.000 đồng;

- Chi phí hợp lý cho việc cứu chữa, tiền xe đi lại của người bị thiệt hại 5.000.000 đồng;

- Thu nhập thực tế bị mất hoặc bị giảm sút của người bị thiệt hại 30 ngày x 300.000đ/ngày = 9.000.000 đồng;

- Tiền bù đắp tổn thất về tinh thần mà người đó gánh chịu 22.350.000 đồng.

Tổng cộng là 38.350.000 đồng; trừ đi số tiền 150.000 đồng, bà D đã nhận lại và số tiền 10.000.000 đồng gia đình bị cáo đã bồi thường; số tiền còn lại bị cáo phải bồi thường cho bị hại là 28.530.000 đồng.

Bị cáo Điểu Thiên Linh P đồng ý bồi thường theo yêu cầu của của bị hại. Hội đồng xét xử buộc bị cáo phải có trách nhiệm bồi thường thiệt hại cho bị hại số tiền là 28.530.000đ (Hai mươi tám triệu năm trăm ba mươi ngàn đồng).

Ngoài ra, Điểu Thiên Linh P còn khai nhận khi bà Đỗ Khánh D bất tỉnh, P thực hiện hành vi giao cấu trái với ý muốn với bà D. Tuy nhiên ngoài lời khai của P không có tài liệu, chứng cứ nào khác để chứng minh. Tại Bản kết luận giám định pháp y về tình dục số: 0448/TD/2021 ngày 26/5/2021 của Giám định viên Trung tâm pháp y tỉnh Đồng Nai kết luận Đỗ Khánh D không có dấu vết tổn thương bộ phận sinh dục. Bà Đỗ Khánh D đồng ý với kết luận giám định pháp y về tình dục. Quá trình điều tra, bà D khai do bị bất tỉnh nên không biết sự việc như lời khai của P, đồng thời bà D có đơn không yêu cầu xử lý vụ việc, nên Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện Vĩnh Cửu không xử lý về hành vi này là phù hợp quy định của pháp luật.

Xét quan điểm của đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Vĩnh Cửu tại phiên tòa phù hợp với nhận định của Hội đồng xét xử, nên được chấp nhận.

Về án phí: Bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm và án phí dân sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật.

Vì các lẽ trên;

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ vào điểm h khoản 2 Điều 168; điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 38 và Điều 48 của Bộ luật hình sự. Điều 45, Điều 135, Điều 136, Điều 327, Điều 331 và Điều 333 của Bộ luật tố tụng hình sự. Điều 584, Điều 586, Điều 589 và Điều 590 của Bộ luật dân sự. Nghị quyết số: 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.

1. Tuyên bố bị cáo Điểu Thiên Linh P phạm tội “Cướp tài sản”.

Xử phạt bị cáo Điểu Thiên Linh P 09 (chín) năm tù, thời hạn tù tính từ ngày 23/5/2021.

2. Về trách nhiệm bồi thường thiệt hại: Buộc bị cáo phải có trách nhiệm bồi thường cho bị hại Đỗ Khánh D số tiền 28.530.000đ (Hai mươi tám triệu năm trăm ba mươi ngàn đồng).

Kể từ ngày bản án, quyết định có hiệu lực pháp luật (đối với các trường hợp cơ quan thi hành án có quyền chủ động ra quyết định thi hành án) hoặc kể từ ngày có đơn yêu cầu thi hành án của người được thi hành án (đối với các khoản tiền phải trả cho người được thi hành án) cho đến khi thi hành án xong, bên phải thi hành án còn phải chịu khoản tiền lãi của số tiền còn phải thi hành án theo mức lãi suất quy định tại Điều 357, Điều 468 của Bộ luật dân sự năm 2015, trừ trường hợp pháp luật có quy định khác.

Trường hợp bản án được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại Điều 6,7 và 9 Luật thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án theo quy định tại Điều 30 Luật thi hành án dân sự.

3. Về án phí: Bị cáo phải chịu 200.000đ (Hai trăm ngàn đồng) án phí hình sự sơ thẩm và 1.426.500đ (Một triệu bốn trăm hai mươi sáu ngàn năm trăm đồng) án phí dân sự sơ thẩm.

4. Về quyền kháng cáo: Bị cáo, bị hại có mặt được quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án.

Cỡ chữ