- Tranh chấp gì? Tranh chấp về xác định cha, mẹ cho con hoặc con cho cha mẹ — án hôn nhân và gia đình — "Tranh chấp xác định cha cho con"
- Tòa quyết gì? Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn: Xác định ông Huỳnh Hải L, sinh ngày 05/9/1978 không phải là cha đẻ của Huỳnh Bảo L1, sinh ngày 17/9/2012.
- Căn cứ chính? Điều 12 NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…; Điều 147 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 2 Luật Thi hành án dân sự
| TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN 12 THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Bản án số: 1480/2022/HNGĐ-ST Ngày: 15 tháng 12 năm 2022 V/v tranh chấp xác định cha cho con |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN 12, THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa: Bà Lê Thị Mỹ Kim;
Các Hội thẩm nhân dân:
1. Ông Nguyễn Văn Quản;
2. Bà Nguyễn Thị Vân;
- Thư ký phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Mỹ Hạnh là Thư ký Tòa án nhân dân Quận 12, Thành phố Hồ Chí Minh.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân Quận 12, Thành phố Hồ Chí Minh tham gia phiên tòa: Bà Lường Thị Lan – Kiểm sát viên.
Ngày 15 tháng 12 năm 2022 tại Phòng xử án trụ sở Tòa án nhân dân Quận 12, Thành phố Hồ Chí Minh xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số: 1017/2022/TLST–HNGĐ ngày 04 tháng 10 năm 2022 về “V/v tranh chấp xác định cha cho con”, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 1057/2022/QĐXXST-HNGĐ ngày 24 tháng 11 năm 2022, giữa các đương sự:
1. Nguyên đơn: Ông Huỳnh Hải L, sinh năm 1978;
Nơi cư trú: 99/5 Tổ A, Khu phố B, phường C, Quận 12, Thành phố Hồ Chí Minh.
(có Đơn đề nghị xét xử vắng mặt).
2. Bị đơn: Bà Hoàng Thị V, sinh năm 1982;
Nơi thường trú: 99/5 Tổ A, Khu phố B, phường C, Quận 12, Thành phố Hồ Chí Minh;
Nơi đang sinh sống: 47/38 Tổ D, Khu phố E, phường C, Quận 12, Thành phố Hồ Chí Minh.
(có Đơn đề nghị xét xử vắng mặt).
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Trong đơn khởi kiện, bản khai, biên bản thì nguyên đơn – ông Huỳnh Hải L trình bày:
Ông và bà Hoàng Thị V ly hôn theo Quyết định công nhận thuận tình ly hôn và sự thỏa thuận của các đương sự số: 519/2021/QĐST-HNGĐ ngày 18/5/2021 của Tòa án nhân dân Quận 12, Thành phố Hồ Chí Minh.
Theo quyết định này, về con chung: “Giao 02 (hai) người con Huỳnh Bảo N (sinh ngày 25/4/2008) và Huỳnh Bảo L1(sinh ngày 17/9/2012) cho bà Hoàng Thị V trực tiếp nuôi dưỡng. Ông cấp dưỡng nuôi con mỗi tháng cho mỗi trẻ 1.500.000 (một triệu năm trăm ngàn) đồng/tháng ...”.
Trong khoảng thời gian chung sống, giữa ông và bà Hoàng Thị V có xảy ra mâu thuẫn, nên cả hai quyết định ly hôn. Trước khi ly hôn, ông có nghe về mối quan hệ huyết thống giữa ông với người con – Huỳnh Bảo L1. Chính vì thế, ông tiến hành yêu cầu Trung tâm DNA TESTINGS xét nghiệm huyết thống giữa ông với người con – Huỳnh Bảo L1 (sinh ngày 17/9/2012). Kết quả xét nghiệm của Trung tâm DNA TESTINGS: Huỳnh Bảo L1 (sinh năm 2012) và Huỳnh Hải L (sinh năm 1978) không có quan hệ huyết thống với cha – con.
Nay, ông yêu cầu Tòa án xác định ông không phải là cha đẻ của Huỳnh Bảo L1, sinh ngày 17/9/2012. Ông tự nguyện chịu chi phí giám định.
Ngoài ra, ông không có ý kiến yêu cầu nào khác.
Tại bản khai thì bị đơn – bà Hoàng Thị V trình bày:
Trước đây, bà và ông Huỳnh Hải L chung sống với nhau, có đăng ký kết hôn theo quy định của pháp luật. Tuy nhiên, do cuộc sống không hạnh phúc, mục đích hôn nhân không đạt được. Do đó, bà và ông L ly hôn theo Quyết định công nhận thuận tình ly hôn và sự thỏa thuận của các đương sự số: 519/2021/QĐST-HNGĐ ngày 18/5/2021 của Tòa án nhân dân Quận 12, Thành phố Hồ Chí Minh.
Theo quyết định này, về con chung: “Giao 02 (hai) người con Huỳnh Bảo N (sinh ngày 25/4/2008) và Huỳnh Bảo L1(sinh ngày 17/9/2012) cho bà trực tiếp nuôi dưỡng. Ông Huỳnh Hải L cấp dưỡng nuôi con mỗi tháng cho mỗi trẻ 1.500.000 (một triệu năm trăm ngàn) đồng/tháng ...”.
Người con chung trên giấy tờ Huỳnh Bảo L1, sinh ngày 17/9/2012 không có quan hệ huyết thống với ông L.
Nay, ông Huỳnh Hải L khởi kiện tại Tòa án, yêu cầu Tòa án xác định ông Huỳnh Hải L không phải là cha ruột của Huỳnh Bảo L1, sinh ngày 17/9/2012 thì bà đồng ý với yêu cầu khởi kiện của ông L. Đề nghị Tòa án giải quyết theo quy định của pháp luật. Đồng thời, bà xin vắng mặt trong suốt quá trình giải quyết vụ án của Tòa án.
Ngoài ra, bà không có ý kiến yêu cầu nào khác.
Sau khi thụ lý vụ án, Tòa án tiến hành tống đạt văn bản tố tụng và triệu tập các đương sự để tham gia về phiên họp kiểm tra việc giao nộp, tiếp cận, công khai chứng cứ và hòa giải, nhưng bị đơn vắng mặt. Do đó, vụ án không tiến hành hòa giải được nên đưa ra xét xử công khai tại phiên tòa.
Tại phiên tòa hôm nay:
Nguyên đơn có Đơn đề nghị xét xử vắng mặt, giữ nguyên yêu cầu đã trình bày trong quá trình tố tụng và tự nguyện chịu toàn bộ chi phí giám định gen (ADN) của Phân viện Khoa học hình sự tại Thành phố Hồ Chí Minh – Bộ Công an.
Bị đơn có Đơn đề nghị xét xử vắng mặt, giữ nguyên ý kiến đã trình bày trong bản khai.
Do đó, Tòa án vẫn tiến hành xét xử vụ án vắng mặt theo quy định tại Khoản 1 Điều 227, Điều 228 của Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015.
Kiểm sát viên tham gia phiên tòa phát biểu ý kiến về việc:
- Tuân theo pháp luật tố tụng: Kể từ khi thụ lý vụ án cho đến trước thời điểm Hội đồng xét xử nghị án thì Thẩm phán, Hội đồng xét xử, Thư ký phiên tòa tuân theo quy định của pháp luật Tố tụng trong quá trình giải quyết vụ án; đương sự chấp hành theo quy định của pháp luật.
- Giải quyết vụ án: Đề nghị Hội đồng xét xử chấp nhận yêu cầu của nguyên đơn.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Căn cứ vào tài liệu, chứng cứ đã được xem xét tại phiên tòa, kết quả tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định:
Về quan hệ tranh chấp và thẩm quyền giải quyết vụ án:
Các đương sự tranh chấp với nhau về việc không có quan hệ huyết thống cha – con. Đây là quan hệ pháp luật “V/v tranh chấp xác định cha cho con”. Bị đơn có nơi cư trú tại Quận 12, Thành phố Hồ Chí Minh.
Căn cứ vào Điều 28, 35, 36, 39 của Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015 nên vụ án thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân Quận 12, Thành phố Hồ Chí Minh.
Về yêu cầu của đương sự:
Căn cứ vào lời khai của đương sự; căn cứ vào giấy tờ, tài liệu do đương sự cung cấp và Tòa án thu thập được có đủ cơ sở xác định:
Ông Huỳnh Hải L – bà Hoàng Thị V ly hôn theo Quyết định công nhận thuận tình ly hôn và sự thỏa thuận của các đương sự số: 519/2021/QĐST-HNGĐ ngày 18/5/2021 của Tòa án nhân dân Quận 12, Thành phố Hồ Chí Minh. Theo quyết định này, về con chung: “Giao 02 (hai) người con Huỳnh Bảo N (sinh ngày 25/4/2008), Huỳnh Bảo L1(sinh ngày 17/9/2012) cho bà Hoàng Thị V trực tiếp nuôi dưỡng. Ông Huỳnh Hải L cấp dưỡng nuôi con mỗi tháng cho mỗi trẻ 1.500.000 (một triệu năm trăm ngàn) đồng/tháng ...”.
Trước khi khởi kiện, ông L đã thực hiện giám định ADN. Theo kết quả xét nghiệm của Trung tâm DNA TESTINGS thì Huỳnh Hải L và Huỳnh Bảo L1 không cùng huyết thống cha con. Do đó, ông Huỳnh Hải L yêu cầu Tòa án xác định ông Huỳnh Hải L không phải là cha đẻ của Huỳnh Bảo L1, sinh ngày 17/9/2012.
Đối với ý kiến của bà Hoàng Thị V đồng ý với yêu cầu của ông Huỳnh Hải L. Đề nghị Tòa án giải quyết vụ án theo quy định của pháp luật.
Hội đồng xét xử xét thấy:
Theo quy định tại Điều 88, 89 của Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014 thì: Trong trường hợp cha, mẹ không thừa nhận con thì phải có chứng cứ và phải được Tòa án xác định. Người được nhận là cha, mẹ của một người có thể yêu cầu Tòa án xác định người đó không phải là con mình.
Ngày 25/10/2022 Tòa án nhân dân Quận 12, Thành phố Hồ Chí Minh ban hành Quyết định trưng cầu giám định Phân viện Khoa học hình sự tại Thành phố Hồ Chí Minh – Bộ Công an thực hiện giám định gen (ADN) xác định ông Huỳnh Hải L, sinh năm 1978 có cùng quan hệ huyết thống cha – con với Huỳnh Bảo L1, sinh ngày 17/9/2012 hay không.
Căn cứ vào tài liệu, chứng cứ đã được xem xét tại phiên tòa, kết quả tranh tụng tại phiên tòa có đủ cơ sở để kết luận: Theo Kết luận giám định số: 6141/KL-KTHS ngày 18/11/2022 của Phân viện Khoa học hình sự tại Thành phố Hồ Chí Minh – Bộ Công an thì: Ông Huỳnh Hải L không phải cha ruột của bé Huỳnh Bảo L1. Do đó, xét yêu cầu của ông Huỳnh Hải L về việc xác định ông L không phải là cha đẻ của Huỳnh Bảo L1, sinh ngày 17/9/2012 có cơ sở và căn cứ pháp lý, nên chấp nhận.
Về chí phí giám định gen (ADN): Nguyên đơn tự nguyện chịu toàn bộ chí phí giám định gen (ADN) đã được thực hiện tại Phân viện Khoa học hình sự tại Thành phố Hồ Chí Minh – Bộ Công an, nên Hội đồng xét xử ghi nhận sự tự nguyện này của nguyên đơn.
Về án phí: Theo Điều 12 Nghị quyết số: 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án. Nguyên đơn được miễn nộp tiền án phí. Hoàn trả cho nguyên đơn tiền tạm ứng án phí đã nộp theo Biên lai thu tạm ứng án phí, lệ phí Tòa án số: AA/2021/0023946 ngày 04/10/2022 của Chi cục Thi hành án dân sự Quận 12, Thành phố Hồ Chí Minh.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ vào các Điều 28, 35, 36, 39, 147, 227, 228, 273 của Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015;
Căn cứ vào Điều 88, Khoản 2 Điều 89 của Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014;
Căn cứ Điều 12 của Nghị quyết số: 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án;
Căn cứ vào các Điều 2, 6, 7, 7a, 7b, 9, 30 của Luật Thi hành án dân sự (được sửa đổi, bổ sung năm 2014).
1. Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn: Xác định ông Huỳnh Hải L, sinh ngày 05/9/1978 không phải là cha đẻ của Huỳnh Bảo L1, sinh ngày 17/9/2012.
2. Về chi phí giám định: Ông Huỳnh Hải L tự nguyện chịu toàn bộ. Ông L đã nộp đủ chi phí giám định.
3. Về án phí: Ông Huỳnh Hải L được miễn nộp tiền án phí. Hoàn trả cho ông L tiền tạm ứng án phí đã nộp 300.000 (ba trăm nghìn) đồng tại Chi Cục thi hành án dân sự có thẩm quyền theo Biên lai thu tạm ứng án phí, lệ phí Tòa án số: AA/2021/0023946 ngày 04/10/2022 của Chi cục Thi hành án dân sự Quận 12, Thành phố Hồ Chí Minh.
4. Quyền kháng cáo:
Đương sự vắng mặt tại phiên tòa có quyền kháng cáo trong thời hạn 15 (mười lăm) ngày, kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết.
5. Quyền yêu cầu thi hành án, nghĩa vụ thi hành án, thời hiệu thi hành án:
Trường hợp bản án được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự; người được thi hành án, người phải thi hành án có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7, 7a, 7b, 9 Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật Thi hành án dân sự (được sửa đổi, bổ sung năm 2014).
| Nơi nhận: - TAND Tp.HCM; - VKSND Quận 12; - Chi cục THADS Quận 12; - UBND Phường X, quận Y, Tp. HCM; - Các đương sự; - Lưu hồ sơ vụ án. | TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Lê Thị Mỹ Kim |