- Tranh chấp gì? Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình — án hôn nhân và gia đình — "LY HÔN"
- Tòa quyết gì? Nghị Quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30.
- Căn cứ chính? NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…; Điều 146 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 147 Bộ luật Tố tụng dân sự
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN CHỢ MỚI, TỈNH AN GIANG | |
TÒA ÁN
NHÂN DÂN H
UYỆN CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM CHỢ MỚI Độc lập - Tự do - Hạnh phúc TỈNH AN GIANG Bản án số: 149/2018/HNGĐ-ST. Ngày: 21 - 8 - 2018. V/v tranh chấp ly hôn NHÂN DANH NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN CHỢ MỚI, TỈNH AN GIANG
Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có: Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Lê Lâm Bảo Ngọc. Các Hội thẩm nhân dân: 1. Ông Võ Lâm Sơn 2. Bà Nguyễn Thị Bích Liễu - Thư ký phiên tòa: bà Đặng Thị Diệu tiên – là thư ký Tòa án nhân dân huyện Chợ Mới, tỉnh An Giang. - Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Chợ Mới, tỉnh An Giang: Ông Nguyễn Văn Lộc – Kiểm sát viên. Trong ngày 21 tháng 8 năm 2018 tại tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Chợ Mới, tỉnh An Giang xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số: 103/2018/TLST- HNGĐ ngày 23 tháng 02 năm 2018 về tranh chấp ly hôn, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 131/2018/QĐXX-ST ngày 29 tháng 6 năm 2018 giữa các đương sự: 1. Nguyên đơn: chị Nguyễn Thị Quyền T, sinh năm 1989 (có mặt). 2. Bị đơn: anh Đoàn Ngọc R, sinh năm 1988 (vắng mặt). Địa chỉ: cùng ngụ ấp Kiến Bình 1, xã K, huyện C, tỉnh An Giang.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Trong đơn khởi kiện, tờ tự khai và quá trình giải quyết vụ án nguyên đơn chị Nguyễn Thị Quyền T trình bày: chị và anh R chung sống với nhau vào năm 2013 có tổ chức đám cưới, có đăng ký kết hôn. Hôn nhân do được mai mối và được hai bên gia đình chấp nhận, vợ chồng sống hạnh phúc đến tháng 9 năm 2015 thì phát sinh mâu thuẫn, nguyên nhân là do không có tình cảm, bất đồng quan điểm. Vợ chồng không còn chung sống với nhau từ khi ly thân đến nay. Nhận thấy tình cảm không còn nay chị yêu cầu ly hôn với anh R. - Về quan hệ con chung: vợ chồng có 01 con chung tên Đoàn Nguyễn Ngọc L, sinh ngày 28.11.2013, hiện đang sống với chị T. Sau khi ly hôn chị T yêu cầu được tiếp tục nuôi con chung, không yêu cầu anh R cấp dưỡng nuôi con chung.
- Về quan hệ tài sản chung: vợ chồng tự thỏa thuận không yêu cầu Tòa án giải quyết. - Về quan hệ nợ chung: Không có. Bị đơn anh Đoàn Ngọc R đã được tống đạt Thông báo thụ lý vụ án và tham gia phiên họp kiểm tra việc giao nộp, tiếp cận, công khai chứng cứ và hòa giải nhưng anh Đoàn Ngọc R không gửi văn bản cũng như không tham gia các phiên hòa giải. Nên Tòa án không ghi nhận được ý kiến của anh Đoàn Ngọc R về yêu cầu khởi kiện của chị Nguyễn Thị Quyền T. Quan điểm của Viện kiểm sát tại phiên tòa cho rằng trong quá trình giải quyết vụ án Tòa án tuân theo đúng trình tự thủ tục pháp luật quy định, đảm bảo cho đương sự thực hiện đúng quyền và nghĩa vụ, nguyên đơn thực hiện đúng quy định về pháp luật tố tụng dân sự, riêng anh R mặc dù đã được triệu tập hợp lệ nhưng vẫn vắng mặt không có lý do. Về hôn nhân : Đề nghị chấp nhận yêu cầu xin ly hôn của nguyên đơn, về con chung tiếp tục giao con chung cho chị T nuôi dưỡng, chị T không yêu cầu cấp dưỡng nuôi con, về tài sản chung và nợ chung đương sự không đề cập đến.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án. Hội đồng xét xử nhận định: [1] Anh Đoàn Ngọc R đã được tống đạt các Quyết định đưa vụ án ra xét xử và hoãn phiên tòa nhưng anh Đoàn Ngọc R vẫn vắng mặt không lý do. Căn cứ vào Điều 227 của Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015. Hội đồng xét xử tiến hành xét xử vắng mặt đối với anh Đoàn Ngọc R là có căn cứ. [2] Chị Nguyễn Thị Quyền T yêu cầu ly hôn với anh Đoàn Ngọc R. anh Đoàn Ngọc R có nơi cư trú tại ấp Kiến Bình 1, xã K, huyện Chợ Mới, tỉnh An Giang. Nên Tòa án nhân dân huyện Chợ Mới thụ lý giải quyết là đúng thẩm quyền được quy định tại các Điều 28, 35 và Điều 39 Bộ luật tố tụng dân sự. [3] Chị Nguyễn Thị Quyền T và anh Đoàn Ngọc R xác lập quan hệ vợ chồng và chung sống với nhau, có tổ chức lễ cưới, đăng ký kết hôn theo quy định của pháp luật nên hôn nhân của anh, chị được pháp luật thừa nhận và bảo vệ. Quá trình chung sống mâu thuẫn kéo dài do vấn đề kinh tế dẫn đến mâu thuẫn, vợ chồng không còn tình cảm, đời sống chung không thể kéo dài, anh R không có thiện chí hàn gắn mối quan hệ này. Trong quá trình giải quyết vụ án anh Đoàn Ngọc R không gửi cho Tòa án ý kiến cũng như không tham gia các phiên hòa giải, nên Tòa án đã lập biên bản tiến hành hòa giải không được. Hội đồng xét xử xét thấy mối quan hệ vợ chồng giữa chị T và anh R không thể tiếp tục được, mâu thuẫn phát sinh nhưng cả hai không muốn hàn gắn, cuộc sống chung không tồn tại. Vì vậy, nghĩ nên chấp nhận yêu cầu khởi kiện của chị T ly hôn với anh Đoàn Ngọc R là phù hợp được quy định tại Điều 56 Luật Hôn nhân và gia đình. [4] Về quan hệ con chung: vợ chồng có 01 con chung tên Đoàn Nguyễn Ngọc L, sinh ngày 28.11.2013, hiện đang sống với chị T. Sau khi ly hôn chị T yêu cầu được tiếp tục nuôi con chung, không yêu cầu anh R cấp dưỡng nuôi con chung.
Xét về yêu cầu nuôi con chung của chị T thì thấy: từ khi chị T và anh R không còn sống chung cho đến nay chị T vẫn chăm sóc, nuôi dưỡng và giáo dục con chung luôn đảm bảo về thể chất và tâm sinh lý phát triển tốt. Chị T có đủ điều kiện về kinh tế để đảm bảo cuộc sống cho con chung, hơn nữa trong quá trình Tòa án giải quyết vụ án anh R không có ý kiến nào phản đối việc chị T yêu cầu được nuôi con chung sau khi ly hôn, nên việc giao cháu Long cho chị T được tiếp tục nuôi dưỡng, giáo dục là phù hợp với quy định pháp luật. Xét yêu cầu cấp dưỡng nuôi con chung, do chị T không yêu cầu. Nên Hội đồng xét xử không xem xét giải quyết. Anh R không trực tiếp nuôi dưỡng con chung nhưng anh có quyền tới lui trông nom, chăm sóc và giáo dục con chung, không ai được ngăn cản anh R thực hiện quyền này. Vì lợi ích của con chung, khi cần thiết một hoặc cả hai bên có quyền yêu cầu Tòa án xem xét và quyết định việc thay đổi người trực tiếp nuôi con hay mức cấp dưỡng nuôi con. [5] Về quan hệ tài sản chung: chị T trình bày không yêu cầu Tòa án giải quyết. [6] Về quan hệ nợ chung: ghi nhận chị T trình bày không có nợ chung. Nhưng sau khi bản án ly hôn có hiệu lực pháp luật, nếu có nguyên đơn khởi kiện xuất trình chứng cứ chứng minh nợ chung của chị T và anh R trong thời kỳ hôn nhân thì chị T và anh R vẫn phải liên đới chịu trách nhiệm với tư cách đồng bị đơn trong vụ án dân sự khác. [7] Về án phí: các đương sự phải chịu án phí theo quy định của pháp luật. Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ vào Điều 56, 81, 82, 83 và Điều 84 Luật hôn nhân và gia đình 2014. - Các Điều 28, 35, 146, 147, 227 và Điều 273 Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015. - Nghị Quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30.12.2016 của Uỷ ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án. Tuyên Xử: - Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của chị Nguyễn Thị Quyền T. - Về quan hệ hôn nhân: chị Nguyễn Thị Quyền T được ly hôn với anh Đoàn Ngọc R. - Về quan hệ con chung: chị Nguyễn Thị Quyền T được tiếp tục trông nôm, chăm sóc, nuôi dưỡng và giáo dục con chung tên Đoàn Nguyễn Ngọc L, sinh ngày 28.11.2013 cho đến tuổi thành niên và lao động được. Anh R không phải cấp dưỡng nuôi con chung. - Về quan hệ tài sản chung: chị T trình bày không yêu cầu Tòa án giải quyết.
- Về quan hệ nợ chung: Ghi nhận chị T trình bày không có nợ chung. Nhưng sau khi bản án ly hôn có hiệu lực pháp luật, nếu có nguyên đơn khởi kiện xuất trình chứng cứ chứng minh nợ chung của chị T, anh R trong thời kỳ hôn nhân thì chị T, anh R vẫn phải liên đới chịu trách nhiệm với tư cách đồng bị đơn trong vụ án dân sự khác. - Về án phí: chị T phải chịu án phí hôn nhân và gia đình sơ thẩm là 300.000đ (ba trăm ngàn đồng) nhưng được khấu trừ vào tiền tạm ứng án phí đã nộp 300.000đ (ba trăm ngàn đồng) theo biên lai thu số 0019238 ngày 23.02.2018 của Chi cục Thi hành án dân sự huyện Chợ Mới, tỉnh An Giang. Chị T đã nộp xong. Trường hợp bản án được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7 và 9 Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật Thi hành án dân sự. Đương sự có mặt tại phiên tòa được quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án. Đương sự vắng mặt tại phiên tòa được quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày được tống đạt bản án hợp lệ./. TM . HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM
Nơi nhận: - TAND tỉnh An Giang; - VKSND huyện Chợ Mới; - Chi cục THADS huyện Chợ Mới; - UBND xã K; - Các đương sự; - Lưu hồ sơ. | THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Lê Lâm Bảo Ngọc |