vanban.org

Bản án 148/2023/HS-ST — Hình sự

TAND Q. Nam Từ Liêm, TP. Hà Nội Tuyên án 28/06/2023 Hình sự Sơ thẩm
Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? án hình sự — "Chu Văn T phạm tội Trộm cắp tài sản - phạm tội trộm cắp tài sản (điều 173 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS năm 2015)"
  • Căn cứ chính? Điều 173 Bộ luật Hình sự; Điều 38 Bộ luật Hình sự; Điều 51 Bộ luật Hình sự
TÒA ÁN NHÂN DÂN
QUẬN NAM TỪ LIÊM
THÀNH PHỐ HÀ NỘI

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 148/2023/HS-ST
Ngày: 28/06/2023

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN NAM TỪ LIÊM, THÀNH PHỐ HÀ NỘI

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Nguyễn Trung Lập

Các Hội thẩm nhân dân: Ông Đoàn Văn Minh

Ông Trần Quốc Sơn

- Thư ký phiên tòa: Bà Hoàng Kim Yến – Thư ký Tòa án nhân dân quận Nam Từ Liêm, thành phố Hà Nội.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân quận Nam Từ Liêm, thành phố Hà Nội tham gia phiên tòa: Ông Lương Duy Bằng - Kiểm sát viên.

Ngày 28 tháng 6 năm 2023 tại Trụ sở Tòa án nhân dân quận Nam Từ Liêm xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số 148/2023/TLST-HS ngày 7 tháng 6 năm 2023, Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 153/QĐXX ngày 13/6/2023 đối với bị cáo:

Chu Văn T, sinh năm 1982; HKTT và nơi ở: Tổ dân phố T, phường T, B, H; Nghề nghiệp: Lao động tự do; trình độ văn hoá: 12/12; Dân tộc: Kinh; giới tính: Nam; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; Con ông: Chu Văn H, sinh năm 1950 và bà Nguyễn Thị K, sinh năm 1955. Tiền án, tiền sự: Theo danh chỉ bản số 000000275 lập ngày 03/04/2023 tại Công an quận Nam Từ Liêm và lý lịch cá nhân, bị cáo không có tiền án, tiền sự. Nhân thân bị cáo có các bản án :

- Năm 2002, TAND huyện Từ Liêm xử 9 tháng tù về tội Trộm cắp tài sản (trị giá 620.000 đồng) kể từ ngày 23/5/2002. Ra trại ngày 23/02/2003, đã nộp án phí vào ngày 15/4/2003 (đã xóa án tích).

- Năm 2014, TAND quận Bắc Từ Liêm xử 54 tháng tù về tội Cướp giật tài sản (trị giá 3.300.000 đồng) kể từ ngày 07/02/2014. Ra trại ngày 07/9/2017, đã nộp án phí ngày 04/8/2014 (đã xóa án tích).

- Năm 2019, TAND huyện Đan Phượng xử 10 tháng tù về tội Trộm cắp tài sản (trị giá 819.000 đồng) kể từ ngày 31/7/2019. Ra trại ngày 31/5/2020, đã nộp án phí ngày 01/3/2021 (đã xóa án tích)

Bị cáo bị tạm giữ, tạm giam từ ngày 23/03/2023. Hiện đang bị tạm giam tại Trại tạm giam số 1- Công an thành phố Hà Nội, có mặt.

Bị hại:

Anh: Trần Văn T, sinh năm 1993; HKTT: Thôn Đ, V, Y, V, vắng mặt.

Anh: Vũ Tiến B, sinh năm 1992; HKTT: Thôn M, xã V, huyện B, H, vắng mặt.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Chu Văn T là đối tượng nghiện ma túy, do cần tiền tiêu xài nên T đã nảy sinh ý định đi trộm cắp tài sản. Khoảng 0 giờ 30 phút ngày 23/3/2023, T đem theo 01 cờ lê dài khoảng 200 cm, 01 đầu tròng 17-19, 01 cờ lê đầu tròng 13 và 01 kìm màu vàng làm phương tiện để trộm cắp và điều khiển xe máy nhãn hiệu Honda Wave RSX màu đỏ đen, BKS: 17B3 – 506.25 đi lang thang tại khu vực phường Xuân Phương, quận Nam Từ Liêm, Hà Nội và các khu vực lân cận tìm sở hở để trộm cắp tài sản. Khi T đi đến khu vực công trường xây dựng tại số 5 ngõ 3/8 đường Phương Canh, phường Xuân Phương, quận Nam Từ Liêm, Hà Nội, thì phát hiện tại tầng 1 của công trình có các dụng cụ thi công và không có người trông giữ. T sử dụng cờ lê, đầu tròng tháo các ốc vít lấy được 01 máy bơm ly tâm 02 tầng cánh nhãn hiệu LEPONO 2Acm150 1.5KW, màu xanh – đen và 01 mô tơ tời một pha Model: YL90L – 4, là tài sản của anh Trần Văn T (Sinh năm: 1993; HKT: Thôn Đ, V, Y, V). Sau khi trộm cắp được tài sản, T mang tài sản trộm cắp được đến bãi đất trống khu tái định cư thuộc tổ dân phố số 3, phường Xuân Phương, quận Nam Từ Liêm, Hà Nội cất giấu. Sau đó, T tiếp tục điều khiển xe máy đến thửa đất số 1249 khu đất 25,5ha xã Vân Canh, huyện Hoài Đức, Hà Nội tìm tài sản để trộm cắp. Tại đây, T đã dùng cờ lê, đầu tròng tháo ốc vít trộm cắp được 01 mô tơ máy trộn bê tông nhãn ElectricMotor Toàn phát Type: TP100-4 2,2 KW của anh Vũ Tiến B (sinh năm: 1992; HKTT: V, B, H). Sau đó, T cho chiếc mô tơ vừa trộm cắp được vào 01 giỏ nhựa màu đen, dùng dây chun buộc phía sau yên xe máy rồi điều khiển xe máy về khu vực bãi đất trống nơi cất tài sản trộm cắp trước đó để lấy tài sản mang đi tiêu thụ. Khi T đang lấy tài sản để đem đi bán thì bị tổ công tác Công an phường Xuân Phương làm nhiệm vụ phát hiện bắt giữ.

Vật chứng thu giữ: 01 cờ lê 200 mm; 01 đầu tròng 17-19; 01 cờ lê đầu tròng 13; 01 kìm màu vàng; 01 máy bơm ly tâm 02 tầng cánh nhãn hiệu LEPONO 2Acm150 1.5KW; 01 mô tơ tời một pha Model: YL90L – 4 do công ty TNHH Mạnh Quân sản xuất; 01 mô tơ máy trộn bê tông nhãn ElectricMotor Toàn phát Type: TP100-4 2,2 KW; 01 xe máy nhãn hiệu Honda Wave RSX, BKS: 17B3 – 506.25.

Tại Bản kết luận định giá tài sản số 100 ngày 05/4/2023 của Hội đồng định giá tài sản trong Tố tụng hình sự quận Nam Từ Liêm, kết luận:

- 01 máy bơm ly tâm 02 tầng cánh nhãn hiệu LEPONO 2Acm150 1.5KW, màu xanh – đen trị giá 700.000 đồng

- 01 mô tơ tời một pha Model: YL90L – 4 do công ty TNHH Mạnh Quân sản xuất trị giá 1.300.000 đồng.

- 01 mô tơ máy trộn bê tông nhãn ElectricMotor Toàn phát Type: TP100-4 2,2 KW trị giá 1.300.000 đồng.

Tổng giá trị tài sản chiếm đoạt là: 3.300.000 đồng

Tại Cơ quan điều tra, Chu Văn T khai nhận hành vi phạm tội của mình như đã nêu trên.

Đối với chiếc xe máy nhãn hiệu Honda Wave RSX, BKS: 17B3 – 506.25 thu giữ của Chu Văn T. Quá trình điều tra T khai mượn chiếc xe trên của một người bạn tên T2 (hiện không xác định được nhân thân - cùng uống Methanol với T2) từ ngày 21/3/2023. Kết quả tra cứu số máy JA32E0061182, số khung: RLHJA3229EY061227 xác định chiếc xe mang biển kiểm soát: 29P1 – 476.71, đăng ký mang tên anh Phan Thanh D (Sinh năm: 1961; Nơi thường trú: Tập thể Đ, phường M, quận C, H). Ông D khai mua và đăng ký chiếc xe máy nhãn hiệu Honda Wave RSX màu đen đỏ, BKS: 29P1 – 476.71 vào năm 2015 sử dụng đến năm 2016 thì bị mất trộm tại khu vực cổng chợ Phùng, huyện Đan Phượng, Hà Nội nhưng ông D không trình báo cơ quan Công an. Hiện tại ông D không còn giữ giấy tờ gì liên quan đến chiếc xe. Kết quả tra cứu xác định chiếc xe trên không có trong cơ sở dữ liệu xe vật chứng. Tại bản Kết luận giám định số 2797 ngày 09 tháng 5 năm 2023 của Phòng Kỹ thuật Hình sự - Công an thành phố Hà Nội xác định số khung, số máy của xe là số nguyên thủy.

Ngày 19/5/2023, Cơ quan điều tra Công an quận Nam Từ Liêm đã ra Quyết định tách hành vi và tài liệu liên quan đối với chiếc xe máy nhãn hiệu Honda Wave RSX màu đỏ - đen, BKS: 29V7 – 317.68, Số máy JA32E0061182, số khung: RLHJA3229EY061227 để tiếp tục điều tra làm rõ và xử lý sau.

Đối với hành vi trộm cắp chiếc mô tơ máy trộn bê tông nhãn ElectricMotor Toàn phát Type: TP100-4 2,2 KW của anh Vũ Tiến B ngày 23/3/2023 của T xảy ra trên địa bàn huyện Hoài Đức, Cơ quan Cảnh sát điều tra công an quận Nam Từ Liêm đã có công văn số 1051 ngày 3/4/2023 gửi Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện Hoài Đức trao đổi thẩm quyền giải quyết. Ngày 19/4/2023, Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện Hoài Đức có công văn phúc đáp đề nghị Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an quận Nam Từ Liêm tiếp tục điều tra theo thẩm quyền.

Về dân sự: Ngày 04/4/2023, Cơ quan điều tra đã ra quyết định xử lý vật chứng và tiến hành trao trả 01 máy bơm ly tâm 02 tầng cánh nhãn hiệu LEPONO 2Acm150 1.5KW, màu xanh – đen; 01 mô tơ tời một pha Model: YL90L – 4 cho anh Trần Văn T; 01 mô tơ máy trộn bê tông nhãn ElectricMotor Toàn phát Type: TP100-4 2,2 KW cho anh Vũ Tiến B là chủ sở hữu hợp pháp. Sau khi nhận lại tài sản anh T và anh B không yêu cầu bồi thường về dân sự.

Bản cáo trạng số 146/CT-VKS ngày 6/6/2023 của Viện kiểm sát nhân dân quận Nam Từ Liêm truy tố bị cáo Chu Văn T về tội “Trộm cắp tài sản” theo quy định tại khoản 1 Điều 173 Bộ luật Hình sự.

Tại phiên tòa:

Bị cáo T khai nhận hành vi phạm tội như nội dung Cáo trạng.

Đại diện Viện kiểm sát luận tội vẫn giữ nguyên quan điểm truy tố tại bản Cáo trạng và đề nghị Hội đồng xét xử xử: Áp dụng khoản 1 Điều 173; Điều 38; điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật hình sự để xử phạt bị cáo Chu Văn T từ 9 đến 12 tháng tù. Vật chứng: Tịch thu tiêu hủy: 01 cờ lê 200 mm; 01 đầu tròng 17-19; 01 cờ lê đầu tròng 13; 01 kìm màu vàng.

Lời nói sau cùng bị cáo T đề nghị Hội đồng xét xử xem xét giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an quận Nam Từ Liêm, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân quận Nam Từ Liêm, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa bị cáo không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.

Tại phiên tòa bị cáo T khai phù hợp với lời khai của bị hại, ng êi lµm chøng, Kết luận định giá tài sản vµ phï hîp víi c¸c biªn b¶n, tµi liÖu kh¸c cã trong hå s¬ vô ¸n mµ C¬ quan ®iÒu tra ®· thu thËp ®ược ®· cã ®ñ c¬ së x¸c ®Þnh: Khoảng 00 giờ 30 phút ngày 23/3/2023, tại số 5 ngõ 3/8 đường Phương Canh, phường Xuân Phương, quận Nam Từ Liêm, Hà Nội, Chu Văn T đã có hành vi trộm cắp 01 máy bơm ly tâm 02 tầng cánh nhãn hiệu LEPONO 2Acm150 1.5KW, màu xanh – đen trị giá 700.000 đồng và 01 mô tơ tời một pha Model: YL90L – 4 trị giá 1.300.000 đồng, tổng tài sản trị giá 2.000.000 đồng của anh Trần Văn T sau đó T mang đi cất giấu tại khu đất trống thuộc tổ dân phố số 3, Xuân Phương Nam Từ Liêm, Hà Nội. Sau đó T tiếp tục đến khu vực thửa đất số 1249 khu đất 25,5 ha xã Vân Canh, huyện Hoài Đức, Hà Nội, trộm cắp 01 mô tơ máy trộn bê tông nhãn ElectricMotor Toàn phát Type: TP100-4 2,2 KW trị giá 1.300.000 đồng của anh Vũ Tiến B. T quay lại nơi cất giấu tài sản đã trộm cắp trước đó để lấy đem đi tiêu thụ thì bị tổ công tác Công an phường Xuân Phương kiểm tra phát hiện bắt giữ cùng vật chứng. Tổng giá trị tài sản trộm cắp là 3.300.000 đồng. Hành vi của bị cáo Chu Văn T đã phạm tội trộm cắp tài sản theo quy định tại khoản 1 Điều 173 Bộ luật hình sự. Cáo trạng của Viện kiểm sát nhân dân quận Nam Từ Liêm truy tố bị cáo với tội danh và điều luật như trên là hoàn toàn có căn cứ theo quy định pháp luật.

Hành vi phạm tội của bị cáo Chu Văn T lµ nguy hiÓm cho x· héi, đã x©m ph¹m ®Õn quyÒn së h÷u tµi s¶n cña c«ng d©n, xâm phạm đến trật tự an toàn xã hội. Bị cáo T là đối tượng có nhân thân xấu đã bị xử phạt tù về hành vi trộm cắp tài sản, cướp giật tài sản nhưng khi ra trại bị cáo không chịu khó làm ăn lương thiện mà lại tiếp tục lợi dụng sự sơ hở của người có tài sản để trộm cắp lấy tiền ăn tiêu bất chấp pháp luật nên đối với bị cáo phải xử lý nghiêm, cách ly ra khỏi xã hội một thời gian để giáo dục riêng và phòng ngừa chung cho xã hội.

Khi lượng hình phạt cũng xét bị cáo đã khai báo thành khẩn về hành vi phạm tội của mình nên được hưởng tình tiết giảm nhẹ theo quy định tại điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật hình sự.

Về h×nh ph¹t bæ sung: Các tài liệu có trong hồ sơ cho thấy bÞ c¸o Tiến kh«ng cã nghÒ nghiÖp ổn định, kinh tế khó khăn nên Hội đồng xét xử miễn áp dụng hình phạt bổ sung ph¹t tiÒn đối với bÞ c¸o.

Trách nhiệm dân sự trong vụ án: Bị hại là anh Trần Văn T và anh Vũ Tiến B đã nhận lại tài sản bị trộm cắp, không có yêu cầu bồi thường dân sự nên không đặt ra xem xét.

Vật chứng của vụ án hiện Chi cục Thi hành án dân sự quận Nam Từ Liêm đang quản lý là : 01 cờ lê 200 mm; 01 đầu tròng 17-19; 01 cờ lê đầu tròng 13; 01 kìm màu vàng. Đây là công cụ phạm tội không có giá trị sử dụng nên cần tuyên tịch thu tiêu hủy theo quy định tại khoản 2 Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự.

Về án phí hình sự sơ thẩm bị cáo T phải nộp theo quy định tại khoản 2 điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự và Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngµy 30/12/2016 Quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí lệ phí Tòa án.

Về kháng cáo: BÞ c¸o, bị hại có quyền kháng cáo theo quy định tại Điều 331, Điều 333 Bộ luật Tố tụng hình sự.

V× c¸c lÏ trªn,

quyÕt ®Þnh :

Áp dụng: Khoản 1 Điều 173, Điều 38; điểm s khoản 1 Điều 51 của Bộ luật hình sự. Khoản 2 Điều 106, Khoản 2 Điều 136, Điều 331, Điều 333, Điều 337 của Bé luËt Tè tông h×nh sù; Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngµy 30/12/2016 Quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí lệ phí Tòa án.

Tuyên bố bị cáo Chu Văn T phạm tội “trộm cắp tài sản”.

Xử phạt bị cáo Chu Văn T 15 (mười lăm) tháng tù, thời hạn tù tính từ ngày 23/03/2023.

Vật chứng: Tich thu tiêu hủy 01 cờ lê 200 mm; 01 đầu tròng 17-19; 01 cờ lê đầu tròng 13; 01 kìm màu vàng hiện Chi cục Thi hành án dân sự quận Nam Từ Liêm đang quản lý theo biên bản bàn giao vật chứng số 196 ngày 7/6/2023.

Bị cáo Chu Văn T phải nộp 200.000 đồng (hai trăm nghìn đồng) án phí hình sự sơ thẩm.

Bị cáo có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án. Bị hại vắng mặt tại phiên tòa cã quyÒn kh¸ng c¸o b¶n ¸n trong h¹n 15 ngµy kÓ tõ ngµy bản án được tống đạt hợp lệ.

Cỡ chữ