vanban.org

Bản án 149/2020/HS-ST — Hình sự

TAND TP. Nha Trang, tỉnh Khánh Hòa Tuyên án 09/07/2020 Hình sự Sơ thẩm
Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Xử phạt bị cáo Phạm Văn C 1 năm 6 tháng tù về tội “Trộm cắp tài sản”. Thời hạn tù tính từ ngày bắt giam, 30/01/2020.

Áp d ng Điều 56 Bộ luật hình sự; tổng hợp mức hình phạt 3 năm 6 tháng tù của bản án hình sự sơ thẩm số 281/2019/HSST ngày 12/11/2019 của Tòa án nhân dân thành phố Nha Trang; buộc bị cáo Phạm Văn C phải chấp hành hình phạt chung của hai bản án là 5 năm tù. Thời hạn tù tính từ ngày 30/01/2020. Thời hạ… Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? án hình sự — "Pham Van C cùng đồng phạm phạm tội "Trộm cắp tài sản" - phạm tội trộm cắp tài sản (điều 173 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS năm 2…"
  • Tòa quyết gì? Xử phạt bị cáo Phạm Văn C 1 năm 6 tháng tù về tội “Trộm cắp tài sản”. Thời hạn tù tính từ ngày bắt giam, 30/01/2020.
  • Căn cứ chính? Điều 51 Bộ luật Hình sự; Điều 173 Bộ luật Hình sự; Điều 292 Bộ luật tố t ng hình sự
TÒA ÁN NHÂN DÂN
THÀNH PHỐ NHA TRANG
TỈNH KHÁNH HÒA

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 149/2020/HS-ST
Ngày: 09/7/2020

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ NHA TRANG, TỈNH KHÁNH HÒA

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa:

Bà Nguyễn Thị Lệ

Các Hội thẩm nhân dân:

Ông Nguyễn Đức Đẹp

Bà Nguyễn Thị Lý

- Thư ký phiên tòa: Bà Phạm Hồng Phương Thảo - Thư ký Tòa án

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân Thành phố Nha Trang tham gia phiên tòa: Ông Nguyễn Thanh Bình - Kiểm sát viên.

Ngày 09 tháng 7 năm 2020, tại tr s Toà án nhân dân thành phố Nha Trang, tỉnh Khánh Hòa m phiên tòa công khai xét xử sơ thẩm v án hình sự th lý số 179/2020/HS-ST ngày 21 tháng 5 năm 2020 theo Quyết định đưa v án ra xét xử số 173/2020/QĐXX-HS ngày 19 tháng 6 năm 2020, Quyết định hoãn phiên tòa số 70/2020/HSST-QĐ ngày 30 tháng 6 năm 2020, đối với các bị cáo:

1. Họ và tên: Phạm Văn C

(Tý) Sinh năm 1992, tại Khánh Hòa

Giới tính: Nam

HKTT: 43 đường 12, phường P, thành phố Nha Trang

Trú tại: Thôn P, xã P, thành phố Nha Trang

Quốc tịch: Việt Nam; Dân tộc: Kinh;

Tôn giáo: không

Nghề nghiệp: Không;

Trình độ học vấn: 08/12

Tên cha: Phạm Văn Thành

sinh năm 1966

Tên mẹ: Phan Thị Chút

sinh năm 1968

Tiền sự: Không

Tiền án: Bản án số 281/2019/HSST ngày 12/11/2019 của Tòa án nhân dân thành phố Nha Trang tuyên phạt 03 năm 06 tháng tù về tội “Trộm cắp tài sản”. Quyết định thi hành án hình phạt tù số 137/QĐ-CA ngày 20/12/2019.

Nhân thân: Bản án số 129/2008/HSST ngày 06/06/2008 của Tòa án nhân dân thành phố Nha Trang tuyên phạt 01 năm tù về tội “Cướp tài sản”. Chấp hành xong hình phạt tù ngày 02/3/2009.

Bị cáo bị bắt giam từ ngày 30/01/2020.

2. Họ và tên: Cao Xuân L (Tý) Sinh năm 1992, tại Khánh Hòa

Giới tính: Nam

Trú tại: 147 T, Bình Tân, phường V, thành phố Nha Trang

Quốc tịch: Việt Nam; Dân tộc: Kinh;

Tôn giáo: không

Nghề nghiệp: không;

Trình độ học vấn: 06/12

Tên cha: Cao Hoài Minh

sinh năm 1967

Tên mẹ: Nguyễn Thị Đ

sinh năm 1968

Tiền sự: không

Tiền án: Bản án số 281/2019/HSST ngày 12/11/2019 của Tòa án nhân dân thành phố Nha Trang tuyên phạt 03 năm tù về tội “Trộm cắp tài sản”. Quyết định thi hành án hình phạt tù số 137/QĐ-CA ngày 20/12/2019.

Bị cáo đang thi hành án theo Quyết định thi hành án hình phạt tù số 137/QĐ-CA ngày 20/12/2019 tại Nhà tạm giữ Công an thành phố Nha Trang từ ngày 14/2/2020.

* Bị hại: Ông Nguyễn Bá N, sinh năm 1980 Trú tại: Số 8 Chế Lan Viên, phường Phước N, thành phố Nha Trang. Vắng mặt

* Người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan:

- Bà Nguyễn Thị Đ, sinh năm 1968 Trú tại: 147 Tân Hải, Bình Tân, phường Vĩnh Trường, thành phố Nha Trang.Có mặt

* Người làm chứng:

- Ông Phùng Đình D, sinh năm 1992 Trú tại: Thôn Tân Quý, xã Cam Thành Bắc, huyện Cam Lâm. Vắng mặt

NỘI DUNG VỤ ÁN

Theo các tài liệu có trong hồ sơ v án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung v án được tóm tắt như sau:

Khoảng 14 giờ 18 phút ngày 30/01/2020, Cao Xuân L điều khiển xe máy (không rõ biển kiểm soát) đến nhà Phạm Văn C chơi. Sau đó, C rủ L đi trộm cắp xe máy, L đồng ý. C lấy một bộ d ng c phá khóa xe máy cất vào túi quần. C điều khiển xe ch L đi tới trước kho để d ng c của Công ty trách nhiệm hữu hạn Thương mại và dịch v đầu tư xây dựng D Nguyên, địa chỉ: Lô 57 đường 13 khu đô thị VCN Phước N thì phát hiện 01 xe máy Sirius màu đen bạc, biển kiểm soát 79H1-9858 của anh Nguyễn Bá N dựng phía trước, không ai trông giữ. C dừng xe, đi đến gần xe máy Sirius, còn L ngồi trên xe Air Blade ngoài cảnh giới. Khi C vừa phá khóa xe Sirius xong, nổ máy chuẩn bị bỏ chạy thì bị anh N và người dân bắt giữ, giao Công an phường Phước N. L điều khiển xe bỏ chạy.

Ngày 13/2/2020, Cơ quan Cảnh sát điều tra - Công an thành phố Nha Trang đã xác định được Cao Xuân L và mời lên tr s làm việc.

Tại bản kết luận định giá tài sản số 30/HĐĐG ngày 03/2/2020 của Hội đồng định giá tài sản trong tố t ng hình sự thành phố Nha Trang kết luận: 01 xe máy Yamaha Sirius, biển kiểm soát 79H1-9858 giá trị 2.940.000 đồng.

Tại bản cáo trạng số 151/CT-VKSNT ngày 11/5/2020 của Viện kiểm sát nhân dân thành phố Nha Trang đã truy tố các bị cáo Phạm Văn C, Cao Xuân L về tội “Trộm cắp tài sản” quy định tại khoản 1 Điều 173 Bộ luật hình sự năm 2015.

Tại phiên tòa sơ thẩm, đại diện Viện kiểm sát nhân dân Thành phố Nha Trang giữ nguyên quan điểm truy tố và đề nghị Hội đồng xét xử:

- Áp d ng khoản 1 Điều 173, điểm h, s khoản 1 Điều 51, điểm h khoản 1 Điều 52 Bộ luật hình sự đối với bị cáo Phạm Văn C; xử phạt bị cáo C mức án từ 9 tháng đến 1 năm tù.

- Áp d ng khoản 1 Điều 173, điểm h, s khoản 1 Điều 51, điểm h khoản 1 Điều 52 Bộ luật hình sự đối với bị cáo Cao Xuân L; xử phạt bị cáo Cao Xuân L mức án từ 1 năm đến 1 năm 6 tháng tù.

Về trách nhiệm dân sự: Bị hại, người có quyền lợi nghĩa v liên quan đến v án không yêu cầu bồi thường nên không xem xét giải quyết; xử lý vật chứng theo quy định và buộc các bị cáo phải nộp tiền án phí hình sự sơ thẩm theo quy định

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ s nội dung v án, căn cứ vào các tài liệu có trong hồ sơ v án đã được tranh t ng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

Tại phiên tòa, vắng mặt bị hại, người làm chứng. Xét thấy việc vắng mặt của các đương sự không làm ảnh hư ng đến việc xét xử v án nên căn cứ Điều 292, 293 Bộ luật tố t ng hình sự, Hội đồng xét xử quyết định xét xử v án theo thủ t c chung

. Về hành vi, quyết định của Cơ quan cảnh sát điều tra, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân thành phố Nha Trang, Kiểm sát viên: Trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng thẩm quyền, trình tự, thủ t c tố t ng được quy định trong Bộ luật tố t ng hình sự. Quá trình điều tra, truy tố và tại phiên tòa sơ thẩm, bị cáo, người bị hại và những người tham gia tố t ng khác không có ý kiến khiếu nại gì về hành vi, quyết định của cơ quan tiến hành tố t ng, người tiến hành tố t ng. Do đó, có đủ cơ s để khẳng định, các hành vi, quyết định của cơ quan tiến hành tố t ng, người tiến hành tố t ng đã thực hiện trong giai đoạn điều tra, truy tố là có tính khách quan và hợp pháp.

. Tại phiên tòa sơ thẩm, bị cáo Phạm Văn C và Cao Xuân L đều khai nhận: Khoảng 14 giờ 18 phút ngày 30/01/2020, bị cáo Cao Xuân L điều khiển xe máy (không rõ biển kiểm soát) đến nhà bị cáo Phạm Văn C chơi. Sau đó, bị cáo C ch bị cáo L bằng xe của bị cáo L đi lòng vòng. Trước khi đi, bị cáo C đã chuẩn bị sẵn một d ng c phá khóa xe máy cất giấu vào túi quần. Trên đường đi, bị cáo C rủ bị cáo L đi trộm cắp xe máy. Bị cáo L đồng ý. Bị cáo C điều khiển xe ch bị cáo L đi tới trước kho để d ng c của Công ty trách nhiệm hữu hạn Thương mại và dịch v đầu tư xây dựng D Nguyên, địa chỉ: Lô 57 đường 13 khu đô thị VCN Phước N. Khi thấy chiếc xe máy Sirius màu đen bạc, biển kiểm soát 79H1-9858 của anh Nguyễn Bá N dựng phía trước, không ai trông giữ. Bị cáo C dừng xe, đi đến gần xe máy Sirius, còn bị cáo L ngồi trên xe Air Blade ngoài cảnh giới. Khi bị cáo C vừa phá khóa xe Sirius xong, nổ máy chuẩn bị bỏ chạy thì bị anh N và người dân bắt giữ, giao Công an phường Phước N. Bi cáo L điều khiển xe bỏ chạy.

Lời khai của các bị cáo phù hợp với Biên bản bắt người phạm tội quả tang, Biên bản làm việc, Biên bản nhận dạng, với lời khai của bị hại, người làm chứng và các tài liệu, chứng cứ khác có trong hồ sơ v án.

Hành vi của các bi cáo đã đủ yếu tố cấu thành tội “Trộm cắp tài sản”. Các bị cáo chiếm đoạt tài sản có trị giá 2.940.000 đồng. Nên Cáo trạng của Viện kiểm sát nhân dân thành phố Nha Trang truy tố các bị cáo về tội “Trộm cắp tài sản” quy định tại khoản 1 Điều 173 là có căn cứ, đúng người, đúng tội.

Hành vi của các bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, đã trực tiếp xâm phạm đến quyền s hữu tài sản hợp pháp của người khác được pháp luật bảo vệ, gây ảnh hư ng xấu đến tình hình an ninh, trật tự tại địa phương nên cần phải xử lý nghiêm.

Đây là v án đồng phạm giản đơn. Bị cáo C là người kh i xường việc đi trộm cắp tài sản, là người chuẩn bị công c phạm tội, là người trực tiếp thực hiện hành vi phạm tội. Bị cáo L là người giúp sức tích cực khi đứng cảnh giới. Bên cạnh đó, bị cáo C có nhân thân xấu hơn bị cáo L. Do đó Hội đồng xét xử quyết định xử phạt bi cáo C mức án nặng hơn bị cáo L là phù hợp với vai trò, tính chất, mức độ phạm tội và nhân thân của các bị cáo.

. Các bị cáo đã nhiều lần bị tòa án đưa ra xét xử, bản thân có tiền án chưa được xóa án tích nhưng lại tiếp t c phạm tội mới nên phải chịu tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự “tái phạm” quy định tại điểm h khoản 1 Điều 52 Bộ luật hình sự 2015.

. Tuy nhiên, xét quá trình điều tra và tại phiên tòa sơ thẩm, các bị cáo thành khẩn khai báo, phạm tội nhưng gây thiệt hại không lớn, tài sản chiếm đoạt đã được thu hồi trả lại cho bị hại nên Hội đồng xét xử cho các bị cáo hư ng tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại điểm h, s khoản 1, khoản 2 Điều 51 Bộ luật hình sự, giảm cho các bị cáo một phần hình phạt để các bị cáo thấy được sự khoan hồng của pháp luật mà an tâm cải tạo.

. Về trách nhiệm dân sự:

Bị hại, người có quyền lợi, nghĩa v liên quan đến v án không có yêu cầu nên không xem xét giải quyết.

. Về vật chứng: Vật chứng đã được xử lý trong giai đoạn điều tra (trả lại cho chủ s hữu), Hội đồng xét xử không xem xét giải quyết.

Đối với 01 d ng c phá khóa xe có phần đầu bằng kim loại, phần thân hình chữ L cuốn băng keo: Xét là công c phạm tội và không có gá trị sử d ng nên tuyên tịch thu tiêu hủy

. Về án phí: Các bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật.

* Vì các lẽ trên;

QUYẾT ĐỊNH

- Căn cứ khoản 1 Điều 173, điểm h, s khoản 1, khoản 2 Điều 51, điểm h khoản 1 Điều 52 Bộ luật hình sự đối với Phạm Văn C;

Xử phạt bị cáo Phạm Văn C 1 năm 6 tháng tù về tội “Trộm cắp tài sản”. Thời hạn tù tính từ ngày bắt giam, 30/01/2020.

Áp d ng Điều 56 Bộ luật hình sự; tổng hợp mức hình phạt 3 năm 6 tháng tù của bản án hình sự sơ thẩm số 281/2019/HSST ngày 12/11/2019 của Tòa án nhân dân thành phố Nha Trang; buộc bị cáo Phạm Văn C phải chấp hành hình phạt chung của hai bản án là 5 năm tù. Thời hạn tù tính từ ngày 30/01/2020. Thời hạn tạm giữ của bản án trước (Bản án số 281/2019/HSST ngày 12/11/2019) từ ngày 9/2/2019 đến 18/2/2019 được trừ vào thời gian chấp hành hình phạt tù.

- Căn cứ khoản 1 Điều 173, điểm h, s khoản 1, khoản 2 Điều 51, điểm h khoản 1 Điều 52 Bộ luật hình sự đối với Cao Xuân L;

Xử phạt bị cáo Cao Xuân L 1 năm tù về tội “Trộm cắp tài sản”. Thời hạn tù tính từ ngày bắt thi hành án.

Áp d ng Điều 56 Bộ luật hình sự; tổng hợp mức hình phạt 3 năm tù của bản án hình sự sơ thẩm số 281/2019/HSST ngày 12/11/2019 của Tòa án nhân dân thành phố Nha Trang, buộc bị cáo Cao Xuân L phải chấp hành hình phạt chung của hai bản án là 4 năm tù. Thời hạn tù tính từ ngày 14/2/2020 (ngày thi hành bản án hình sự sơ thẩm số 281/2019/HSST ngày 12/11/2019). Thời hạn tạm giữ của bản án trước (Bản án số 281/2019/HSST ngày 12/11/2019) từ ngày 9/2/2019 đến 18/2/2019 được trừ vào thời gian chấp hành hình phạt tù.

* Về trách nhiệm dân sự:

Bị hại, người có quyền lợi nghĩa v liên quan đến v án không yêu cầu bồi thường nên không xem xét giải quyết.

* Về vật chứng vụ án: Áp d ng Điều 106 Bộ luật tố t ng hình sự năm 2015;

+ Tịch thu tiêu hủy: 01 d ng c phá khóa xe có phần đầu bằng kim loại, phần thân hình chữ L cuốn băng keo

Theo Biên bản giao nhận vật chứng ngày 9/6/2020 giữa Cơ quan cảnh sát điều tra Công an thành phố Nha Trang và Chi c c Thi hành án dân sự Thành phố Nha Trang.

* Về án phí: Áp d ng Điều 136 Bộ luật tố t ng hình sự, Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử d ng án phí và lệ phí tòa án; bị cáo Phạm Văn C, Cao Xuân L mỗi người phải nộp 200.000 đồng tiền án phí hình sự sơ thẩm.

Các bị cáo, người có quyền lợi nghĩa v liên quan có quyền kháng cáo trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án sơ thẩm. Bị hại có quyền kháng cáo trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết công khai.

Cỡ chữ