vanban.org

Bản án 149/2018/DS-ST — Tranh chấp về hụi, họ, biêu, phường

Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Bộ Luật Tố tụng Dân sự;

27-11-2006 của Chính phủ; 12-2016, của Ủy Ban Thường vụ Quốc hội khóa XIV Quy định về mức thu,

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? Tranh chấp về hụi, họ, biêu, phường — án dân sự — "Tranh chấp Hợp đồng góp hụi giữa bà Trần Thị Tuyết Mai với bà Phan Thị Yến"
  • Tòa quyết gì? Bộ Luật Tố tụng Dân sự;
  • Căn cứ chính? Điều 14 Nghị định số 144/2006/NĐ-CP Về họ, hụi, biêu, phường; Điều 15 Nghị định số 144/2006/NĐ-CP Về họ, hụi, biêu, phường; Điều 17 Nghị định số 144/2006/NĐ-CP Về họ, hụi, biêu, phường
TÒA ÁN NHÂN DÂN
HUYỆN CHÂU THÀNH
TỈNH AN GIANG

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 149/2018/DS-ST
Ngày: 12-9-2018
V/v: Tranh chấp Hợp đồng góp
hụi giữa bà M với bà Y.

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN CHÂU THÀNH, TỈNH AN GIANG

-Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa: Ông Lý Đông Hòa

Các Hội thẩm nhân dân:

Ông Phạm Thạch Út

Bà Huỳnh Thị Thanh Tuyền

-Thư ký phiên tòa: Bà Phạm Thị Kim Sơn là Thư ký Tòa án nhân dân

huyện Châu Thành, tỉnh An Giang.

-Đại diện Viện Kiểm sát nhân dân huyện Châu Thành tham gia phiên

tòa: Bà Lê Thị Tố Anh – Kiểm sát viên.

Ngày 12 tháng 9 năm 2018, tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Châu Thành

xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số: 12/2018/TLST-DS ngày 18 tháng 01

năm 2018 về “Tranh chấp Hợp đồng góp hụi” theo Quyết định Đưa vụ án ra xét

xử số 162/2018/QĐXXST-DS ngày 16 tháng 7 năm 2018 và Quyết định hoãn

phiên tòa số 128/2018/QĐST-DS ngày 16 tháng 8 năm 2018 giữa các đương sự:

1.Nguyên đơn: Bà T T T M, sinh năm 1978 (có mặt)

Nơi cư trú: Tổ 08, ấp V T, xã V B, huyện C T, tỉnh An Giang.

2.Bị đơn: Bà P T Y, sinh năm 1972 (vắng mặt)

Nơi cư trú: Tổ 04, ấp V T, xã V B, huyện C T, tỉnh An Giang.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Tại đơn khởi kiện, tờ tự khai ngày 08-01-2018, Biên bản lấy lời khai ngày

08-3-2018, nguyên đơn bà T T T M trình bày: Bà có tham gia chơi các dây hụi

do bà P T Y làm chủ như sau:

+Dây hụi 1.000.000đ, hụi kỳ, 15 ngày khui một lần, khui lần đầu ngày 15-

01-2017 âm lịch, nhằm ngày 11-02-2017, tổng số 35 phần, bà tham gia 2 phần lấy tên M trong danh sách hụi. Hụi khui đến lần thứ 23 ngày 15-11-2017 âm lịch, nhằm ngày 01-01-2018 thì ngưng do bà Y tuyên bố bể hụi. Bà chỉ đóng hụi sống đến lần thứ 21, còn lần thứ 22 bà không đóng hụi.

1 phần hụi còn sống, bà đóng hụi sống 21 lần là 15.480.000đ.

1 phần hụi đã hốt hụi ở lần khui hụi thứ 20 ngày 29-9-2017 âm lịch nhằm

ngày 17-11-2017. Bà đóng hụi chết 1 lần vào ngày 15-10-2017 âm lịch, nhằm ngày 02-12-2017. Bà nợ 14 lần hụi chết.

+Dây hụi ngày 100.000đ, khui lần đầu ngày 01-8-2017 âm lịch, tổng số 90

phần, bà tham gia 10 phần, hụi đã mãn. Bà Y giao tiền hốt hụi cho bà là 53.500.000đ, còn nợ lại 35.500.000đ.

Nay bà yêu cầu bà P T Y có nghĩa vụ trả lại bà tiền đóng hụi sống là

42.500.000đ, không yêu cầu tính lãi.

Tại phiên tòa, nguyên đơn bà T T T M trình bày: Bà tự nguyện đồng ý khấu

trừ 14.000.000đ tiền hụi chết còn nợ bà Y; bà chỉ yêu cầu bà Y trả lại số tiền nợ hụi là 35.980.000đ, không yêu cầu tính lãi.

Tại Biên bản lấy lời khai ngày 15-3-2018, bị đơn bà P T Y trình bày: Bà T

T T M có tham gia chơi các dây hụi do bà làm chủ như sau:

+Dây hụi 1.000.000đ, hụi kỳ, 15 ngày khui một lần, khui lần đầu ngày 15-

01-2017 âm lịch, nhằm ngày 11-02-2017, tổng số 35 phần, bà M tham gia 2 phần lấy tên M trong danh sách hụi. Hụi khui đến lần thứ 23 ngày 15-11-2017 âm lịch, nhằm ngày 01-01-2018 thì ngưng do bể hụi. Bà M chỉ đóng hụi sống đến lần thứ 21, còn lần thứ 22 bà M không đóng hụi.

1 phần hụi còn sống, bà M đóng hụi sống 21 lần là 15.480.000đ.

Còn 1 phần hụi đã hốt hụi ở lần khui hụi thứ 20 ngày 29-9-2017 âm lịch

nhằm ngày 17-11-2017. Bà M đóng hụi sống 19 lần là 14.120.000đ, lần thứ 20 bà M hốt hụi, sau đó bà M đóng 1 lần hụi chết là 1.000.000đ. Bà M nợ 14 lần hụi chết là 14.000.000đ.

+Dây hụi ngày 100.000đ, khui lần đầu ngày 01-8-2017 âm lịch, tổng số 90

phần, bà M tham gia 10 phần, hụi đã mãn. Bà đã giao tiền hốt hụi cho bà M là 53.500.000đ, còn nợ lại bà M 34.500.000đ.

Nay trước yêu cầu đòi tiền đóng hụi sống của bà M, bà xác định còn nợ tiền

đóng hụi sống của bà M là 15.480.000đ và 34.500.000đ, tổng cộng là 49.980.000đ, khấu trừ 14 lần hụi chết là 14.000.000đ, bà còn nợ bà M là 35.980.000đ, bà đồng ý trả cho bà M số tiền trên, yêu cầu bà M không tính lãi. Về phương thức thanh toán bà sẽ bán tài sản để trả nợ.

Đại diện Viện Kiểm sát nhân dân huyện Châu Thành, tỉnh An Giang phát

biểu quan điểm như sau:

1/Về việc tuân theo pháp luật tố tụng: Thẩm phán, Thư ký và Hội đồng xét

xử trong quá trình thụ lý, giải quyết vụ án đã thực hiện đầy đủ trình tự thủ tục tố tụng được pháp luật quy định tại Bộ Luật Tố tụng Dân sự.

2/Ý kiến về việc giải quyết vụ án: Đề nghị chấp nhận yêu cầu khởi kiện của

nguyên đơn.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

[1] Về thủ tục tố tụng: Đối với bị đơn bà P T Y, Tòa án đã tống đạt hợp lệ

Quyết định đưa vụ án ra xét xử và Quyết định hoãn phiên tòa, nhưng bà Y vẫn

vắng mặt không có lý do. Căn cứ Điều 227 và Điều 228 của Bộ Luật Tố tụng

Dân sự, Hội đồng xét xử vẫn tiến hành xét xử vắng mặt theo thủ tục chung đối

với bị đơn bà Y.

[2] Về quan hệ pháp luật tranh chấp: Căn cứ vào đơn khởi kiện. Đối chiếu

quy định của pháp luật tại khoản 3 Điều 26 của Bộ Luật Tố tụng Dân sự; Điều

471 của Bộ Luật Dân sự năm 2015; Thì vụ án có quan hệ pháp luật tranh chấp

hợp đồng dân sự mà cụ thể là hợp đồng góp hụi.

[3] Về thẩm quyền giải quyết: Căn cứ địa chỉ bị đơn, đối chiếu với quy định

của pháp luật tại Khoản 3 Điều 26; Điểm a Khoản 1 Điều 35; Điểm a khoản 1

Điều 39 của Bộ Luật Tố tụng Dân sự; thì vụ án thuộc thẩm quyền giải quyết của

Toà án nhân dân huyện Châu Thành, tỉnh An Giang.

[4] Về thời hiệu khởi kiện: Căn cứ danh sách hụi do nguyên đơn cung cấp;

Biên bản lấy lời khai của bà T T T M ngày 08-3-2018 và Biên bản bản lấy lời

khai của bà P T Y ngày 15-3-2018. Ngày 08-01-2018, nguyên đơn khởi kiện.

Đối chiếu với quy định của pháp luật tại Điều 429; Điểm d khoản 1 Điều 688

của Bộ Luật Dân sự năm 2015; khoản 1 Điều 184 của Bộ Luật Tố tụng Dân sự;

Thì vụ án còn trong thời hiệu khởi kiện.

[5] Về nội dung giải quyết yêu cầu của đương sự:

Căn cứ danh sách hụi do nguyên đơn cung cấp (bút lục 02, 03);

Căn cứ Biên bản lấy lời khai bà T T T M ngày 08-3-2018 (bút lục 24 – 26);

Căn cứ Biên bản lấy lời khai bà P T Y ngày 15-3-2018 (bút lục 27 – 29),

Từ các căn cứ trên có cơ sở kết luận giữa nguyên đơn bà M và bị đơn bà Y

có phát sinh quan hệ hợp đồng góp hụi, việc góp hụi này đã không kết thúc mà

bị bể hụi vào tháng 11/2017 âm lịch.

Tại đơn khởi kiện nguyên đơn trình bày số tiền nợ hụi là 42.500.000đ và

yêu cầu bị đơn trả lại số tiền này, không yêu cầu tính lãi. Tại biên bản lấy lời

khai nguyên đơn trình bày số tiền nợ hụi là 42.500.000đ. Tại phiên tòa, nguyên

đơn chỉ yêu cầu bị đơn trả lại số tiền đóng hụi sống là 49.980.000đ, tự nguyện

đồng ý khấu trừ 14.000.000đ tiền hụi chết còn nợ bị đơn, còn lại là 35.980.000đ,

không yêu cầu tính lãi.

Bị đơn trình bày số tiền đóng hụi sống của nguyên đơn là 49.980.000đ, bị

đơn đồng ý trả cho nguyên đơn số tiền này nhưng yêu cầu được khấu trừ tiền hụi

chết nguyên đơn còn nợ là 14.000.000đ, bị đơn yêu cầu được bán tài sản trả nợ

dẫn đến phát sinh tranh chấp.

Quá trình giải quyết vụ án nguyên đơn, bị đơn không tranh chấp hiệu lực

của hợp đồng góp hụi. Nguyên đơn chỉ yêu cầu bị đơn trả lại số tiền hụi sống đã đóng, không yêu cầu tính lãi. Do đó, Hội đồng xét xử không xem xét hiệu lực của hợp đồng góp hụi.

Quá trình giải quyết vụ án nguyên đơn, bị đơn thống nhất số tiền đóng hụi

sống của nguyên đơn các dây hụi là 49.980.000đ. Tại phiên tòa, nguyên đơn chỉ yêu cầu bị đơn trả lại số tiền đóng hụi sống là 49.980.000đ, tự nguyện đồng ý khấu trừ 14.000.000đ tiền hụi chết còn nợ bị đơn; nguyên đơn chỉ yêu cầu bị đơn trả lại số tiền nợ hụi là 35.980.000đ, không yêu cầu tính lãi.

[5.1] Xét yêu cầu của nguyên đơn bà T T T M: Xét mối quan hệ tranh chấp

trên, Hội đồng xét xử nhận thấy phía bị đơn là người có lỗi, không thực hiện đúng nghĩa vụ của chủ hụi, dẫn đến dây hụi bị bể hụi. Nguyên đơn yêu cầu bị đơn trả lại số tiền hụi sống đã đóng, không yêu cầu tính lãi. Việc vi phạm này đã ít nhiều làm ảnh hưởng đến quyền và lợi ích hợp pháp của nguyên đơn. Do đó, yêu cầu của nguyên đơn buộc bị đơn phải thanh toán một lần số tiền nợ hụi là 35.980.000đ là hoàn toàn có căn cứ và phù hợp với quy định của pháp luật tại Điều 471 của Bộ Luật Dân sự năm 2015 và Các Điều 14, 15, 17, 21, 27 và 29 của Nghị định số 144/2006/NĐ-CP ngày 27-11-2006 của Chính phủ nên được Hội đồng xét xử chấp nhận.

[5.2] Đối với bị đơn bà P T Y trình bày: Thống nhất và đồng ý trả cho

nguyên đơn số tiền nợ hụi là 35.980.000đ, nhưng không tham gia hòa giải và vắng mặt tại phiên tòa. Do đó, bị đơn bà Y phải chịu hậu quả pháp lý của việc không tham gia hòa giải, không tham gia phiên tòa.

[6] Về án phí: Đối chiếu với quy định của pháp luật tại khoản 1 Điều 147

của Bộ Luật Tố tụng Dân sự; khoản 2 Điều 26 của Nghị quyết số 326/2016/NQ-UBTVQH14 ngày 30-12-2016, của Ủy Ban Thường vụ Quốc hội khóa XIV Quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Toà án.

Do chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn bà M, nên bà M không

phải chịu án phí dân sự sơ thẩm. Hoàn trả cho nguyên đơn bà M 1.087.000đ (một triệu không trăm tám mươi bảy ngàn đồng) tiền tạm ứng án phí đã nộp theo biên lai thu tiền tạm ứng án phí số 0003257 ngày 18-01-2018 của Chi Cục Thi hành án Dân sự huyện Châu Thành, tỉnh An Giang.

Do chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn, buộc bị đơn bà Y có

nghĩa vụ trả lại nguyên đơn bà M 35.980.000đ nên bị đơn bà Y phải chịu 1.799.000đ (một triệu bảy trăm chín mươi chín ngàn đồng) án phí dân sự sơ thẩm.

[7] Về quyền kháng cáo: Đối chiếu với quy định của pháp luật tại Điều 271

và Điều 273 của Bộ Luật Tố tụng Dân sự.

Nguyên đơn bà T T T M có mặt tại phiên tòa có quyền kháng cáo bản án

trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án (12-9-2018).

Bị đơn bà P T Y vắng mặt tại phiên tòa có quyền kháng cáo bản án trong

hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được tống đạt bản án hoặc bản án được niêm yết.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ vào:

Khoản 3 Điều 26; Điểm a khoản 1 Điều 35; Điểm a khoản 1 Điều 39;

khoản 1 Điều 147; khoản 1 Điều 184; Các Điều 227, 228, 266, 271 và 273 của

Bộ Luật Tố tụng Dân sự;

Điều 429; Điều 471; Điểm d khoản 1 Điều 688 của Bộ Luật Dân sự năm

2015;

Các Điều 14, 15, 17, 21, 27 và 29 của Nghị định số 144/2006/NĐ-CP ngày

27-11-2006 của Chính phủ;

khoản 2 Điều 26 của Nghị quyết số 326/2016/NQ-UBTVQH14 ngày 30-

12-2016, của Ủy Ban Thường vụ Quốc hội khóa XIV Quy định về mức thu,

miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Toà án,

Xử:

[1] Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn bà T T T M.

[2] Buộc bị đơn bà Phan Thị Yến phải trả một lần cho nguyên đơn bà T T T

M số tiền nợ hụi là 35.980.000đ (ba mươi lăm triệu chín trăm tám mươi ngàn

đồng).

[3] Kể từ ngày bản án, quyết định có hiệu lực pháp luật (đối với các trường

hợp cơ quan thi hành án có quyền chủ động ra quyết định thi hành án) hoặc kể

từ ngày có đơn yêu cầu thi hành án của người được thi hành án (đối với các

khoản tiền phải trả cho người được thi hành án) cho đến khi thi hành xong, tất cả

các khoản tiền, hàng tháng bên phải thi hành án còn phải chịu khoản tiền lãi của

số tiền còn phải thi hành án theo mức lãi suất quy định tại khoản 2 Điều 468 của

Bộ Luật Dân sự năm 2015.

[4] Về án phí:

Hoàn trả cho nguyên đơn bà T T T M 1.087.000đ (một triệu không trăm

tám mươi bảy ngàn đồng) tiền tạm ứng án phí đã nộp theo biên lai thu tiền tạm

ứng án phí số 0003257 ngày 18-01-2018 của Chi Cục Thi hành án Dân sự huyện

Châu Thành, tỉnh An Giang.

Bị đơn bà P T Y phải chịu 1.799.000đ (một triệu bảy trăm chín mươi chín

ngàn đồng) án phí dân sự sơ thẩm.

[5] Về quyền kháng cáo:

Nguyên đơn bà T T T M có mặt tại phiên tòa có quyền kháng cáo bản án

trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án (12-9-2018).

Bị đơn bà P T Y vắng mặt tại phiên tòa có quyền kháng cáo bản án trong

hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được tống đạt bản án hoặc bản án được niêm yết.

Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật

thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại Các điều 6, 7 và 9 Luật thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo qui định tại Điều 30 Luật thi hành án dân sự.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

Cỡ chữ