vanban.org

Bản án 149/2020/DSPT — Tranh chấp hợp đồng đặt cọc

TAND tỉnh Tây Ninh Tuyên án 31/07/2020 Dân sự Phúc thẩm
Đã có hiệu lực pháp luật — từ ngày tuyên án 31/07/2020 Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Không chấp nhận kháng cáo của chị Bùi Thị Mỹ H; sửa bản án sơ thẩm.

Chấp nhận y u cầu khởi kiện của chị Tô Thị Th đối với chị Bùi Thị Mỹ H về việc “Tranh chấp hợp đồng đặt cọc”. Buộc chị Bùi Thị Mỹ H có nghĩa vụ trả lại cho chị Tô Thị Th tiền đặt cọc 200.000.000 đồng (hai trăm triệu) và tiền phạt cọc 200.000.000 đồng (hai trăm triệu). Tổng cộng 400.000.000 đồng (bốn… Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? Tranh chấp hợp đồng đặt cọc — án dân sự — "Tô Thị Th - Bùi Thị Mỹ H"
  • Tòa quyết gì? Không chấp nhận kháng cáo của chị Bùi Thị Mỹ H; sửa bản án sơ thẩm.
  • Căn cứ chính? Điều 27 NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…; Điều 289 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 29 NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…
TÒA ÁN NHÂN DÂN
TỈNH TÂY NINH

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 149/2020/DS-PT
Ngày: 31-7-2020
V/v “Tranh chấp hợp đồng đặt cọc”

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH TÂY NINH

- Thành phần Hội đồng xét xử phúc thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Trần Quốc Vũ.

Các Thẩm phán:

1. Bà Trần Thị Kim Sang;

2. Ông Phạm Văn Tâm.

- Thư ký phiên tòa: Ông Nguyễn Đức Đang, Thư ký Tòa án nhân dân tỉnh Tây Ninh.

- Đại diện Viện ki m sát nhân dân t nh Tâ Ninh tham gia phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Thu Trang, Ki m sát vi n.

Ngày 29 tháng 5 và ngày 31 tháng 7 năm 2020, tại trụ sở Tòa án nhân dân tỉnh Tây Ninh xét xử phúc thẩm công khai vụ án thụ lý số: 440/2019/TLPT-DS ngày 26 tháng 12 năm 2019 về việc “Tranh chấp hợp đồng đặt cọc”.

Do Bản án dân sự sơ thẩm số: 92/2019/DS-ST ngày 25 tháng 11 năm 2019, của Toà án nhân dân thành phố TN, tỉnh Tây Ninh bị kháng cáo.

Theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử phúc thẩm số: 34/2020/QĐ-PT ngày 10 tháng 02 năm 2020, giữa các đương sự:

1. Nguyên đơn: Chị Tô Thị Th, sinh năm 1976; cư trú tại: Số 09, hẻm 01, đường Phan Văn Đ, khu phố 2, thị trấn TB, huyện TB, tỉnh Tây Ninh; có mặt.

2. Bị đơn: Chị Bùi Thị Mỹ H, sinh năm 1972; cư trú tại: Số 24, đường PCK, khu phố 1, phường 3, thành phố Tây Ninh, tỉnh Tây Ninh; có mặt.

3. Người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của chị Bùi Thị Mỹ H: Ông Nguyễn Văn R, Luật sư của Văn phòng luật sư Nguyễn Văn R, thuộc Đoàn Luật sư tỉnh Tây Ninh; có mặt.

4. Người kháng cáo: Chị Bùi Thị Mỹ H là bị đơn.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo đơn khởi kiện ngày 02-4-2019; đơn thay đổi yêu cầu khởi kiện ngày 28-5-2019 và lời khai trong quá trình giải quyết vụ án, nguyên đơn chị Tô Thị Th trình bày: Chị được anh Võ Duy H giới thiệu, n n biết được chị Bùi Thị Mỹ H cần chuy n nhượng phần đất chiều rộng 15 m, chiều dài hết đất, tại thửa số 39, tờ bản đồ số 27, tọa lạc tại khu phố 6, thị trấn TB, huyện TB, tỉnh Tây Ninh. Sau khi tự đi xem đất và đồng ý chuy n nhượng, ngày 16-01-2019 chị và anh H đến nhà gặp chị H đ thương lượng, hai b n thống nhất giá chuy n nhượng đất 45.000.000 đồng/ 01 m chiều rộng và chị đã đặt cọc cho chị H số tiền 73.000.000 đồng, tổng giá trị phần đất chuy n nhượng hai b n thỏa thuận là 675.000.000 đồng, chị H có giảm bớt cho chị 2.000.000 đồng n n chị còn phải trả 673.000.000 đồng. Khấu trừ tiền đặt cọc, chị còn phải thanh toán cho chị H 600.000.000 đồng khi chị H hoàn tất thủ tục sang nhượng.

Khoảng 02 tháng sau khi đặt tiền cọc, chị H vẫn không làm thủ tục sang nhượng đất cho chị, mà đổi ý nâng giá chuy n nhượng đất l n 55.000.000 đồng/ 01 m chiều rộng do đường phía trước đất chuy n nhượng đang nâng cấp bằng bê tông. Chị H đồng ý trả lại tiền cọc 73.000.000 đồng và bồi thường 73.000.000 đồng, n n hai b n thỏa thuận hủy hợp đồng đặt cọc ngày 16-01-2019. Sau đó, ngày 20-3-2019 hai b n ký hợp đồng đặt cọc khác, vẫn thỏa thuận chuy n nhượng phần đất tr n, số tiền chị đặt cọc cho chị H lần này là 200.000.000 đồng, trong đó chị đưa th m cho chị H 54.000.000 đồng, còn số tiền 146.000.000 đồng là tiền đặt cọc và phạt cọc ngày 16-01-2019. Theo nội dung của hợp đồng đặt cọc ngày 20-3-2019, hai b n thống nhất sau 20 ngày k từ ngày đặt cọc chị H thực hiện xong trích đo thửa đất và hai b n ký hợp đồng chuy n nhượng, chị sẽ thanh toán số tiền còn lại.

Sau đó, chị H một mình y u cầu cơ quan chuy n môn đến trích đo tách thửa đất mà không thông báo cho chị biết. Ngày 08-4-2019, hai b n gặp nhau tại Ủy ban nhân dân thị trấn TB, huyện TB đ làm thủ tục chuy n nhượng, thì chị phát hiện thửa đất chị H đo tách thửa sang nhượng cho chị không đúng vị trí đất đã thỏa thuận, vì chỉ phía trước giáp đường đủ 15 m chiều rộng, còn phần giữa đất rộng 11 m, phần hậu phía sau rộng 13 m n n chị không đồng ý và y u cầu chị H thực hiện đúng theo thỏa thuận trước đó, nhưng chị H không đồng ý và có ý kiến, nếu chị không trả tiền chuy n nhượng đất đúng hẹn thì mất tiền đặt cọc. Do chị H không thực hiện đúng thỏa thuận, n n chị y u cầu chị H trả lại tiền đặt cọc 200.000.000 đồng và bồi thường tiền cọc 200.000.000 đồng, tổng cộng 400.000.000 đồng.

Bị đơn chị Bùi Thị Mỹ H trình bày: Chị có phần đất diện tích 1.679 m2, có nguồn gốc cha, mẹ ruột tặng cho ri ng chị và được cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất. Khoảng đầu tháng 01/2019, anh H và chị Th có đến nhà chị đ thương lượng nhận chuy n nhượng phần đất chiều rộng mặt giáp đường 15 m, còn chiều rộng mặt hậu không thỏa thuận bao nhi u mét, nhưng theo chị mặt hậu phía sau rộng bao nhi u mét thì không cần thiết, cũng không nói rõ phần đất chuy n nhượng ở vị trí nào của thửa đất số 39, tờ bản đồ số 27, tọa lạc tại khu phố 6, thị trấn TB, huyện TB. Giá thỏa thuận chuy n nhượng 45.000.000 đồng/ 01 m chiều rộng và chị Th đã đặt cọc cho chị 73.000.000 đồng, giá trị phần đất chuy n nhượng 675.000.000 đồng. Sau khi nhận cọc chuy n nhượng đất chị có l n thị trấn TB là thủ tục sang nhượng đất cho chị Th, nhưng chị Th không đến n n chị đến thăm phần đất, lúc này chị phát hiện đường phía trước đất đang làm nhựa, nhưng chị Th không nói thật n n chị y u cầu hủy việc chuy n nhượng đất, trả lại tiền đặt cọc và bồi thường cọc cho chị Th.

Ngày 20-3-2019, chị và chị Th riếp tục thỏa thuận chuy n nhượng lại phần đất tr n với giá 55.000.000 đồng/ 01 m chiều rộng, hai b n làm lại giấy đặt cọc mới và thỏa thuận trong thời gian 20 ngày chị sẽ hoàn tất thủ tục chuy n nhượng đất cho chị Th. Theo giấy đặt cọc, chị Th giao cho chị 200.000.000 đồng, nhưng thực tế chị Th chỉ giao số tiền 54.000.000 đồng cộng với tiền cọc 60.000.000 đồng lần trước chị đang giữ. Chị đã tách thửa phần đất chiều rộng giáp đường 15 m, chiều dài hết đất đ chuy n nhượng cho chị Th, chị đã thực hiện đúng với thỏa thuận giữa hai b n, việc chuy n nhượng đất không thành là do lỗi của chị Th, chị không có lỗi n n không đồng ý trả lại tiền đặt cọc và bồi thường tiền cọc theo y u cầu của chị Th.

Tại Bản án dân sự sơ thẩm số: 92/2019/DS-ST ngày 25 tháng 11 năm 2019, của Toà án nhân dân thành phố TN, tỉnh Tây Ninh, đã quyết định:

Căn cứ vào Điều 328 Bộ luật dân sự; Điều 147 Bộ luật Tố tụng dân sự; Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30-12-2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về án phí, lệ phí Tòa án:

Chấp nhận y u cầu khởi kiện của chị Tô Thị Th đối với chị Bùi Thị Mỹ H về việc “Tranh chấp hợp đồng đặt cọc”. Buộc chị Bùi Thị Mỹ H trả lại cho chị Tô Thị Th số tiền đặt cọc 200.000.000 đồng và tiền phạt cọc 200.000.000 đồng. Tổng cộng 400.000.000 đồng.

Ngoài ra, bản án sơ thẩm còn tuy n về án phí, về tiền lãi chậm thi hành án và quyền kháng cáo theo quy định của pháp luật.

Ngày 25-11-2019, chị Bùi Thị Mỹ H kháng cáo toàn bộ nội dung Bản án số: 92/2019/DS-ST ngày 25 tháng 11 năm 2019, của Toà án nhân dân thành phố TN, với nội dung chị không đồng ý trả lại cho chị Th tiền đặt cọc 200.000.000 đồng; không đồng ý phạt một lần tiền cọc 200.000.000 đồng và không đồng ý chịu án phí.

Tại phi n tòa phúc thẩm, chị Th vẫn giữ nguy n y u cầu chị H trả lại cho chị tiền đặt cọc 200.000.000 đồng và phạt cọc 200.000.000 đồng, tổng cộng 400.000.000 đồng.

Luật sư bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của chị H cho rằng, khi thỏa thuận chuy n nhượng đất giữa hai b n, chị Th là người viết “Giấy mua bán đặt cọc đất” nhưng không ghi rõ ràng, có sự nhầm lẫn về vị trí phần đất chuy n nhượng, do đó đề nghị Hội đồng xét xử tuy n thỏa thuận đặt cọc chuy n nhượng đất giữa chị Th và chị H vô hiệu, chị H trả lại chị Th tiền đặt cọc 200.000.000 đồng, mà không phải phạt cọc theo y u cầu của chị Th.

Chị H thống nhất với phần tranh luận của Luật sư, không bổ sung th m. Tại phiên tòa chị H rút một phần kháng cáo đối với số tiền cọc 200.000.000 đồng chị đồng ý trả lại cho chị Th và đồng ý chịu án phí theo quy định của pháp luật.

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Tây Ninh phát biểu Ý kiến:

- Về tố tụng: Tòa án thụ lý vụ án và quyết định đưa vụ án ra xét xử bảo đảm đúng quy định của Bộ luật Tố tụng dân sự; Hội đồng xét xử, Thư ký phi n tòa thực hiện đúng trình tự, thủ tục đối với phi n tòa dân sự; các đương sự thực hiện đúng quyền và nghĩa vụ của mình.

- Về nội dung: Tại phi n tòa, chị H rút một phần kháng cáo đồng ý trả lại tiền cọc cho chị Th và nộp tiền án phí theo quy định của pháp luật; chị H giữ nguy n nội dung kháng cáo không đồng ý phạt cọc 200.000.000 đồng, nhưng xét thấy việc không chuy n nhượng được phần đất theo thỏa thuận “Giấy mua bán đặt cọc đất” ngày 20-3-2019 là do lỗi của chị H. Chị H kháng cáo nhưng không cung cấp được chứng cứ chứng minh là không có lỗi trong việc thỏa thuận này, n n chị H có trách nhiệm trả lại cho chị Th tiền đặt cọc và phạt một lần tiền cọc, do đó đề nghị Hội đồng xét xử căn cứ Điếu 328 Bộ luật dân sự, không chấp nhận kháng cáo của chị H.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Sau khi nghiên cứu tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án đã được xem xét tại phiên tòa và căn cứ vào kết quả tranh tụng tại phiên tòa, ý kiến của Kiểm sát viên, Hội đồng xét xử nhận định:

Đơn khởi kiện ngày 02-4-2019 chị Tô Thị Th y u cầu Tòa án giải quyết buộc chị Bùi Thị Mỹ H tiếp tục chuy n nhượng phần đất chiều rộng 15 m, dài hết đất tại thửa số 39, tờ bản đồ số 27, tọa lạc khu phố 6, thị trấn TB, sau đó ngày 28-5-2019, chị Th có đơn xin thay đổi y u cầu khởi kiện, đơn thay đổi này chị Th y u cầu chị H trả lại chị tiền đặt cọc 200.000.000 đồng và bồi thường một lần tiền cọc 200.000.000 đồng, n n thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân thành phố TN, tỉnh Tây Ninh.

Chị Bùi Thị Mỹ H có phần đất diện tích 1.769 m2, tại thửa số 39, tờ bản đồ số 27, tọa lạc khu phố 6, thị trấn TB, được Ủy ban nhân dân huyện TB, tỉnh Tây Ninh cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số vào sổ: H00299/503/04/QĐ-UB ngày 16-02-2005. Tại Công văn số: 686/UBND-PTNMT ngày 21-7-2020 của Ủy ban nhân dân huyện TB, thời đi m cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất diện tích tr n là cấp cho hộ bà Bùi Thị Mỹ H và ông Võ Thành Ph là chồng của bà H, đến ngày 22-10-2015 Văn Phòng đăng ký đất đai tỉnh Tây Ninh – Chi nhánh TB điều chỉnh thông tin người sử dụng đất từ “Hộ bà Bùi Thị Mỹ H” thành “Bà Bùi Thị Mỹ H” tr n cơ sở xác nhận của Ủy ban nhân dân thị trấn TB ngày 21-10-2015; tại bi n bản lấy lời khai anh Võ Thành Phương ngày 12-6-2020 và bi n bản lấy lời khai của Võ Thành Hiếu T là con anh Ph, chị H đều xác định diện tích 1.769 m2 là tài sản ri ng chị H, chị H có quyền định đoạt. Từ những chứng cứ tr n, xác định diện tích 1.769 m2, tại thửa số 39, tờ bản đồ số 27, tọa lạc khu phố 6, thị trấn TB, huyện TB là tài sản ri ng của chị H.

Ngày 16-01-2019, chị H và chị Tô Thị Th ký “Giấy cọc tiền đất”, nội dung chị Th đặt cọc cho chị H số tiền 73.000.000 đồng đ nhận chuy n nhượng phần đất chiều rộng 15 m, chiều dài hết đất, số tiền còn phải trả sau khi hoàn thành thủ tục chuy n nhượng là 600.000.000 đồng; nếu b n bán không tiếp tục chuy n nhượng đất phải bồi thường gấp đôi số tiền đặt cọc, còn b n mua không tiếp tục nhận chuy n nhượng thì mất tiền đặt cọc. Do chị H không tiếp tục thực hiện chuy n nhượng phần đất tr n cho chị Th, nên chị H chấp nhận trả lại tiền cọc và một khoản tiền tương ứng tổng cộng là 146.000.000 đồng.

Ngày 20-3-2019, chị H và chị Th tiếp tục ký “Giấy mua bán đặt cọc đất” mới, nội dung th hiện chị H nhận cọc tiền đất do chị Th giao 200.000.000 đồng đ chuy n nhượng cho chị Th phần đất chiều rộng 15 m, chiều dài hết đất với giá 825.000.000 đồng cũng tại một phần thửa đất số 39, tờ bản đồ số 27, tọa lạc khu phố 6, thị trấn TB, huyện TB. Hai b n thỏa thuận, chị H làm thủ tục tách thửa và thủ tục sang nhượng phần đất chậm nhất là 20 ngày; nếu chị Th không tiếp tục nhận chuy n nhượng đất thì mất cọc; chị H nếu từ chối việc chuy n nhượng đất thì đền cọc gấp 02 lần.

Ngày 08-4-2019, hai bên gặp nhau tại Ủy ban nhân dân thị trấn TB đ làm thủ tục chuy n nhượng đất, nhưng chị Th không đồng ý, vì phần đất chị H tách thửa chuy n nhượng không đúng với giấy đặt cọc. Chị H trình bày, đã tách thửa phần đất chuy n nhượng cho chị Th chiều rộng giáp đường 15 m, chiều dài hết đất là đúng theo thỏa thuận, còn chiều rộng mặt hậu phía sau dài bao nhi u mét không cần thiết là không đúng với nội dung giấy đặt cọc, vì chị H thống nhất chuy n nhượng cho chị Th phần đất chiều rộng giáp đường 15 m, dài hết đất, thì phải từ trước đến sau có chiều rộng là 15 m, theo kết quả trích đo chỉnh lý bản đồ địa chính của Văn phòng đăng ký đất đai tỉnh Tây Ninh - Chi nhánh TB ngày 26-3-2019, thửa đất được tách ra một phần từ thửa số 39 là thửa số 105, tờ bản đồ số 27 có các số đo, phần giáp đường 15 m, phía sau hậu 13 m, phần giữa đất rộng không đến 13 m là không đúng vị trí, diện tích thửa đất mà các b n thỏa thuận theo “Giấy mua bán đặt cọc đất” ngày 20-3-2019, trong khi toàn bộ thửa đất số 39 của chị H có chiều rộng giáp đường dài 33 m, chiều rộng mặt hậu dài 26,7 m.

Phần đất chị H tách thửa đ chuy n nhượng cho chị Th không đủ kích thước, không đủ diện tích theo thỏa thuận n n chị Th có quyền từ chối giao kết thực hiện hợp đồng. Việc hai b n không tiếp tục ký kết được hợp đồng chuy n nhượng quyền sử dụng đất, lỗi thuộc về chị H. Tại phi n tòa, Luật sư bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của chị H cho rằng, khi thỏa thuận chuy n nhượng đất không ghi rõ ràng, có sự nhầm lẫn về vị trí phần đất là không đúng, mà các b n thống nhất chuy n nhượng phần đất chiều rộng 15 m, chiều dài hết đất như đã nhận định tr n. Do chị H có lỗi, n n chị H có nghĩa vụ trả lại tiền đặt cọc 200.000.000 đồng và phải chịu tiền phạt cọc 200.000.000 đồng theo y u cầu của chị Th, được quy định tại khoản 2 Điều 328 Bộ luật dân sự. Tại phi n tòa phúc thẩm, chị H rút một phần kháng cáo đối với số tiền đặt cọc 200.000.000 đồng chị đồng ý trả chị Th và đồng ý nộp tiền án phí theo quy định của pháp luật, nên đình chỉ xét xử phúc thẩm đối với y u cầu kháng cáo chị H đã rút.

Chị H kháng cáo y u cầu Tòa án cấp phúc thẩm không chấp nhận y u cầu phạt cọc 200.000.000 đồng của chị Th, nhưng không cung cấp được chứng cứ gì chứng minh chị Th có lỗi, n n không có cơ sở đ xem xét.

Từ những nhận định tr n, Hội đồng xét xử xét thấy đề nghị của vị đại diện Viện ki m sát là có căn cứ, không chấp nhận y u cầu kháng cáo của chị H.

Tại phi n tòa, chị H đồng ý trả lại tiền đặt cọc cho chị Th 200.000.000 đồng, nhưng không đồng ý tiền phạt cọc 200.000.000 đồng, Hội đồng xét xử chấp nhận phạt cọc 200.000.000 đồng, n n chị H phải chịu án phí tr n số tiền phạt cọc như trường hợp có giá ngạch theo quy định tại khoản 4 Điều 27 Nghị quyết số: 326/2016/UBTVQH14 ngày 30-12-2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội, n n án phí dân sự sơ thẩm được tính lại.

Do kháng cáo không được chấp nhận, n n chị H phải chịu 300.000 đồng án phí dân sự phúc thẩm.

Vì các lẽ tr n;

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ khoản 2 Điều 308, 309 Bộ luật Tố tụng dân sự.

Căn cứ Điều 328 Bộ luật dân sự; Điều 147, 148, đi m c khoản 1 Điều 289 Bộ luật Tố tụng dân sự; khoản 4 Điều 27, khoản 1 Điều 29 Nghị quyết số: 326/2016/UBTVQH14 ngày 30-12-2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội về án phí, lệ phí Tòa án

Không chấp nhận kháng cáo của chị Bùi Thị Mỹ H; sửa bản án sơ thẩm.

1. Chấp nhận y u cầu khởi kiện của chị Tô Thị Th đối với chị Bùi Thị Mỹ H về việc “Tranh chấp hợp đồng đặt cọc”.

Buộc chị Bùi Thị Mỹ H có nghĩa vụ trả lại cho chị Tô Thị Th tiền đặt cọc 200.000.000 đồng (hai trăm triệu) và tiền phạt cọc 200.000.000 đồng (hai trăm triệu). Tổng cộng 400.000.000 đồng (bốn trăm triệu).

K từ ngày chị Th có đơn y u cầu thi hành án, nếu chị H chưa thi hành xong số tiền tr n, thì hàng tháng chị H còn phải chịu khoản tiền lãi của số tiền còn phải thi hành án theo quy định tại khoản 2 Điều 468 của Bộ luật dân sự.

2. Đình chỉ xét xử phúc thẩm phần rút y u cầu kháng cáo của chị Bùi Thị Mỹ H đối với tiền đặt cọc 200.000.000 đồng (hai trăm triệu) và đồng ý nộp tiền án phí theo quy định của pháp luật.

3. Về án phí dân sự sơ thẩm:

3.1. Chị Bùi Thị Mỹ H phải chịu 10.000.000 đồng (mười triệu) án phí dân sự sơ thẩm.

3.2. Chị Tô Thị Th không phải chịu án phí dân sự sơ thẩm; hoàn trả lại cho chị Th 10.300.000 đồng (mười triệu, ba trăm nghìn) tiền tạm ứng án phí dân sự sơ thẩm đã nộp theo 02 bi n lai số 0006183, ngày 04-4-2019 và bi n lai số 0006344, ngày 28-5-2019 của Chi cục Thi hành án dân sự huyện TB, tỉnh Tây Ninh.

4. Án phí dân sự phúc thẩm: Chị Bùi Thị Mỹ H phải chịu 300.000 đồng (ba trăm nghìn) án phí dân sự phúc thẩm, nhưng được trừ vào số tiền tạm ứng án phí dân sự phúc thẩm đã nộp 300.000 đồng (ba trăm nghìn) theo bi n lai thu số 0001960 ngày 29 tháng 11 năm 2019 của Chi cục Thi hành án dân sự thành phố TN, tỉnh Tây Ninh.

5. Trường hợp bản án được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền y u cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, Điều 7 và Điều 9 Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật Thi hành án dân sự.

6. Bản án phúc thẩm có hiệu lực pháp luật k từ ngày tuy n án.

Cỡ chữ