vanban.org

Bản án 149/2018/HNGĐ-ST — Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình

Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình — án hôn nhân và gia đình — "Tranh chấp ly hôn giữa Đặng Thị Sương R với Thạch Hoàng L"
  • Căn cứ chính? Điều 147 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 228 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 27 NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…
TÒA ÁN NHÂN DÂN
TH XÃ DĨ AN

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

TỈNH BÌNH DƢƠNG
Bản án số: 149/2018/HNGĐ-ST
Ngày 14-11-2018
V/v tranh chấp ly hôn, nuôi con

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN D N TH XÃ DĨ AN, T NH B NH DƯ NG

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa: Bà Phan Thị Mỹ Dung.

Các Hội thẩm nhân dân:

1. Ông Nguyễn Văn Hoàn;

2. Ông Nguyễn Đình Thế.

- Thư ký phiên tòa: Bà Chu Thị Vân – Thƣ ký Tòa án nhân dân thị xã Dĩ An, tỉnh Bình Dƣơng.

- Đại diện Viện Kiểm sát nhân dân thị xã Dĩ An, tỉnh Bình Dương tham gia phiên tòa: Ông Phan Văn Tuân - Kiểm sát viên.

Ngày 14 tháng 11 năm 2018 tại Tòa án nhân dân thị xã Dĩ An, tỉnh Bình Dƣơng xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số 901/2018/TLST - HNGĐ ngày 22 tháng 8 năm 2018 về tranh chấp ly hôn và nuôi con theo Quyết định đƣa vụ án ra xét xử số 162/2018/QĐXXST - HNGĐ ngày 10 tháng 10 năm 2018 giữa các đƣơng sự:

- Nguyên đơn: Chị Đặng Thị Sƣơng R, sinh năm 1988; thƣờng trú: Thôn T, xã H, huyện T, tỉnh Phú Yên; tạm trú: Số 30/20 khu phố T, phƣờng D, thị xã D, tỉnh Bình Dƣơng.

- Bị đơn: Anh Thạch Hoàng L, sinh năm 1988; thƣờng trú: Số 4B, hẻm 249, đƣờng T1, phƣờng T2, quận T3, Thành phố Hồ Chí Minh; tạm trú: Số 30/20 khu phố T, phƣờng D, thị xã D, tỉnh Bình Dƣơng.

Chị Đặng Thị Sƣơng R có mặt, anh Thạch Hoàng L vắng mặt.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

- Theo đơn khởi kiện ngày 20/8/2018 và các lời khai trong quá trình giải quyết vụ án, nguyên đơn chị Đặng Thị Sƣơng R trình bày:

Về quan hệ hôn nhân: Chị Đặng Thị Sƣơng R và anh Thạch Hoàng L tự nguyện sống chung với nhau vào năm 2012, có đăng ký kết hôn tại UBND phƣờng T2, quận T3, Thành phố Hồ Chí Minh theo Giấy chứng nhận kết hôn số 101/2012, quyển số 01/2012 ngày 07/07/2012. Sau khi kết hôn, anh chị sống tại số 30/20 khu phố T, phƣờng D, thị xã D, tỉnh Bình Dƣơng. Thời gian đầu, vợ chồng sống với nhau hạnh phúc nhƣng từ năm 2015 thì bắt đầu phát sinh mâu thuẫn do anh Thạch Hoàng L không lo làm ăn phụ giúp gia đình, không quan tâm chăm sóc vợ con, nhiều lần bỏ nhà đi từ 02 đến 03 ngày, có khi 01 tuần mà không nói cho chị Đặng Thị Sƣơng R biết là đi đâu, khi về nhà thƣờng xuyên giao du với những đối tƣợng lạ mặt, có nhiều biểu hiện bất thƣờng nhƣ mắt đỏ, miệng hôi, ngày ngủ đêm thức, chị Đặng Thị Sƣơng R luôn cảm thấy không an toàn khi ở cùng anh Thạch Hoàng L. Hiện nay anh chị vẫn sống cùng nhà nhƣng đã ly thân, không còn quan tâm chăm sóc nhau hơn 02 tháng, chị Đặng Thị Sƣơng R xác định tình cảm vợ chồng không còn nên khởi kiện yêu cầu Tòa án giải quyết cho chị đƣợc ly hôn với anh Thạch Hoàng L.

Về con chung: Quá trình chung sống vợ chồng có một con chung tên Thạch Hoàng Bảo Ch, sinh ngày 11/3/2013, hiện nay con đang ở với anh chị. Sau khi ly hôn, chị Đặng Thị Sƣơng R yêu cầu đƣợc nuôi dƣỡng cháu Thạch Hoàng Bảo Ch và không yêu cầu anh Thạch Hoàng L cấp dƣỡng nuôi con vì chị làm công nhân thu nhập hàng tháng 11.000.000 đồng, có thể đảm bảo tốt về mọi mặt cho con.

Về tài sản chung, nợ chung: Không yêu cầu Tòa án giải quyết.

- Bị đơn anh Thạch Hoàng L đã đƣợc Toà án thông báo tham gia tố tụng, tống đạt các văn bản tố tụng nhƣng anh Thạch Hoàng L không đến Toà án làm việc, không cung cấp lời khai, không có yêu cầu phản tố nào, không cung cấp chứng cứ để bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của mình.

Ngày 25/9/2018, Tòa án xác minh tình trạng hôn nhân, quá trình chung sống giữa chị Đặng Thị Sƣơng R và anh Thạch Hoàng L tại địa phƣơng và đƣợc cung cấp: Chị Đặng Thị Sƣơng R và anh Thạch Hoàng L là vợ chồng, cùng chung sống tại số 30/20 khu phố T, phƣờng D, thị xã D, tỉnh Bình Dƣơng. Từ khi vợ chồng sống tại đây, địa phƣơng không nghe trình báo gì về mâu thuẫn giữa hai anh chị. Hiện nay anh chị vẫn còn sống chung tại địa phƣơng.

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thị xã Dĩ An tham gia phiên tòa phát biểu ý kiến:

+ Về tố tụng: Việc tuân theo pháp luật của Thẩm phán đƣợc phân công thụ lý, giải quyết vụ án đã đƣợc thực hiện đúng, đầy đủ theo quy định tại Điều 203 Bộ luật tố tụng dân sự.

Tại phiên tòa, Hội đồng xét xử đã tuân theo đúng các quy định của Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015 về việc xét xử sơ thẩm vụ án: nguyên đơn chấp hành đúng pháp luật về tố tụng dân sự. Bị đơn không chấp hành theo quy định tại Điều 70 Bộ luật tố tụng dân sự. Căn cứ vào Điều 228 Bộ luật Tố tụng dân sự, Tòa án tiến hành xét xử vắng mặt bị đơn là đúng quy định.

+ Về nội dung vụ án: Căn cứ các Điều 56, 81, 82, 83 Luật Hôn nhân gia đình, có đủ cơ sở chấp nhận yêu cầu khởi kiện của chị Đặng Thị Sƣơng R.

+ Về con chung: Đề nghị Hội đồng xét xử giao con chung cháu Thạch Hoàng Bảo Ch, sinh ngày 11/3/2013 cho chị Đặng Thị Sƣơng R trực tiếp nuôi dƣỡng và ghi nhận sự tự nguyện của chị Đặng Thị Sƣơng R không yêu cầu anh Thạch Hoàng L cấp dƣỡng nuôi con.

NHẬN Đ NH CỦA TÒA ÁN:

Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án đƣợc thẩm tra tại phiên tòa, ý kiến của đại diện Viện Kiểm sát tham gia phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định:

[1] Về sự vắng mặt của các đƣơng sự: Nguyên đơn có mặt tại phiên tòa. Bị đơn đã đƣợc Tòa án triệu tập hợp lệ để tham gia phiên tòa vào các ngày 26/10/2018 và ngày 14/11/2018 nhƣng bị đơn vẫn vắng mặt không lý do. Căn cứ Điều 228 Bộ luật Tố tụng dân sự, Tòa án xét xử vắng mặt bị đơn.

[2] Về quan hệ hôn nhân: Chị Đặng Thị Sƣơng R và anh Thạch Hoàng L tự nguyện sống chung với nhau vào năm 2012, có đăng ký kết hôn tại UBND phƣờng T2, quận T3, Thành phố Hồ Chí Minh theo Giấy chứng nhận kết hôn số 101/2012, quyển số 01/2012 ngày 07/07/2012 nên quan hệ hôn nhân là hợp pháp. Chị Đặng Thị Sƣơng R cho rằng từ năm 2015 anh Thạch Hoàng L không lo làm ăn phụ giúp gia đình, không quan tâm chăm sóc vợ con, nhiều lần bỏ nhà đi từ 02 đến 03 ngày, có khi 01 tuần mà không nói cho chị Đặng Thị Sƣơng R biết là đi đâu, khi về nhà thƣờng xuyên giao du với những đối tƣợng lạ mặt, có nhiều biểu hiện bất thƣờng nhƣ mắt đỏ, miệng hôi, ngày ngủ đêm thức, chị Đặng Thị Sƣơng R luôn cảm thấy không an toàn khi ở cùng anh Thạch Hoàng L. Hiện nay anh chị vẫn sống cùng nhà nhƣng đã ly thân, không còn quan tâm chăm sóc nhau hơn 02 tháng.

Sau khi Tòa án thụ lý vụ án và nhiều lần triệu tập anh Thạch Hoàng L đến tham gia phiên hòa giải để hàn gắn tình cảm vợ chồng nhƣng anh Thạch Hoàng L không có mặt. Điều này chứng tỏ tình cảm vợ chồng của anh Thạch Hoàng L đối với chị Đặng Thị Sƣơng R đã thực sự không còn và cả hai bên đều không muốn hàn gắn.

Xét thấy mục đích của hôn nhân là nhằm xây dựng gia đình no ấm, bình đẳng, hạnh phúc. Để đạt đƣợc mục đích đó, vợ chồng phải chung thủy, thƣơng yêu, quý trọng, chăm sóc, giúp đỡ, tạo điều kiện cho nhau phát triển về mọi mặt. Việc anh Thạch Hoàng L bỏ mặc không quan tâm đến hòa giải đoàn tụ để hàn gắn quan hệ hôn nhân với chị Đặng Thị Sƣơng R cho thấy tình trạng hôn nhân của vợ chồng chị Đặng Thị Sƣơng R và anh Thạch Hoàng L đã đến mức trầm trọng, đời sống chung không thể kéo dài, mục đích hôn nhân không đạt đƣợc. Căn cứ Điều 56 Luật hôn nhân và gia đình năm 2014 cần chấp nhận yêu cầu đƣợc ly hôn của chị Đặng Thị Sƣơng R.

[3] Về con chung: Quá trình chung sống, vợ chồng có 01 con chung tên Thạch Hoàng Bảo Ch, sinh ngày 11/3/2013. Chị Đặng Thị Sƣơng R yêu cầu đƣợc nuôi dƣỡng cháu Thạch Hoàng Bảo Ch, không yêu cầu anh Thạch Hoàng L phải cấp dƣỡng nuôi con. Xét thấy cháu Ch mặc dù sống cùng cha mẹ nhƣng từ trƣớc đến nay đƣợc chị Đặng Thị Sƣơng R trực tiếp chăm sóc, nuôi dƣỡng và đảm bảo tốt về mọi mặt. Mặc khác, cháu Ch là bé gái và hiện còn nhỏ cần sự chăm sóc của mẹ, chị Đặng Thị Sƣơng R làm công nhân có thu nhập hàng tháng là 11.000.000 đồng, có thể đảm bảo tốt về mọi mặt cho con. Do đó, chị Đặng Thị Sƣơng R yêu cầu đƣợc trực tiếp nuôi dƣỡng con chung là phù hợp với các Điều 81, 82 Luật Hôn nhân và gia đình. Chị Đặng Thị Sƣơng R không yêu cầu anh Thạch Hoàng L cấp dƣỡng nuôi con, xét đây là ý chí tự nguyện của chị nên Hội đồng xét xử ghi nhận.

[4] Về tài sản chung và nghĩa vụ chung về tài sản: Đƣơng sự không yêu cầu nên Hội đồng xét xử không xem xét, giải quyết.

[5] Từ những phân tích trên, có căn cứ chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn và chấp nhận đề nghị của đại diện Viện kiểm sát nhân dân thị xã Dĩ An, tỉnh Bình Dƣơng.

[6] Về án phí dân sự sơ thẩm: Chị Đặng Thị Sƣơng R phải chịu án phí ly hôn theo quy định của pháp luật.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT Đ NH:

Căn cứ khoản 4 Điều 147, Điều 228, Điều 273 Bộ luật Tố tụng Dân sự; các Điều 51, 56, 58, 81, 82, 83 và 84 Luật Hôn nhân và Gia đình năm 2014; Điểm a Khoản 5 Điều 27 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban thƣờng vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.

1. Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của chị Đặng Thị Sƣơng R đối với anh Thạch Hoàng L về việc ly hôn.

- Về quan hệ hôn nhân: Chị Đặng Thị Sƣơng R đƣợc ly hôn với anh Thạch Hoàng L.

- Về con chung: Buộc anh Thạch Hoàng L giao con chung tên Thạch Hoàng Bảo Ch, sinh ngày 11/3/2013 cho chị Đặng Thị Sƣơng R trực tiếp chăm sóc, nuôi dƣỡng. Ghi nhận sự tự nguyện của chị Đặng Thị Sƣơng R không yêu cầu anh Thạch Hoàng L cấp dƣỡng nuôi con.

Sau ly hôn, chị Đặng Thị Sƣơng R và anh Thạch Hoàng L đều có quyền chăm sóc, thăm nom, giáo dục con, không ai có quyền cản trở anh, chị thực hiện quyền này. Trƣờng hợp anh Thạch Hoàng L lạm dụng việc đi lại, thăm nom con gây ảnh hƣởng xấu đến việc chị Đặng Thị Sƣơng R nuôi con thì chị có quyền yêu cầu Tòa án hạn chế quyền thăm nom con theo quy định của pháp luật. Vì lợi ích về mọi mặt của con khi một hoặc cả hai bên đƣơng sự có yêu cầu, Tòa án sẽ quyết định thay đổi ngƣời trực tiếp nuôi con và việc cấp dƣỡng.

- Về tài sản chung và nghĩa vụ chung về tài sản: Đƣơng sự không yêu cầu nên Tòa án không xem xét, giải quyết.

2. Về án phí: Chị Đặng Thị Sƣơng R phải chịu 300.000 đồng (ba trăm nghìn đồng) án phí ly hôn, đƣợc khấu trừ vào tiền tạm ứng án phí đã nộp theo biên lai thu số 0020000, ngày 21/8/2018 của Chi cục thi hành án dân sự thị xã Dĩ An, tỉnh Bình Dƣơng. Chị Đặng Thị Sƣơng R đã nộp đủ tiền án phí dân sự sơ thẩm.

3. Án xử công khai, tuyên án vắng mặt bị đơn.

4. Nguyên đơn có mặt có quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án. Bị đơn vắng mặt đƣợc quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày, kể từ ngày nhận đƣợc bản án hoặc bản án đƣợc tống đạt hợp lệ.

Trƣờng hợp bản án đƣợc thi hành án theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì ngƣời đƣợc thi hành án dân sự, ngƣời phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cƣỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7 và Điều 9 Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án đƣợc thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật thi hành án dân sự.

Cỡ chữ