- Tranh chấp gì? Tranh chấp về hụi, họ, biêu, phường — án dân sự — "Tô Ngọc H-Lê Thị Trúc L"
- Tòa quyết gì? Chấp nhận một phần yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn; buộc bà Lê Thị Trúc L có nghĩa vụ trả cho bà Tô Ngọc H số tiền 80.
- Căn cứ chính? Điều 26 NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…; Điều 12 NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…; Điều 147 Bộ luật Tố tụng dân sự
| TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN KẾ SÁCH TỈNH SÓC TRĂNG | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Bản án số: 149/2021/DS-ST Ngày 28 tháng 9 năm 2021 V/v tranh chấp hợp đồng góp hụi |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN KẾ SÁCH, TỈNH SÓC TRĂNG
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán-Chủ tọa phiên tòa: Ông Nguyễn Văn Diệu
Các Hội thẩm nhân dân:
Bà Nguyễn Thị Tú Trinh
Bà Võ Duy Loan
- Thư ký phiên tòa: Bà Phạm Thị Hạnh, Thư ký Tòa án nhân dân huyện Kế Sách, tỉnh Sóc Trăng
- Đại diện Viện Kiểm sát nhân dân huyện Kế Sách tham gia phiên tòa: Bà Đặng Xuân Mai-Kiểm sát viên
Trong các ngày 25/8/2021 và 28/9/2021, tại Trụ sở Tòa án nhân dân huyện Kế Sách, tỉnh Sóc Trăng xét xử sơ thẩm công khai vụ án dân sự về việc “Tranh chấp hợp đồng góp hụi” thụ lý số 08/2021/TLST-DS, ngày 18 tháng 01 năm 2021, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 185/2021/QĐXXST-DS, ngày 14 tháng 6 năm 2021, các Thông báo dời thời gian mở phiên tòa do ảnh hưởng của dịch bệnh Covid-19, Quyết định hoãn phiên tòa số 186/2021/QĐST-DS, ngày 14 tháng 7 năm 2021, Quyết định ngừng phiên tòa số 11/2021/QĐST-DS, ngày 25 tháng 8 năm 2021, giữa các đương sự:
- Nguyên đơn: Bà Tô Ngọc H, sinh năm 1961; địa chỉ: XX, ấp X, xã A, huyện K, tỉnh Sóc Trăng
Người đại diện hợp pháp của nguyên đơn: Bà Trịnh Lệ T; địa chỉ: YY, đường N, ấp A, thị trấn K, huyện K, tỉnh Sóc Trăng (văn bản ủy quyền ngày 18/8/2020)
- Bị đơn: Bà Lê Thị Trúc L, sinh năm 1980; địa chỉ: X/Y, ấp X, xã A, huyện K, tỉnh Sóc Trăng
Người đại diện hợp pháp của bị đơn: Ông Huỳnh Văn T; địa chỉ: ấp X, xã A, huyện K, tỉnh Sóc Trăng (văn bản ủy quyền ngày 24/11/2020).
NỘI DUNG VỤ ÁN :
Trong đơn khởi kiện ngày 18/8/2020 và các lời khai trong quá trình giải quyết vụ án, cũng như tại phiên tòa sơ thẩm, nguyên đơn bà Tô Ngọc H và người đại diện hợp pháp của nguyên đơn trình bày:
Bà H là chủ hụi tổ chức các dây hụi có sự tham gia của bà Lê Thị Trúc L là hụi viên, cụ thể như sau:
Dây 1: Hụi tháng 500.000 đồng, mở ngày 10/3/2018 âm lịch, có 22 phần, bà L tham gia 02 phần và đã hốt hết, bà H không nhớ bà L hốt hụi lần thứ mấy, được bao nhiêu tiền, chỉ nhớ bà L đóng hụi chết đến tháng 5/2019 thì ngưng, bà H phải đóng thay 07 lần (từ lần thứ 16 đến lần thứ 22) số tiền là 7.000.000 đồng. Dây hụi này bà H yêu cầu bà L trả 7.000.000 đồng.
Dây 2: Hụi tháng 500.000 đồng, mở ngày 10/3/2018 âm lịch, có 23 phần, bà L tham gia 05 phần và đã hốt hết, bà H không nhớ bà L hốt hụi lần thứ mấy và được bao nhiêu tiền, chỉ nhớ bà L đóng hụi chết đến tháng 5/2019 thì ngưng, bà H phải đóng thay 08 lần (từ lần thứ 16 đến lần thứ 23) số tiền là 20.000.000 đồng. Dây hụi này bà H yêu cầu bà L trả 20.000.000 đồng.
Dây 3: Hụi tháng 1.000.000 đồng, mở ngày 05/6/2018 âm lịch, có 23 phần, bà L tham gia 02 phần và đã hốt hết, bà H không nhớ bà L hốt hụi lần thứ mấy và được bao nhiêu tiền, chỉ nhớ bà L đóng hụi chết đến tháng 5/2019 thì ngưng, bà H phải đóng thay 11 lần số tiền là 22.000.000 đồng. Dây hụi này bà H yêu cầu bà L trả 22.000.000 đồng.
Dây 4: Hụi tháng 1.000.000 đồng, mở ngày 30/8/2018 âm lịch, có 24 phần, bà L tham gia 02 phần và đã hốt hết (ở lần khui thứ 3 và 9), hốt được bao nhiêu tiền bà H không nhớ, chỉ nhớ bà L đóng hụi chết đến tháng 5/2019 thì ngưng, bà H phải đóng hụi chết thay 12 lần của 02 phần số tiền là 24.000.000 đồng. Dây hụi này bà H yêu cầu bà L trả 24.000.000 đồng.
Dây 5: Hụi tháng 500.000 đồng, mở ngày 30/8/2018 âm lịch, có 25 phần, bà L tham gia 02 phần và đã hốt hết, bà H không nhớ bà L hốt lần thứ mấy và được bao nhiêu tiền, chỉ nhớ bà L đóng hụi chết đến tháng 5/2019 thì ngưng, bà H phải đóng thay 12 lần số tiền là 12.000.000 đồng. Dây hụi này bà H yêu cầu bà L trả 12.000.000 đồng.
Dây 6: Hụi tháng 500.000 đồng, mở ngày 30/9/2018 âm lịch, có 27 phần, bà L tham gia 03 phần và đã hốt hết, bà H không nhớ bà L hốt lần thứ mấy và được bao nhiêu tiền, chỉ nhớ bà L đóng hụi chết đến tháng 5/2019 thì ngưng. Bà H đã đóng thay 12 lần số tiền là 18.000.000 đồng và yêu cầu bà L trả 18.000.000 đồng. Dây hụi này còn 06 lần chưa đến ngày khui tại thời điểm bà H khởi kiện.
Dây 7: Hụi tháng 500.000 đồng, mở ngày 15/12/2018 âm lịch, có 24 phần, bà L tham gia 02 phần và đã hốt hết, bà H không nhớ bà L hốt lần thứ mấy và được bao nhiêu tiền, chỉ nhớ bà L đóng hụi chết đến tháng 5/2019 thì ngưng, bà H phải đóng thay 13 lần số tiền là 13.000.000 đồng. Dây hụi này bà H yêu cầu bà L trả 13.000.000 đồng.
Dây 8: Hụi tháng 500.000 đồng, mở ngày 15/01/2019 âm lịch, có 29 phần, bà L tham gia 03 phần, đã hốt 02 phần, còn lại 01 phần. Đối với 02 phần bà L đã hốt bà H không nhớ bà L hốt lần thứ mấy và được bao nhiêu tiền, chỉ nhớ bà L đóng hụi chết đến tháng 5/2019 thì ngưng, bà H phải đóng thay 13 lần số tiền là 13.000.000 đồng; đối với phần hụi còn lại bà L đóng được 05 lần nhưng bà H không nhớ số tiền đóng vào là bao nhiêu, nhưng nếu tính theo lãi hụi sẽ là 2.500.000 đồng. Dây hụi này bà H yêu cầu bà L trả 10.500.000 đồng sau khi đã khấu trừ với phần hụi bà L chưa hốt (13.000.000đ – 2.500.000đ).
Dây 9: Hụi tháng 1.000.000 đồng, mở ngày 25/4/2019 âm lịch, có 26 phần, bà L tham gia 03 phần, đã hốt 01 phần, còn lại 02 phần. Đối với phần bà L đã hốt bà H cho biết bà L hốt ở lần khui thứ hai nhưng không nhớ hốt được bao nhiêu tiền, chỉ nhớ bà L đóng hụi chết đến tháng 5/2019 thì ngưng, bà H phải đóng thay 13 lần số tiền là 13.000.000 đồng; đối với 02 phần hụi còn lại bà L đóng được 02 lần nhưng bà H không nhớ số tiền đóng vào là bao nhiêu, nhưng nếu tính theo lãi hụi sẽ là 4.000.000 đồng (02 phần). Dây hụi này bà H yêu cầu bà L trả 9.000.000 đồng sau khi đã khấu trừ với 02 phần hụi bà L chưa hốt (13.000.000đ – 4.000.000đ).
Tổng cộng 09 dây hụi, bà H yêu cầu bà L trả số tiền 135.000.000 đồng.
Bị đơn bà Lê Thị Trúc L và người đại diện hợp pháp của bị đơn trình bày, theo lần lượt từng dây hụi nguyên đơn đã trình bày, bị đơn có lời khai như sau:
Dây 1: Dây hụi này mãn vào ngày 10/12/2019 âm lịch, bà L tham gia 02 phần và đã hốt hết là đúng, nhưng sau khi hốt hụi bà L đã đóng hụi đầy đủ cho đến ngày mãn hụi, đóng bằng tiền mặt cho bà H, tới ngày gom hụi thì đóng chứ không có làm giấy tờ gì, nên dây hụi này bà L không còn nợ bà H.
Dây 2: Bà L chỉ tham gia 02 phần và hốt hết 02 phần, chứ không phải 05 phần như bà H khởi kiện, sau khi hốt hụi thì bà L đã đóng hụi chết đến ngày mãn hụi là ngày 10/01/2020 âm lịch, đóng bằng tiền mặt cho bà H đúng vào các ngày gom hụi nhưng không có làm giấy tờ gì, giống như dây hụi trên, dây hụi này bà L không còn nợ bà H.
Dây 3: Bà L tham gia 02 phần và đã hốt hết, bà L hốt hụi vào lần khui thứ 17 và 19, sau khi hốt hụi đã đóng hụi chết đầy đủ hàng tháng bằng tiền mặt nhưng không có làm giấy tờ, đến ngày 15/01/2020 âm lịch thì bà H ngưng khui hụi, còn 03 lần khui nữa mới tới ngày mãn, do bà H không khui hụi nữa nên bà L không đóng hụi. Bà L thừa nhận dây hụi này còn nợ bà H 6.000.000 đồng.
Dây 4: Bà L chỉ có tham gia dây hụi mở ngày 30/8/2017 âm lịch chứ không phải ngày 30/8/2018 âm lịch như bà H khởi kiện, dây hụi này bà L tham gia 02 phần và đã hốt hết, bà L hốt hụi vào lần khui thứ 21 và 23, sau khi hốt hụi đóng hụi chết đầy đủ hàng tháng bằng tiền mặt nhưng không có làm giấy tờ, dây hụi này bà L không còn nợ bà H.
Dây 5: Bà L thừa nhận có tham gia 02 phần nhưng bà L chưa hốt hụi phần nào, bà L đã đóng hụi sống được 17 lần, đến ngày 15/01/2020 âm lịch thì bà H ngưng khui hụi, số tiền vốn đóng vào được bao nhiêu bà L không nhớ nhưng nếu tính theo hụi có lãi thì dây hụi này bà H còn nợ lại bà L 02 phần hụi bằng số tiền 17.000.000 đồng.
Dây 6: Bà L chỉ có tham gia dây hụi mở ngày 30/8/2018 âm lịch chứ không phải ngày 30/9/2018 âm lịch như bà H khởi kiện, dây hụi này bà L tham gia 03 phần và đã hốt 02 phần, còn lại 01 phần (chứ không phải hốt hết như bà H khởi kiện), sau khi hốt hụi đóng hụi chết đầy đủ hàng tháng bằng tiền mặt nhưng không có làm giấy tờ, đến ngày 15/01/2020 âm lịch thì bà H ngưng khui hụi, sau đó hai bên có tính toán với nhau và thống nhất khấu trừ phần hụi chết còn phải đóng với phần hụi còn sống, thì bà L còn nợ của bà H dây hụi này là 8.500.000 đồng. Việc tính toán không có làm giấy tờ gì, chỉ nói miệng với nhau.
Dây 7: Bà L chỉ có tham gia dây hụi mở ngày 15/12/2019 âm lịch chứ không phải ngày 15/12/2018 âm lịch như bà H khởi kiện, dây hụi này bà L tham gia 02 phần và đã hốt 01 phần, còn lại 01 phần (chứ không phải hốt hết như bà H khởi kiện), sau khi hốt hụi đóng hụi chết đầy đủ hàng tháng bằng tiền mặt nhưng không có làm giấy tờ, đến ngày 15/01/2020 âm lịch thì bà H ngưng khui hụi, sau đó hai bên có tính toán với nhau để khấu trừ phần hụi chết còn phải đóng với phần hụi còn sống và thống nhất dây hụi này không ai thiếu ai. Việc tính toán không có làm giấy tờ gì, chỉ nói miệng với nhau.
Dây 8: Dây hụi này bà L tham gia 03 phần và đã hốt 01 phần, còn lại 02 phần (chứ không phải hốt 02 phần, còn lại 01 phần như bà H khởi kiện). Đối với phần hụi đã hốt, sau khi hốt hụi đóng hụi chết đầy đủ hàng tháng bằng tiền mặt nhưng không có làm giấy tờ, đến ngày 15/01/2020 âm lịch thì bà H ngưng khui hụi, còn 17 lần khui nữa mới tới ngày mãn (số tiền phải đóng là 8.500.000 đồng); đối với 02 phần hụi chưa hốt bà L đã đóng vào được 12 lần, số tiền vốn đóng vào được bao nhiêu bà L không nhớ nhưng nếu tính theo hụi có lãi sẽ bằng 12.000.000 đồng. Như vậy dây hụi này sau khi khấu trừ phần hụi chết còn phải đóng với 02 phần hụi còn sống của bà L, thì bà H còn nợ bà L 3.500.000 đồng (12.000.000đ – 8.500.000đ).
Dây 9: Bà L thừa nhận có tham gia 03 phần nhưng bà L chưa hốt hụi phần nào, bà L đã đóng hụi sống được 08 lần, số tiền vốn đóng vào được bao nhiêu bà L không nhớ nhưng nếu tính theo hụi có lãi thì dây hụi này bà H còn nợ lại bà L 03 phần hụi bằng số tiền 24.000.000 đồng.
Tổng cộng 09 dây hụi, bà L còn phải đóng hụi chết cho bà H là 14.500.000 đồng và bà H còn nợ tiền hụi sống của bà L là 44.500.000 đồng, sau khi khấu trừ thì bà H còn nợ lại bà L 30.000.000 đồng (44.500.000đ – 15.500.000đ).
Ngày 03/12/2020, Tòa án đã thụ lý yêu cầu phản tố của bị đơn bà Lê Thị Trúc L với nội dung sau khi khấu trừ các khoản nợ của các dây hụi, bà L yêu cầu Tòa án giải quyết buộc bà Tô Ngọc H trả số tiền 30.000.000 đồng.
Ý kiến của Viện Kiểm sát: Kiểm sát viên tham gia phiên tòa nhận xét về việc tuân theo pháp luật tố tụng của Thẩm phán, Hội đồng xét xử, Thư ký phiên tòa và của những người tham gia tố tụng trong quá trình giải quyết vụ án kể từ khi thụ lý vụ án cho đến trước thời điểm Hội đồng xét xử nghị án nhìn chung đều thực hiện đúng theo các quy định của pháp luật về tố tụng dân sự; đồng thời đề nghị Hội đồng xét xử chấp nhận một phần yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn để buộc bị đơn trả số tiền 80.000.000 đồng và chấp nhận yêu cầu phản tố của bị đơn để buộc nguyên đơn trả số tiền 30.000.000 đồng; không chấp nhận phần yêu cầu khởi kiện đối với số tiền 40.500.000 đồng
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN :
Tại phiên tòa, bà Lê Thị Trúc L vắng mặt nhưng có người đại diện tham gia phiên tòa, nên Hội đồng xét xử vẫn tiến hành xét xử vụ án, theo quy định tại Điều 228 của Bộ luật Tố tụng dân sự.
Xét về hình thức, nội dung và mục đích của hợp đồng góp hụi giữa các bên đương sự thấy rằng cả bà H và bà L đều là những người có đầy đủ năng lực hành vi dân sự, khi giao kết hợp đồng dựa trên cơ sở tự nguyện của các bên, không vi phạm điều cấm của luật, không trái đạo đức xã hội, nên hợp đồng góp hụi giữa bà H với bà L là hợp pháp.
Sau khi đối chiếu lời khai đương sự, kết quả xác minh đối với yêu cầu khởi kiện, yêu cầu phản tố, nhận thấy phần trình bày về yêu cầu và chứng cứ giữa nguyên đơn, bị đơn đối với các dây hụi còn có nhiều mâu thuẫn, các bên chưa xác định rõ và đầy đủ để chứng minh cho yêu cầu khởi kiện, yêu cầu phản tố của mình là có căn cứ và hợp pháp. Do đó Hội đồng xét xử chỉ xem xét, chấp nhận phần yêu cầu khởi kiện và yêu cầu phản tố đã được đương sự chứng minh rõ ràng, theo quy định tại Điều 91 của Bộ luật Tố tụng dân sự về “nghĩa vụ chứng minh”; những yêu cầu mà đương sự không chứng minh được sẽ không được chấp nhận theo sự nhận định đối với từng dây hụi dưới đây.
Đối với dây hụi thứ nhất (Dây 1), bà H khởi kiện cho rằng có đóng hụi chết thay cho bà L 02 phần hụi trong 07 lần bằng số tiền 7.000.000 đồng, bà L thì cho biết có tham gia và hốt hụi 02 phần, sau khi hốt hụi bà đã đóng hụi đầy đủ cho đến ngày mãn hụi, đóng bằng tiền mặt cho bà H hàng tháng và không có làm giấy tờ gì. Nay bà H khởi kiện đòi số tiền 7.000.000 đồng nhưng bà L không chứng minh được, nên Hội đồng xét xử chấp nhận yêu cầu của bà H trong dây hụi này.
Đối với Dây 2, bà H cho biết bà L tham gia 05 phần nhưng bà L chỉ thừa nhận 02 phần, sau khi đối chiếu danh sách hụi xác định được bà L tham gia 05 phần. Bà H khởi kiện cho rằng có đóng hụi chết thay cho bà L 05 phần hụi trong 08 lần bằng số tiền 20.000.000 đồng, bà L thì cho biết sau khi hốt hụi bà đã đóng hụi đầy đủ cho đến ngày mãn hụi, đóng bằng tiền mặt cho bà H hàng tháng và không có làm giấy tờ gì. Nay bà H khởi kiện đòi số tiền 20.000.000 đồng nhưng bà L không chứng minh được, nên Hội đồng xét xử chấp nhận yêu cầu của bà H trong dây hụi này.
Đối với Dây 3, bà H khởi kiện cho rằng có đóng hụi chết thay cho bà L 02 phần hụi trong 11 lần bằng số tiền 22.000.000 đồng; bà L xác nhận có tham gia 02 phần và đã hốt hết, đóng hụi đầy đủ, đến ngày 15/01/2020 âm lịch bà H ngưng khui hụi nên chỉ còn nợ 03 lần chưa đóng là 6.000.000 đồng, nhưng không có gì chứng minh, do đó yêu cầu khởi kiện của bà H đối với dây hụi này được Hội đồng xét xử chấp nhận. Do bà L đồng ý khấu trừ 6.000.000 đồng vào số tiền trong nội dung đơn phản tố, nên dây hụi này chỉ buộc bà L trả 16.000.000 đồng.
Đối với Dây 4, bà H cho biết hụi mở ngày 30/8/2018 âm lịch nhưng bà L khai hụi mở ngày 30/8/2017 âm lịch, Hội đồng xét xử căn cứ vào giấy hụi của chủ hụi để xác định ngày mở hụi của dây hụi này là ngày 30/8/2018 âm lịch. Bà H khởi kiện cho rằng có đóng hụi chết thay cho bà L 02 phần hụi trong 12 lần bằng số tiền 24.000.000 đồng, bà L thì không chứng minh được đã đóng hụi đầy đủ bằng tiền mặt cho bà H, do đó yêu cầu khởi kiện của bà H đối với dây hụi này được Hội đồng xét xử chấp nhận.
Đối với Dây 5, bà H khởi kiện cho rằng bà L tham gia 02 phần đã hốt hết và đóng hụi chết đến tháng 5/2019 âm lịch thì ngưng, bà L thì thừa nhận có tham gia 02 phần nhưng chưa hốt hụi và đóng hụi sống đến ngày 15/01/2020 âm lịch số tiền 17.000.000 đồng. Do bà H là chủ hụi không chứng minh được việc hốt hụi của bà L nên yêu cầu khởi kiện của bà H đòi số tiền 12.000.000 đồng không được chấp nhận. Đối với yêu cầu phản tố của bà L cho rằng 02 phần hụi bà tham gia chưa hốt và đòi bà H phải trả lại 17.000.000 đồng được Hội đồng xét xử chấp nhận.
Đối với Dây 6, bà L thì cho biết dây hụi này mở ngày 30/8/2018 âm lịch (chứ không phải ngày 30/9/2018 âm lịch), bà L tham gia 03 phần, đã hốt hụi 02 phần còn lại 01 phần, chứ không phải hốt hết 03 phần như bà H khởi kiện. Bà L thừa nhận còn nợ bà H dây hụi này là 8.500.000 đồng vì sau khi bà H ngưng khui hụi ngày 15/01/2020 âm lịch thì hai bên có gặp nhau để tính toán và thỏa thuận như vậy. Bà H không chứng minh được cụ thể, rõ ràng nên Hội đồng xét xử chỉ chấp nhận theo số tiền được bà L thừa nhận là 8.500.000 đồng. Do bà L có yêu cầu phản tố và đồng ý khấu trừ 8.500.000 đồng vào số tiền trong nội dung đơn phản tố, nên dây hụi này đã được tính khấu trừ hết mà không buộc bà L phải trả.
Đối với Dây 7, bà H cho biết bà L tham gia 02 phần và hốt hết, bà L khai tham gia 02 phần và chỉ hốt 01 phần, còn lại 01 phần, qua xác minh Hội đồng xét xử xác định dây hụi này bà L đã hốt hết 02 phần. Bà H khởi kiện cho rằng có đóng hụi chết thay cho bà L 02 phần hụi trong 13 lần bằng số tiền 13.000.000 đồng; bà L cho biết đã thỏa thuận khấu trừ và dây hụi này không ai nợ ai nhưng không có gì để chứng minh, do đó yêu cầu khởi kiện của bà H đối với dây hụi này được Hội đồng xét xử chấp nhận.
Đối với Dây 8, bà H cho biết bà L tham gia 03 phần, đã hốt 02 phần, còn lại 01 phần và sau khi khấu trừ hụi sống và hụi chết thì bà H đòi bà L phải trả 10.500.000 đồng; bà L thừa nhận tham gia 03 phần, nhưng chỉ đã hốt 01 phần, còn lại 02 phần và có yêu cầu phản tố vì sau khi khấu trừ hụi sống và hụi chết thì bà H còn nợ bà L 3.500.000 đồng. Do bà H là chủ hụi không chứng minh được việc hốt hụi của bà L nên Hội đồng xét xử chấp nhận yêu cầu phản tố của bị đơn ở dây hụi này, không chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn.
Đối với Dây 9, bà H khởi kiện cho rằng bà L tham gia 03 phần, đã hốt 01 phần, còn lại 02 phần và sau khi khấu trừ hụi sống và hụi chết thì bà H đòi bà L phải trả 9.000.000 đồng; bà L thì thừa nhận có tham gia 03 phần trong dây hụi này nhưng chưa hốt hụi phần nào và đóng hụi sống được 08 lần. Do bà H là chủ hụi không chứng minh được việc hốt hụi của bà L nên yêu cầu khởi kiện của bà H đòi số tiền 9.000.000 đồng không được chấp nhận. Đối với yêu cầu phản tố của bà L cho rằng 03 phần hụi bà tham gia chưa hốt và đòi bà H phải trả lại 24.000.000 đồng được Hội đồng xét xử chấp nhận.
Tổng cộng trong 09 dây hụi, bà H khởi kiện đòi 135.000.000 đồng, được Hội đồng xét xử chấp nhận 94.500.000 đồng, không chấp nhận 40.500.000 đồng. Đối với yêu cầu phản tố của bà L cho rằng bà H còn nợ bà L 44.500.000 đồng, đồng thời bà L thừa nhận còn nợ bà H 14.500.000 đồng ở các dây hụi 3 và 6 xin được khấu trừ, yêu cầu phản tố còn lại 30.000.000 đồng được Hội đồng xét xử chấp nhận. Như vậy, yêu cầu khởi kiện của bà H đã được chấp nhận 94.500.000 đồng nhưng cũng phải trừ ra 14.500.000 đồng (số tiền đã khấu trừ trong yêu cầu phản tố), còn lại 80.000.000 đồng buộc bà L phải trả.
Xét về lỗi: Cả hai bên đều có lỗi và đã được phân tích chi tiết ở từng dây hụi để chấp nhận hoặc không chấp nhận yêu cầu ở phần trên. Lỗi ở bà H là chủ hụi nhưng không theo dõi chặt chẽ để đưa ra được chứng cứ chứng minh các phần hụi ở các dây hụi mà hụi viên đã hốt hoặc chưa hốt, hoặc đã hốt hụi nhưng không biết hốt ở lần khui thứ mấy và hốt được bao nhiêu tiền,… đối với hụi viên là bà L cũng có lỗi vì đã vi phạm nghĩa vụ không đóng tiền góp hụi đầy đủ cho chủ hụi ở một số dây hụi, và chủ hụi đã phải đóng thay; chính việc vi phạm nghĩa vụ của bên này đã gây thiệt thòi đến quyền lợi của bên kia và ngược lại, đồng thời phải chịu hậu quả của phần yêu cầu không được chấp nhận dựa trên cơ sở lời khai và chứng cứ chứng minh của đương sự.
Từ phân tích trên, Hội đồng xét xử có căn cứ xác định để chấp nhận một phần yêu cầu khởi kiện của bà H để buộc bà L trả số tiền 80.000.000 đồng và chấp nhận yêu cầu phản tố của bà L để buộc bà H trả số tiền 30.000.000 đồng, theo quy định tại Điều 471 Bộ luật Dân sự và Điều 30 của Nghị định số 144/2006/NĐ-CP ngày 27/11/2006 của Chính phủ về họ, hụi, biêu, phường.
Ý kiến của đại diện Viện Kiểm sát là có căn cứ và phù hợp với nhận định của Hội đồng xét xử nên được chấp nhận.
Về án phí: Bị đơn phải chịu án phí dân sự sơ thẩm tương ứng với phần yêu cầu của nguyên đơn đối với bị đơn được Tòa án chấp nhận; nguyên đơn phải chịu án phí dân sự sơ thẩm tương ứng với phần yêu cầu không được Tòa án chấp nhận và phần yêu cầu phản tố của bị đơn được Tòa án chấp nhận, theo quy định tại Điều 147 của Bộ luật Tố tụng dân sự và các khoản 4, 5 Điều 26 của Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14, ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội. Đối với người phải chịu án phí thuộc trường hợp là người cao tuổi sẽ được miễn án phí theo quy định tại điểm đ khoản 1 Điều 12 của Nghị quyết số 326/2016/ UBTVQH14.
Về quyền kháng cáo của đương sự được thực hiện theo quy định tại các Điều 271 và 273 của Bộ luật Tố tụng dân sự.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH :
Căn cứ khoản 3 Điều 26, điểm a khoản 1 Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 39, các Điều 147, 271 và 273 của Bộ luật Tố tụng dân sự;
Căn cứ các Điều 357, 468 và 471 của Bộ luật Dân sự;
Căn cứ Điều 27 của Nghị định số 19/2019/NĐ-CP, ngày 19/02/2019 của Chính Phủ, và các Điều 29, 30 và 31 của Nghị định số 144/2006/NĐ-CP, ngày 27/11/2006 của Chính Phủ về họ, hụi, biêu, phường;
Căn cứ điểm đ khoản 1 Điều 12 và các khoản 4 và 5 Điều 26 của Nghị quyết số 326/2016/ UBTVQH14, ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí tòa án;
Căn cứ Điều 26 của Luật Thi hành án dân sự năm 2008, đã được sửa đổi bổ sung năm 2014,
Tuyên xử:
1. Chấp nhận một phần yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn; buộc bà Lê Thị Trúc L có nghĩa vụ trả cho bà Tô Ngọc H số tiền 80.000.000 đồng (tám mươi triệu đồng).
2. Không chấp nhận phần yêu cầu của nguyên đơn đối với số tiền 40.500.000 đồng.
3. Chấp nhận yêu cầu phản tố của bị đơn; buộc bà Tô Ngọc H có nghĩa vụ trả cho bà Lê Thị Trúc L số tiền 30.000.000 đồng (ba mươi triệu đồng).
Kể từ ngày bản án có hiệu lực pháp luật và người được thi hành án có đơn yêu cầu thi hành án, cho đến khi thi hành án xong tất cả các khoản tiền, hàng tháng bên phải thi hành án còn phải chịu khoản tiền lãi của số tiền còn phải thi hành án theo mức lãi suất quy định tại khoản 2 Điều 468 Bộ luật Dân sự năm 2015.
4. Về án phí:
4.1. Bà Tô Ngọc H được miễn án phí số tiền 3.525.000 đồng; trả lại cho bà H số tiền tạm ứng án phí bà H đã nộp 3.375.000 đồng theo Biên lai thu tạm ứng án phí, lệ phí Tòa án số 0006665, ngày 13/10/2020 của Chi cục Thi hành án dân sự huyện Kế Sách, tỉnh Sóc Trăng;
4.2. Bà Lê Thị Trúc L phải chịu 4.000.000 đồng, được khấu trừ vào số tiền tạm ứng án phí bà L đã nộp 750.000 đồng theo Biên lai thu tạm ứng án phí, lệ phí Tòa án số 0006830, ngày 03/12/2020 của Chi cục Thi hành án dân sự huyện K, tỉnh Sóc Trăng; bà L còn phải nộp thêm tiền án phí là 3.250.000 đồng.
5. Các đương sự có quyền làm đơn kháng cáo trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án, đương sự vắng mặt tại phiên tòa hoặc không có mặt khi tuyên án mà có lý do chính đáng thì thời hạn kháng cáo tính từ ngày nhận được bản án hoặc được tống đạt hợp lệ.
Trường hợp Bản án được thi hành theo quy định tại Điều 2 của Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7, 7a và Điều 9 của Luật Thi hành án dân sự, thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật Thi hành án dân sự năm 2008 đã được sửa đổi, bổ sung năm 2014./.
| Nơi nhận: - Các đương sự; - Viện Kiểm sát nhân dân huyện Kế Sách; - Chi cục THA dân sự huyện K; - Tòa án nhân dân tỉnh Sóc Trăng (để BC); - Lưu hồ sơ vụ án. | TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN-CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Nguyễn Văn Diệu |