vanban.org

Bản án 148/2023/HS-ST — Hình sự

TAND TP. Cà Mau, tỉnh Cà Mau Tuyên án 29/08/2023 Hình sự Sơ thẩm
Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Tuyên bố bị cáo Trần Công T phạm tội “Trộm cắp tài sản”.

Xử phạt bị cáo Trần Công T 09 (chín) tháng tù. Thời hạn tù được tính kể từ ngày 13/7/2023. Buộc bị cáo Trần Công T bồi thường thiệt hại về tài sản cho bị hại Đặng Văn A số tiền 12.500.000 đồng (Mười hai triệu năm trăm ngàn đồng) Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? án hình sự — "Trộm cắp tài sản - phạm tội trộm cắp tài sản (điều 173 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS năm 2015)"
  • Tòa quyết gì? Tuyên bố bị cáo Trần Công T phạm tội “Trộm cắp tài sản”.
  • Căn cứ chính? Điều 51 Bộ luật Hình sự; Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự
TÒA ÁN NHÂN DÂN
THÀNH PHỐ CÀ MAU
TỈNH CÀ MAU

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 148/2023/HS-ST
Ngày 29 – 8 – 2023

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ CÀ MAU, TỈNH CÀ MAU

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Lê Thị Thu.

Các Hội thẩm nhân dân:

Ông Huỳnh Hoàng Khởi.

Ông Nguyễn Minh Mẫn.

- Thư ký phiên tòa: Ông Trần Đình Chưởng, là Thư ký Tòa án nhân dân thành phố Cà Mau, tỉnh Cà Mau.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Cà Mau, tỉnh Cà Mau tham gia phiên tòa: Ông Đoàn Đắc Bắc – Kiểm sát viên.

Ngày 29 tháng 8 năm 2023 tại trụ sở Tòa án nhân dân thành phố Cà Mau, tỉnh Cà Mau xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số 159/2023/TLST-HS ngày 10 tháng 8 năm 2023 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 148/2023/QĐXXST-HS ngày 15 tháng 8 năm 2023 đối với bị cáo:

Họ và tên: Trần Công T, sinh ngày 26/10/1972; tại Bình Dương; Nơi ĐKNKTT: khu phố C, phường N, thành phố T, tỉnh Bình Dương; chổ ở tạm trú: khóm N, phường M, thành phố C, tỉnh Cà Mau; nghề nghiệp: Làm thuê; trình độ học vấn: 9/12; dân tộc: Kinh; giới tính: Nam; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; con ông: Trần Văn H (đã chết); con bà: Nguyễn Thị S (còn sống), vợ, con: chưa có; Tiền án, tiền sự: Không.

Bị cáo bị tạm giam từ ngày 13/7/2023 cho đến nay (Bị cáo có mặt).

- Bị hại:

Ông Đặng Văn A – sinh năm 1987 (có mặt);

Nơi cư trú: đường N, khóm B, phường M, thành phố C, tỉnh Cà Mau.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Vào khoảng 17 giờ ngày 03/6/2023 Trần Công T lợi dụng ông Đặng Văn A về quê, ông Mai Chí C (người được ông A giao trông coi tài sản) kêu T trông coi xưởng để C đi tiếp khách thì T đồng ý. Khi ông C vừa đi khỏi xưởng gỗ Hoàng A thì T nảy sinh ý định trộm tài sản của ông A và bỏ trốn. Thực hiện ý định, T lấy 01 Ipad màu vàng và 01 xe mô tô nhãn hiệu Wave Anpha biển số kiểm soát 69FC1-167.02 đậu phía trong nhà và điều khiển xe vừa trộm được chạy đến thành phố Hồ Chí Minh. Trong ngày 04/6/2023 tại thành phố Hồ Chí Minh khi T mở cốp xe thấy 01 căn cước công dân của ông Mai Chí C còn để trong xe, nên T lấy cất giữ nhưng sau đó T đã làm mất. Đối với xe mô tô T đã bán cho 01 người đi đường khoảng 40 tuổi với giá 3.800.000 đồng và bán Ipad màu vàng cho tiệm điện thoại, nhưng cũng không nhớ địa chỉ và bán được 2.000.000 đồng, tổng số tiền bán được 5.800.000 đồng bị cáo đã tiêu sài hết.

Đối với ông A đến tối ngày 03/6/2023 được ông C điện cho biết là T lấy trộm tài sản, ngày 05/6/2023 ông A đi trình báo. Cho đến 08 giờ 10 phút ngày 13/7/2023 Công an truy tìm được T đang ở ấp H, xã L, thị xã G, tỉnh Tiền Giang. Tại đây T đã thừa nhận toàn bộ hành vi trộm tài sản của ông A và lực lượng Công an đã thu giữ quần, áo của T mặc trong lúc trộm tài sản.

Theo biên bản cho Trần Công T kiểm tra đoạn Camera lúc 15 giờ 55 phút ngày 13/7/2023 thể hiện:

+ Thời điểm 17 giờ 17 phút 05 giây trên Camera hiển thị có đối tượng mặc áo sơ mi ngắn tay, sọc trắng đen, quần dài màu xám mở tủ lấy Ipad.

+ Đối tượng mặc áo khoác xám, đem túi đồ để lên xe Wave 110 màu đỏ BKS 69FC1-167.02 điều khiển xe rời khỏi cơ sở gỗ Hoàng A lúc 17 giờ 29 phút 25 giây. T thừa nhận hình ảnh T đang thực hiện hành vi trộm tài sản.

Theo Bản kết luận định giá số 62/KL-HĐĐGTS ngày 12/7/2023 của Hội đồng định giá tài sản thành phố Cà Mau xác định:

+ 01 xe mô tô hiệu Honda Wave Anpha màu đỏ, BKS 69FC1-167.02 thời điểm ngày 03/6/2023 đã qua sử dụng có giá 10.000.000 đồng.

+ 01 Ipad Air màu vàng, bộ nhớ trong 64GB 02 thời điểm ngày 03/6/2023 đã qua sử dụng có giá 2.500.000 đồng.

Về vật chứng thu giữ và xử lý trong vụ án gồm:

+ 01 USP được thu từ việc trích camera lưu kèm hồ sơ vụ án.

+ 01 áo sơ mi ngắn tay, sọc ca rô trắng đen.

+ 01 quần kaki màu xám, lưng quần có chữ New Fashion.

+ 01 áo khoác màu xám, sau lưng áo có dòng chữ adidas.

Cáo trạng số 160/CT-VKS ngày 09/8/2023 của Viện kiểm sát nhân dân thành phố Cà Mau truy tố bị cáo Trần Công T về tội “Trộm cắp tài sản" theo khoản 1 Điều 173 Bộ luật hình sự.

Tại phiên tòa:

- Kiểm sát viên đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Cà Mau thực hành quyền công tố, kiểm sát xét xử vẫn giữ nguyên quyết định truy tố đối với Trần Công T theo cáo trạng số: 160/CT-VKS ngày 09 tháng 8 năm 2023 và đề nghị:

Về tội danh: Tuyên bố bị cáo Trần Công T phạm tội “Trộm cắp tài sản”.

Về hình phạt: Áp dụng khoản 1 Điều 173; điểm i, s khoản 1 Điều 51 của Bộ luật hình sự. Xử phạt bị cáo Trần Công T từ 09 tháng đến 01 năm tù.

Về vật chứng: Áp dụng Điều 47, 48 của Bộ luật hình sự; Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự. Tịch thu tiêu hủy 01 áo sơ mi ngắn tay, sọc ca rô trắng đen; 01 quần kaki màu xám, lưng quần có chữ New Fashion; 01 áo khoác màu xám, sau lưng áo có dòng chữ Adidas. Buộc bị cáo bồi thường cho bị hại số tiền 12.500.000 đồng.

- Bị cáo thừa nhận toàn bộ hành vi phạm tội và xin giảm nhẹ hình phạt.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

Trong quá trình điều tra, truy tố, bị cáo, bị hại không khiếu nại gì về các hành vi, quyết định tố tụng của Điều tra viên, Kiểm sát viên. Hội đồng xét xử xét thấy các hành vi, quyết định tố tụng của Điều tra viên, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố là hợp pháp, được thực hiện đúng theo trình tự, thủ tục của Bộ luật tố tụng hình sự quy định.

Quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo khai nhận: Vào lúc 17 giờ 17 phút ngày 03 tháng 6 năm 2023, Trần Công T lợi dụng khi ông Mai Chí C được ông Đặng Văn A giao quản lý tài sản vắng mặt tại xưởng gỗ Hoàng A thuộc đường Ngô Quyền, khóm 5, phường 1, thành phố Cà Mau, tỉnh Cà Mau. T có hành vi trộm cắp 01 xe mô tô hiệu Honda Wave Anpha màu đỏ, biển kiểm soát 69FC1-167.02 trị giá 10.000.000 đồng và 01 Ipad Air màu vàng, bộ nhớ trong 64GB trị giá 2.500.000 đồng. Tổng số tài sản T chiếm đoạt của ông A có tổng trị giá 12.500.000 đồng nhằm mục đích tiêu xài cá nhân.

Lời khai nhận của bị cáo tại phiên tòa đối chiếu với lời khai của bị cáo tại Cơ quan điều tra, lời khai của bị hại cũng như các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án là hoàn toàn phù hợp.

Hành vi của bị cáo gây ra là nguy hiểm cho xã hội, đã trực tiếp xâm phạm đến quyền sở hữu tài sản của bị hại. Bị cáo là người có đủ năng lực trách nhiệm hình sự, biết việc chiếm đoạt tài sản của người khác là vi phạm pháp luật nhưng vì mục đích tư lợi cá nhân bị cáo đã thực hiện tội phạm hoàn thành với lỗi cố ý trực tiếp. Do đó, Viện Kiểm sát nhân dân thành phố Cà Mau truy tố bị cáo T về tội “Trộm cắp tài sản” theo quy định tại khoản 1 Điều 173 Bộ luật hình sự là có căn cứ.

Hành vi của bị cáo không những đã xâm phạm đến tài sản của người khác được pháp luật bảo vệ mà còn làm mất trật tự trị an tại địa phương, làm hoang mang trong quần chúng nhân dân về việc quản lý tài sản. Vì vậy cần có mức án nghiêm khắc để có thời gian giáo dục, cải tạo bị cáo trở thành người có ích cho xã hội.

Tuy nhiên, Hội đồng xét xử có xem xét tại phiên tòa bị cáo thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải; phạm tội lần đầu thuộc trường hợp ít nghiêm trọng; bị cáo chưa tiền án, tiền sự nên Hội đồng xét xử có xem xét giảm nhẹ cho bị cáo khi lượng hình.

Về trách nhiệm dân sự: Quá trình điều tra bị hại ông Đặng Văn A yêu cầu Trần Công T bồi thường giá trị chiếc xe là 10.000.000 đồng và Ipad là 2.500.000 đồng. Xét thấy, tài sản theo định giá có tổng giá trị là 12.500.000 đồng và bị hại yêu cầu bị cáo bồi thường nên buộc bị cáo bồi thường cho bị hại số tiền 12.500.000 đồng là phù hợp.

Về vật chứng:

01 USP được thu từ việc trích camera cần tiếp tục lưu kèm hồ sơ vụ án.

Đối với 01 áo sơ mi ngắn tay, sọc ca rô trắng đen; 01 quần kaki màu xám, lưng quần có chữ New Fashion; 01 áo khoác màu xám, sau lưng áo có dòng chữ Adidas là tài sản của bị cáo. Xét thấy, tại tòa bị cáo không yêu cầu nhận lại và hiện tài sản không có giá trị sử dụng nên cần tịch thu tiêu hủy.

Đối với ông Đặng Văn A không yêu cầu Trần Công T hoàn trả số tiền ứng trước là 1.700.000 đồng và ông Mai Chí C không yêu cầu T bồi thường việc T làm mất căn cước công dân, nên Hội đồng xét xử không đặt ra xem xét.

Án phí: Buộc bị cáo phải chịu án phí hình sự, án phí dân sự theo quy định pháp luật.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

- Căn cứ khoản 1 Điều 173; điểm i, s khoản 1 Điều 51 của Bộ luật hình sự;

Tuyên bố bị cáo Trần Công T phạm tội “Trộm cắp tài sản”.

Xử phạt bị cáo Trần Công T 09 (chín) tháng tù. Thời hạn tù được tính kể từ ngày 13/7/2023.

- Căn cứ Điều 47, 48 Bộ luật hình sự; Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự;

+ Buộc bị cáo Trần Công T bồi thường thiệt hại về tài sản cho bị hại Đặng Văn A số tiền 12.500.000 đồng (Mười hai triệu năm trăm ngàn đồng)

Kể từ ngày bị hại có đơn yêu cầu thi hành án, nếu bị cáo không thi hành xong khoản tiền trên, thì còn phải trả thêm khoản lãi phát sinh theo mức lãi suất được quy định tại khoản 2 Điều 468 của Bộ luật dân sự tương ứng với số tiền và thời gian chậm thi hành.

+ Tịch thu tiêu hủy: 01 áo sơ mi ngắn tay, sọc ca rô trắng đen; 01 quần kaki màu xám, lưng quần có chữ New Fashion; 01 áo khoác màu xám, sau lưng áo có dòng chữ Adidas.

- Căn cứ Điều 136 của Bộ luật tố tụng hình sự; Điều 23 Nghị quyết số: 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.

Bị cáo phải nộp án phí hình sự sơ thẩm là 200.000 đồng; án phí dân sự sơ thẩm 625.000 đồng. Tổng số tiền án phí bị cáo phải nộp 825.000 đồng (Chưa nộp).

Bị cáo, bị hại có quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án.

Trường hợp bản án được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thoả thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7, 7a, 7b và 9 Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật Thi hành án dân sự.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

Cỡ chữ